

Đáp lời: Ông Bần Tăng Ăn Mày Thế Kỷ (Huệ Nhật)
|
I.
Từ ngữ tín ngưỡng đến
cái tên.
Bài viết
của ông Bần Tăng Ăn Mày Thế Kỷ
mở đầu bằng một đề nghị: ông
muốn xóa bỏ cái tên Huệ Nhật để
tỏ ra một sự “tế nhị” trong tinh
thần Phật Giáo. Những từ ngữ của ông
nghe rất “cao siêu”, rất kêu và cũng rất
rắc rối, dễ làm phân tâm người lơ tơ
mơ. Đây là thói quen thông thường đầy
“tri kiến biện thông” của những nhà
phật học “uyên bác”. Ông đề
cập đến “1250 vị chứng quả Vô
Sanh, những vị nghiêm tŕ Giới Luật, 4 Thánh
quả, Vua Diêm Vương… Ông biết họ
từ bao giờ? Ông biết chắc và có kinh
nghiệm về họ, hay là ông chỉ tin ?
Tôi xin ghi thêm một số từ ngữ Phật
Học mà ông quen: “Chơn Không Diệu Hữu, Pháp
Phương Tiện, Bát Nhă, Kim Cang, vô ngôn, tịch
tịnh, bất khả tư nghị, bất khả
thuyết, pháp nhĩ như thị, giác ngộ tức
phi giác ngộ, phi giác ngộ tức giác ngộ,
sắc tức thị không, không tức thị sắc,
dâm pḥng tửu điếm vô phi thanh tịnh đạo
tràng, nhất niệm sân tâm khởi năng thiêu thiên
vạn công đức chi lâm, ưng vô sở trú nhi
sanh kỳ tâm, Phật tức tâm - tâm tức Phật,
nhất thiết duy tâm tạo, vô sở vô năng, vô
ngă, vô thường, mê nhất kiếp ngộ
nhất th́, hồi đầu thị ngạn, hốt
nhiên đắc quả, thị kiến bổn lai
diện mục, tam thiên đại thiên thế
giới, tội tánh bổn không, đốn giáo,
tiệm giáo, mạn đà la hoa, duy tệ thị
nghiệp…Những từ ngữ nầy làm lóa
mắt người yếu bóng vía. Theo Bát Nhă Tâm Kinh
th́: “Bần tức thị cao siêu, cao siêu tức
thị Bần, bất cấu bất tịnh, bất tăng
bất giảm thị cố không trung. Vô sắc, vô
thọ, tưởng, hành, thức, vô nhăn, nhĩ,
tỷ, thiệt, thân, ư… Vô vô minh diệc vô vô minh
tận...” Thưa ông Bần Tăng Ăn Mày Thế Kỷ, Nếu không
tiếp nhận Ơn Cứu Rỗi trong Chúa Jesus
Christ, tôi không làm sao ra khỏi những từ nghữ
“cao siêu” ấy được. Dù giáo lư Phật Giáo
chỉ là phương tiện, nhưng khi đă
loại bỏ cái phương tiện ấy mà không
tiếp nhận Ơn Cứu Rỗi của Đức
Chúa Trời - Thượng Đế, và nếu không
học Lời Thiên Chúa thật ḷng, th́ không có cách nào
để tự ḿnh thoát khỏi cái rừng ḅng bong
ngôn ngữ ấy đâu. Suốt những ngàn năm,
người phật tử đă ghi tâm khắc
cốt là “nhất thiết duy tâm tạo”,
nhất thiết thế gian pháp giai vi Phật pháp. Nhưng
có ai thật sự đạt tới chơn-không-diệu-hữu
rồi, th́ phải im lặng như Đức Thế
Tôn sau 49 năm đă giảng, v́ bao lâu c̣n thuyết
giảng, bấy lâu c̣n sáng tác phương tiện và
c̣n bám chặt vào phương tiện. Ông Bần Tăng
Ăn Mày Thế Kỷ có thấy hoạt cảnh
đạo tràng khi Đức Thế Tôn niêm hoa vi
tiếu khiến cả đạo tràng im lặng
khiến cho tiếng vo ve của ruồi muỗi trong vườn
Kỳ-thọ-cấp-cô-độc ŕ rầm vang
vọng không? Bây giờ xin
trở lại với cái tên Huệ Nhật hay là cái
tên Bần Tăng Ăn Mày Thế Kỷ. Chỉ cái tên
thôi cũng cho chúng ta thấy đôi nét về con người.
