Đáp lời: Ông Bần Tăng Ăn Mày Thế Kỷ (Huệ Nhật)

 

 

I. Từ ngữ tín ngưỡng đến cái tên.

 

   Bài viết của ông Bần Tăng Ăn Mày Thế Kỷ mở đầu bằng một đề nghị: ông muốn xóa bỏ cái tên Huệ Nhật để tỏ ra một sự “tế nhị” trong tinh thần Phật Giáo. Những từ ngữ của ông nghe rất “cao siêu”, rất kêu và cũng rất rắc rối, dễ làm phân tâm người lơ tơ mơ. Đây là thói quen thông thường đầy “tri kiến biện thông” của những nhà phật học “uyên bác”.

   Ông đề cập đến “1250 vị chứng quả Vô Sanh, những vị nghiêm tŕ Giới Luật, 4 Thánh quả, Vua Diêm Vương… Ông biết họ từ bao giờ? Ông biết chắc và có kinh nghiệm về họ, hay là ông chỉ tin ?  Tôi xin ghi thêm một số từ ngữ Phật Học mà ông quen: “Chơn Không Diệu Hữu, Pháp Phương Tiện, Bát Nhă, Kim Cang, vô ngôn, tịch tịnh, bất khả tư nghị, bất khả thuyết, pháp nhĩ như thị, giác ngộ tức phi giác ngộ, phi giác ngộ tức giác ngộ, sắc tức thị không, không tức thị sắc, dâm pḥng tửu điếm vô phi thanh tịnh đạo tràng, nhất niệm sân tâm khởi năng thiêu thiên vạn công đức chi lâm, ưng vô sở trú nhi sanh kỳ tâm, Phật tức tâm - tâm tức Phật, nhất thiết duy tâm tạo, vô sở vô năng, vô ngă, vô thường, mê nhất kiếp ngộ nhất th́, hồi đầu thị ngạn, hốt nhiên đắc quả, thị kiến bổn lai diện mục, tam thiên đại thiên thế giới, tội tánh bổn không, đốn giáo, tiệm giáo, mạn đà la hoa, duy tệ thị nghiệp…Những từ ngữ nầy làm lóa mắt người yếu bóng vía. Theo Bát Nhă Tâm Kinh th́: “Bần tức thị cao siêu, cao siêu tức thị Bần, bất cấu bất tịnh, bất tăng bất giảm thị cố không trung. Vô sắc, vô thọ, tưởng, hành, thức, vô nhăn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ư… Vô vô minh diệc vô vô minh tận...”

 

Thưa ông Bần Tăng Ăn Mày Thế Kỷ,

   Nếu không tiếp nhận Ơn Cứu Rỗi trong Chúa Jesus Christ, tôi không làm sao ra khỏi những từ nghữ “cao siêu” ấy được. Dù giáo lư Phật Giáo chỉ là phương tiện, nhưng khi đă loại bỏ cái phương tiện ấy mà không tiếp nhận Ơn Cứu Rỗi của Đức Chúa Trời - Thượng Đế, và nếu không học Lời Thiên Chúa thật ḷng, th́ không có cách nào để tự ḿnh thoát khỏi cái rừng ḅng bong ngôn ngữ ấy đâu. Suốt những ngàn năm, người phật tử đă ghi tâm khắc cốt là “nhất thiết duy tâm tạo”, nhất thiết thế gian pháp giai vi Phật pháp. Nhưng có ai thật sự đạt tới chơn-không-diệu-hữu rồi, th́ phải im lặng như Đức Thế Tôn sau 49 năm đă giảng, v́ bao lâu c̣n thuyết giảng, bấy lâu c̣n sáng tác phương tiện và c̣n bám chặt vào phương tiện. Ông Bần Tăng Ăn Mày Thế Kỷ có thấy hoạt cảnh đạo tràng khi Đức Thế Tôn niêm hoa vi tiếu khiến cả đạo tràng im lặng khiến cho tiếng vo ve của ruồi muỗi trong vườn Kỳ-thọ-cấp-cô-độc ŕ rầm vang vọng không?