Tên tôi c̣n mùi tương chao. Tên ông ngân nga nhạc
khí khiêm nhường rỏng rẻng. Tên tôi đă
bị ghi vào giấy khai sanh. Tên ông th́ đă thành
danh lừng lẫy. Thế gian coi mặt đặt tên,
ăn mày thế kỷ lền khên bần cùng, bần
cùng rất khác bần tăng, bần tăng ấm gối êm chăn kín pḥng... Nhưng Thánh Kinh
cho biết rằng: dù chúng ta tin có Thượng Đế
hay tin không có Thượng Đế, th́ Thượng
Đế vẫn hiện hữu từ trước vô
cùng và đến đời đời như Lời
Ngài phán đă được ghi trong Thánh Kinh: “Ta
là Đấng Tự Hữu Hằng Hữu“. (Xuất
hành 3:14). Phật Giáo cho
rằng không có ai tạo ra vạn vật cả,
tất cả đều do nhân duyên kết hợp.
Đây là lư lẽ của niềm tin, không phải
chứng nghiệm thực tế. Thực tế
của vạn vật th́ mênh mông vô tận mà sự
hiểu biết của con người th́ quá nhỏ
nhoi. Rất nhiều điều hiển nhiên mắt
trần thấy được, nhưng suốt hàng ngàn
năm nhân loại vẫn chưa hiểu. Ví dụ con
gà có trước hay cái trứng có trước (?).
Vạn vật hiện hữu vượt xa ngoài tri năng
của nhân loại. Tri thức nhân loại không đủ
để hiểu thấu hết vạn vật, th́ làm
sao nhân loại biết rơ Thượng Đế, là
Đấng dựng nên vạn vạn vật ? Chính v́
thế, Thượng Đế mặc khải Ngài qua
thiên nhiên, qua Lời Tiên Tri, bằng sự giáng sanh
của Chúa Cứu Thế, bằng phép lạ và
với lương tâm trong con người. Trí khôn mà
Ngài đă dựng nên trong chúng ta thật là ăn
khớp với bên trong và cả bên ngoài con người
chúng ta. Có người nói “tôi không thấy Thượng
Đế nên tôi không tin có Thượng Đế”.
Nhưng Chúa Jesus Christ nói “Phước cho những
người không thấy mà tin.” (John 20:29b). Chúng ta không
tự tạo cho ḿnh những tự do, lương tâm,
trí tuệ, ư chí, lư trí, t́nh cảm, thân thể, nhưng
chúng ta có tự do vận dụng luyện tập, phát
huy các khả năng có sẵn ấy trong chúng ta để
thêm sức khỏe, học thức, nhân đức,
nhịn nhục, ḷng tin kính, t́nh yêu thương, khôn
ngoan, tài năng một cách có giới hạn. Mặc
dù sự khôn ngoan và tài năng của chúng ta có
giới hạn, nhưng chúng ta vẫn tin rằng nhất
thiết duy tâm tạo để chối bỏ Thượng
Đế - Đấng Sáng Tạo. Ngày nay tôi cho
rằng ư tưởng cho rằng linh hồn, lương
tâm, thân thể con người và cả vạn
vật đều do nhân duyên sanh, chứ không do Thượng
Đế nào sanh ra cả là một ư tưởng ngông
cuồng. Theo niềm tin Phật Giáo của ông, th́ duyên
nào khởi với duyên nào để sinh ra ông? Xin
trả lời và chứng minh cụ thể, v́ đây
là ông giải thích về ông chứ không ai khác. Ông
đă thành Phật chưa? Nếu ông đă thành
Phật hay chưa, tôi cũng biết ông c̣n sát sanh
trong miệng và dưới bàn chân mỗi ngày.
Phải chăng những con vật do chân ông sát
hại đều được giải thoát tức
khắc nhờ ông đọc câu “nguyện nhữ
tức thời sanh tịnh độ”, hoặc chúng
vẫn sống nhờ ông đọc: “nhược
bất tŕ thử chú như thực chúng sanh nhục?”
Bao nhiêu lần ông đă quên đọc câu kinh ấy?
Ông tin “nhất thiết duy tâm tạo”, thế
th́ tâm của ông ở đâu khi ông chưa ra đời?
Hẳn ông đă biết
rằng vạn vật vốn đă được
dựng nên trước khi ông và cha mẹ ông ra đời.
Nhưng khi chưa ra đời, ông đă có cái tâm và
cái trí vô thủy vô chung rồi phải không? Nếu nhân duyên là
một quy luật, th́ ai
đă làm ra quy luật nhân
duyên cho ông nhờ nhân duyên mà quan sát, suy luận và
tin? Niền tin Phật Giáo của ông là do tâm ông
kết hợp với nhân duyên, hay nhân duyên kết
hợp với tâm của ông? Sau khi Đức Thích Ca
tu thành Phật th́ c̣n thêm bao nhiêu người có nhân
duyên tu thành Phật nữa? Phật Giáo có kinh
Thập Thiện Nghiệp Đạo. Kinh nầy
dạy rằng nghêu ṣ ốc hến, tôm cua đều
thành Phật. Phật hiện thành nghêu ṣ ốc
hến để giảng đạo dưới
thủy cung! Ông đă học kinh Thập Thiện
Nghiệp Đạo chưa? Ông tin kinh Thập
Thiện Nghiệp Đạo không? II. Trí tuệ và đạo lư. Tại sao trâu ḅ
ăn chay mà không được xem là đạo đức
hơn người; dù ḷng người rất gian ác hơn
bản năng trâu ḅ? Phật Giáo dạy rằng
bất cứ một con vật nào, dù ăn cỏ hay
ăn thịt nhưng có tu th́ sẽ thành Phật, ông
tin giáo lư nầy không? Phật Giáo cho rằng vạn
vật do nhân duyên sanh nên vô thường, vô ngă, không
có mục đích, không có khởi đầu, không có
kết cuộc; nghĩa là vô thủy vô chung. Vậy,
nhân loại nhờ nhân duyên mới có trí tuệ, hay
nhân loại tự tạo ra trí tuệ cho ḿnh để
t́m ra “lư nhân duyên”? Nhân nào duyên với nhân nào
để sinh ra trí tuệ con người? Bởi duyên
nào mà con gà mới lọt ra khỏi trứng 5 phút là
biết đi để rồi trọn đời
chỉ là con gà cục tác? Nhờ nhân duyên nào mà con
người ra khỏi ḷng mẹ cả năm vẫn
chưa tự túc sống nên vẫn lệ thuộc vào
sự nuôi nấng, nhưng lớn lên th́ khôn sáng hơn
con gà, và càng sống càng tiến bộ càng có lương
tâm, có tội lỗi, có đạo đức khác
hẳn mọi vật? Căn cứ vào lư nhân duyên
của Phật Giáo, tôi cho rằng Phật Giáo là vô
thần. Ông giải thích dùm là Phật Giáo hữu
thần hay vô thần? Thánh Kinh cho
biết rằng Đức Chúa Trời dựng nên con
người giống như h́nh ảnh của Ngài. Ngài
dựng nên vạn vật như thế, th́ quả có
như thế. Thánh Kinh nói Đức Chúa Trời là
Thần, Ngài đặt thần thiêng liêng vào con người
nên con người mang bản tính thiêng liêng của
Đức Chúa Trời. Thánh Kinh nói: “Kẻ ngu
dại nói trong ḷng rằng: chẳng có Đức Chúa
Trời. Chúng nó đều bại hoại, đă làm
những việc gớm ghiếc. Chẳng có ai làm
điều lành.” (Thánh thi 14:1). Nói về tội
lỗi, nghiệp báo, phước báo, th́ phải tin
rằng có Đấng Tối Thượng công minh
xử đoán điều lành điều dữ theo
mắt của Ngài. Phật Giáo không tin có Đấng
Tối Thượng toàn năng công b́nh xét đoán, nên
Phật Giáo không có giáo lư tha tội. Nhưng Phật
Giáo tin có rất nhiều địa ngục và
phật tử đọc thần chú diệt tội
để khỏi bị vào địa ngục. Ai c̣n
sống mà không biết đọc thần chú, không
biết tu th́ sau khi chết, nhờ thân nhân mời các
tu sỹ đọc kinh, đọc thần chú diệt
tội để cầu siêu. Xin hỏi ông, khi ông đọc kinh sám
hối th́ ai tha tội cho ông? Ông có tin rằng đọc
thần chú “Thất Phật diệt tội” là
hết sạch tội như Phật Giáo dạy không? Theo Thánh Kinh,
tội lỗi phải bị xét đoán bởi Thượng
Đế - Đấng Toàn Năng, thánh khiết, công
b́nh tuyệt đối; đó là Đấng Tạo Hóa,
là Thiên Chúa. Kinh nghiệm đức tin trong Thiên Chúa
cho tôi thấy rằng, khi đă thật ḷng ăn năn
tội để tiếp nhận ơn tha thứ
của Đấng Tạo Hóa, tôi được Ngài
tha tội và tôi thoát khỏi sự cai trị của
tội lỗi, và được mặc lại H́nh
Ảnh của Thiên Chúa - Đấng Tạo Hóa, nghĩa
là được tái sinh. H́nh Ảnh mầu nhiệm
của Thiên Chúa tái sinh trong ḷng tin và lớn lên
từng ngày để thêm năng lực cho tôi làm
việc lành, tránh việc ác. Đây là bằng
chứng về sự sống đời đời cho
tôi sau khi hồn tôi ĺa khỏi xác. Tôi sung sướng
hạnh phúc vô cùng với bằng chứng nầy. Bởi kinh
nghiệm của sự tin quyết nói trên, tôi yêu ông
và biết ông là người có tội với
Trời, cần phải ăn năn để
được tha thứ, được đổi
mới, được mở mắt ḷng thiêng liêng
để gặp Đấng Tạo Hóa của ḿnh. Ngài
đă hiện ra theo kỳ hẹn trong thời kỳ
cuối rốt nầy, tức là Đức Chúa Jesus
Christ, là Đức Chúa Trời Ngôi Hai. Ngài đến
thế gian để đền tội cho chúng ta.
Mỗi cá nhân chúng ta cần nhận biết sự
khốn nạn của tội lỗi của ḿnh, để
mở ḷng tiếp nhận hồng ân cứu rỗi
bởi ân điển của Ngài. Ngài mở cái
xiềng tội lỗi cho chúng ta được
tự do làm lành theo thánh ư, năng lực và sự
dẫn dắt của Ngài. Ông ghi tham khảo
Thánh Kinh trong hai sách; Phục truyền 13 và Ê-sai 13, nhưng
ông đâu có hiểu rằng hai chương kinh
nầy ghi lời cáo trách tội lỗi đáng
bị trừng phạt để kêu gọi tội nhân
đem ḷng ăn năn hầu nhận ơn tha thứ
và được giải phóng ra khỏi tội
lỗi. Lời Thiên Chúa
được chép trong Thánh Kinh như sau: “V́
Đức Chúa Trời yêu thương thế gian
đến nỗi đă ban Con Một của Ngài,
hầu cho hễ ai tin Con Người ấy, th́ không
bị hư mất mà được sự
sống đời đời“ (John 3:16);“V́ chính
Chúa nắn nên tâm thần tôi và dệt thành tôi trong
ḷng mẹ tôi. Tôi cảm tạ Chúa v́ tôi được
dựng nên cách đáng sợ lạ lùng. Công việc
Chúa thật lạ lùng, ḷng tôi biết rơ lắm.
Mắt Chúa đă thấy thể chất vô h́nh
của tôi; số các ngày định cho tôi, đă biên
vào sổ Chúa trước khi chưa có một ngày
trong các ngày ấy“(Thánh thi 139:13-14…16) Thánh Kinh được
khởi chép thành văn tự hơn hai ngàn năm trước
khi Vua Tịnh Phạn và Hoàng Hậu Magia sinh ra Thái
Tử Tất Đạt Đa. Thánh Kinh hoàn tất sau
khi Chúa Jesus Christ giáng sanh và làm trọn sự chết
của Ngài trên thập tự giá để đền
tội cho nhân loại, rồi Ngài Phục Sinh, lập
ra Hội Thánh, giảng Tin Mừng về Ơn Cứu
Độ tràn lan ra khắp thế giới. III.
Kinh điển và cái nh́n của con người qua
kinh điển. Trước khi thành
Phật, Thái Tử Tất Đạt Đa vốn là
một tín đồ Ấn Giáo. Ấn Giáo dạy
rằng “Nhất thiết chúng sanh giai hữu
thần tánh“ hay “Mỗi tạo vật là
một vị thần“. Sau khi thành đạo,
Đức Phật đem một số giáo lư Ấn
Giáo vào trong Phật Giáo. Giáo lư Luân Hồi Nhân
Quả xuất phát từ niềm tin lâu đời
của Ấn Giáo cả ngàn năm trước khi
Đức Thích Ca ra đời. Cho đến ngày nay
chiếc áo Ca-sa mầu vàng của tu sỹ Ấn Giáo
và Phật Giáo tại Ấn Độ rất
giống nhau (trừ Phật Giáo Trung Hoa và Phật Giáo
Nhật Bản có nhiều cải biến cho phù
hợp với văn hóa của họ). Nhưng
nếu chưa nghiên cứu Ấn Giáo để so sánh
với Phật Giáo, th́ làm sao ông tin nổi điều
tôi viết ra đây? Khoảng 2500 năm
trước khi Đức Thích Ca ra đời tại
Ấn Độ, Thánh Kinh Cựu Ước đă
được các Ngôn Sứ và Moise ghi chép về công việc của
Đức Chúa Trời sáng tạo hoàn vũ, sáng
tạo muôn vật trên hành tinh chúng ta và sáng tạo
con người. Đặc biệt con người
được Đức Chúa Trời sáng tạo
giống như H́nh Ảnh của Đức Chúa
Trời. Ngài hà hơi thiêng liêng vào thân thể con người
nên con người là loài thiêng liêng duy nhất trong muôn
loài (Sáng Thế 1:26-28). Khoảng hơn 2200 năm
sau Moise, ứng với Thánh Kinh Cựu Ước,
Khổng Tử dạy rằng “Thiên sinh vạn
vật duy nhân tối linh“. Khổng Tử và văn
hóa Trung Hoa cổ đại cũng tin rằng Đấng
Tạo Hóa công minh có năng quyền tuyệt đối
nên đă viết “Thiên vơng khôi khôi sơ nhi
bất lậu“. Tôi tin chắc ông
Bần Tăng Ăn Mày Thế Kỷ cũng là
một người được mang h́nh ảnh
Đấng Tạo Hóa như tôi. Dù ông hiểu hay không
hiểu, dù ông tin hay không tin, Thánh Kinh vẫn dạy
rằng mỗi con người được sinh ra
đều mang h́nh ảnh Đấng Tạo Hóa như
nhau. Loài vật không có h́nh ảnh thiêng liêng nầy.
Thánh Kinh ghi rằng sau khi hoàn tất sáng tạo
vạn vật, Đấng Tạo Hóa dựng nên loài
người. Ngài hà hơi thiêng liêng vào loài người
để loài người có h́nh ảnh thiêng liêng
của Ngài. V́ thế mà loài người là loài thiêng
liêng và có linh hồn sống vĩnh cửu. Vậy,
tin rằng loài người là loài duy nhất
được mang h́nh ảnh của Đấng
Tạo Hóa, là niềm tin đúng với Lời
dạy của Thánh Kinh, đúng với lương tâm
tôi lắm. Niềm tin nầy do Thánh kinh soi dẫn nên
được gọi là đức tin. Đức tin
nầy khiến ḷng tôi yêu quư ông, và quyết
chắc rằng chúng ta là anh em; và loài người vượt
lên trên loài vật rất xa. Loài người không bao giờ đầu
thai thành loài thú như Ấn Giáo và Phật Giáo đă
dạy. Ngay vào những
trang đầu, Thánh Kinh đă chép: “Đức Chúa
Trời phán loài nào sinh giống nấy tùy theo
loại; th́ có như vậy.“ (Sáng Thế 1:
24-25). Nhưng v́ đă phạm tội nên loài người
bị thiếu mất h́nh ảnh vinh quang của Đức
Chúa Trời (Roma 3:23). V́ thế Ngài ban Chúa Jesus Christ
xuống thế để chịu chết đền
tội cho nhân loại. Ai tiếp nhận Ơn Cứu
Chuộc trong Chúa Jesus Christ th́ người ấy
được Ngài ban lại h́nh ảnh thiêng liêng,
tức là Đức Thánh Linh. Khi tin rằng
tất cả chúng sanh đều có Phật Tánh như
nhau, tin như vậy là đồng hóa loài người
với loài vật. Đức Phật đưa ra
giới cấm sát sanh, nhưng chính Đức
Phật ngày xưa cũng như ông ngày nay, không
hề giữ được giới cấm sát sanh. Ông
có biết tại sao Đức Phật không giữ
được giới sát sanh do Ngài lập ra không?
Ấn Giáo hay Phật Giáo đều phát xuất
từ sự hiểu biết của con người, v́
thế vẫn c̣n nhiều sai sót phải sửa đi
sửa lại hoài. Nhưng Đấng Tạo Hóa
dựng nên vạn vật và nhân loại, Ngài là Đấng
toàn năng, bất biến. Cảm tạ Đấng
Tạo Hóa v́ Ngài đă dựng nên vạn vạt
rất toàn hảo, trong đó có ông và có tôi. Đức Chúa
Trời là Đấng Tự Hữu Hàng Hữu, là
Đấng dựng nên vũ trụ, muôn loài và
cả nhân loại. Ngài là Đấng thiêng liêng,
tuyệt đối toàn tri, toàn năng, toàn tại. Ngài
ban Lời mặc khải vào tâm trí các Đấng Tiên
Tri để họ chép thành Thánh Kinh. Toàn bộ Thánh
Kinh được chép suốt 2600 năm cho đến
khi hoàn tất, gồm có 39 thánh nhân khác nhau ghi chép
bằng năng quyền thần hựu duy nhất
từ Đức Chúa Trời. Thánh Kinh được
tồn tại một cách mầu nhiệm, c̣n
được lưu giữ hàng ngàn cổ bản và
nội dung không bị mâu thuẫn như vô số Kinh
Phật. Kinh Phật được chép ra sau Kinh Thánh
khoảng hơn ba ngàn năm. Chưa có quyển sách nào
cổ hơn Thánh Kinh. Tất cả các Giáo Hội thờ Đức Chúa
Trời đều có đức tin của Thánh Kinh.
Niềm tin ngoài Thánh Kinh không đúng với đức
tin mà Đức Chúa Trời ban cho nhân loại. Đức Chúa Trời dựng nên hoàn vũ, vạn
vật và nhân loại, nên tôi tin rằng Lời Ngài mô
tả sự sáng tạo và diễn tiến lịch
sử cùng các Lời Tiên Tri đúng với sự
thật và lịch sử, đáng tin cậy tuyệt
đối, không ai đủ khả năng bài bác Thánh
Kinh. Thánh Thi 14:1 đă nói mạnh mẽ rẳng “Kẻ
vô tín là ngu dại“. Thánh Kinh viết
đầy đủ nhưng không quá nhiều để
loài người đọc và hiểu được
hầu đem ḷng tin tiếp nhận Đức Tin. Đức tin khác với ḷng tin và
niềm tin. Ḷng tin đă được dựng nên
trong con người. Niềm tin là những ǵ con người
tin theo ư niệm, tŕnh độ hiểu biết và ư
thích của ḿnh. Đức tin là sự mặc
khải của Đức Chúa Trời bởi ân điển
Thánh Linh để người tin biết chắc
những ǵ mắt chưa thấy, tri thức chưa
nắm được. Thật là
mầu nhiệm! Đức tin sống là đức
tin thể hiện sự hiện hữu của Đức
Chúa Trời trong tâm hồn, thân thể, tâm trí, t́nh
cảm, hành vi giữa thế gian nầy đúng như
Thánh Kinh mô tả. Ma quỷ cũng tin có Đức Chúa
Trời, nhưng ma quỷ không sống với sự
hiện hữu của Đức Chúa Trời và không
muốn làm theo thánh ư Ngài, mà chỉ lừa dối.
Nếu thật ḷng quỳ xuống, ông sẽ nhận
được đức tin. V́ ḷng ông có chỗ
để đức tin bước vào, tiếc thay ông
chưa muốn! Kinh Phật không có
nguyên bản. Năm trăm năm sau khi Đức Thích
Ca viên tịch, các tu sỹ mới bắt đầu
ghi lại Kinh Phật theo kư ức truyền khẩu, v́
thế có quá nhiều kinh bị thêm bớt vào gây ra
sự mâu thuẫn, trái ngược nhau. Ngày nay, câu
mở đầu của Bần Tăng Ăn Mày
Thế Kỷ cũng đă thêm một cách ngang xương
vào Kinh Phật: ”Phật Giáo không phủ nhận có Thượng Đế“. Đức
Phật không phải là Đấng Tạo Hóa mà là
một tạo vật, một người được
sinh ra bằng xác thịt như mọi người: “Phật
là chúng sinh đă thành…“Dù đă thành Phật,
th́ vẫn là một tạo vật chứ không
phải là Đấng Tạo Hóa. Thành Phật là ǵ,
anh định nghĩa cách nào cho đúng? Kinh Phật
dạy: “khi c̣n gọi là thành Phật là không
phải là Phật. Phải nói là không thành Phật th́
mới thành Phật“. Ông có nhớ kinh nào dạy
câu nầy không? Vậy tôi tin và
thờ Đấng Tạo Hóa, chứ không thờ loài
thọ tạo, dù người ấy có thông minh đến
mấy cũng có tội lỗi và c̣n khuyết điểm
cũng như phải chết như chúng tôi để
bị xét đoán theo quyền năng của Đấng
Tạo Hóa. Thánh Kinh dạy: ”Ngày nay không c̣n
sự đoán phạt nào cho những kẻ ở trong
Chúa Jesus Christ“ v́ Chúa Jesus Christ đă gánh chịu
sự đoán phạt cho họ. Huệ Nhật xin
chào ông Bần Tăng Ăn Mày Thế Kỷ và
sẵn sàng đón đọc ư kiến của ông. Mong có ngày hội
ngộ trong t́nh yêu Chúa Cứu Thế Jesus Christ. Nguyễn
Huệ Nhật
|





Diễn Đàn Giáo Dân xin quí vị thêm lời cầu nguyện cho Việt Nam:
có công lư và hoà b́nh, có dân chủ và tự do,
không c̣n bất công và gian dối.