   Bây giờ xin trở lại với cái tên Huệ Nhật hay là cái tên Bần Tăng Ăn Mày Thế Kỷ. Chỉ cái tên thôi cũng cho chúng ta thấy đôi nét về con người. Tên tôi c̣n mùi tương chao. Tên ông ngân nga nhạc khí khiêm nhường rỏng rẻng. Tên tôi đă bị ghi vào giấy khai sanh. Tên ông th́ đă thành danh lừng lẫy. Thế gian coi mặt đặt tên, ăn mày thế kỷ lền khên bần cùng, bần cùng rất khác bần tăng, bần tăng ấm gối êm chăn kín pḥng...  

  Bởi hết ḷng học đạo, tôi ngộ được chân lư nầy: "Càng tu càng phạm tội. Càng vô ngă càng ngă. Càng diệt dục càng dục. Càng khiêm nhường càng thèm được tôn kính. Càng diệt ái dục càng thèm yêu. Càng loại tri-kiến càng thêm kiên-trí. Càng phá chấp càng chấp phá. Càng muốn thành Phật càng không thành Phật. Càng nói không càng thêm có. Càng gặp khó càng thêm công. Càng bới lông càng thấy vết. Càng liên kết càng chia ly. Càng vô tri càng bất ngộ. Càng làm bộ càng giả h́nh."

    Như ông đă viết: ”Phật Giáo không phủ nhận có Thượng Đế, nhưng chỉ không công nhận một Thượng Đế có quyền năng tạo dựng ra Trời Đất và vạn vật, bởi v́ đă tạo ra được sao không giữ như vậy được, chưa nói là nếu toàn năng th́ tại sao nắn con người khác nhau, kẻ cao người thấp, kẻ xấu người đẹp, kẻ trí người ngu, hay nói một cách hay hơn là sao không tạo cho mọi người cùng thương yêu nhau, mà lại thường trái nghịch lẫn nhau, ngay cả các loài vật cũng cấu xé ăn thịt uống máu lẫn nhau. Phải chăng Thượng Đế không khéo tay, khéo tâm, nên con một của Ngài là Jesus cũng bị những kẻ xưng danh Thượng Đế tạo ra họ rồi giết chết vị Bồ Tát trên cây Thập Tự Giá. Như vậy th́ tư tưởng cho là có một Thượng Đế quyền năng tạo ra Trời Đất và vạn vật, là do Thượng Đế tuyên bố hay con người có quyền lực, khôn ngoan hơn, dựng lên một Thượng Đế để hù dọa nhằm cai trị loài người. “Good New Bible: ISAIAH 13. to 13.3 and DEUTERONOMY 13 to 13.16”.

  Phật Giáo tin không có Thượng Đế, nhưng ông gán ghép niềm tin có Thượng Đế cho Phật Giáo, đồng thời ông phủ nhận Thượng Đế chỉ v́ ”…nếu toàn năng th́ tại sao nắn con người khác nhau, kẻ cao người thấp, kẻ xấu người đẹp, kẻ trí người ngu,… không tạo cho mọi người cùng thương yêu nhau, mà lại thường trái nghịch lẫn nhau, ngay cả các loài vật cũng cấu xé ăn thịt uống máu lẫn nhau”. Cũng lư lẽ như ông, có người bảo rằng: ”nếu có Thượng Đế toàn năng th́ sao Ngài dựng nên mặt trăng nhỏ hơn quả địa cầu, và địa cầu nhỏ hơn mặt trời; c̣n các ngôi sao th́ xa địa cầu hơn cả mặt trăng, vậy là không có Thượng Đế. Vạn vật chỉ do nhân duyên kết hợp”. Theo ư ông, nếu có Thượng Đế th́ muôn vật phải được Ngài sáng tạo đúng như ư tưởng của ông, nghĩa là ai ai cũng giống nhau để không có ǵ tranh phải chấp với nhau cả. Hễ con người c̣n tham lam, đánh lộn là không có Thượng Đế. Đích thị ư của ông!

   Nhưng Thánh Kinh cho biết rằng: dù chúng ta tin có Thượng Đế hay tin không có Thượng Đế, th́ Thượng Đế vẫn hiện hữu từ trước vô cùng và đến đời đời như Lời Ngài phán đă được ghi trong Thánh Kinh: “Ta là Đấng Tự Hữu Hằng Hữu“. (Xuất hành 3:14).

   Phật Giáo cho rằng không có ai tạo ra vạn vật cả, tất cả đều do nhân duyên kết hợp. Đây là lư lẽ của niềm tin, không phải chứng nghiệm thực tế. Thực tế của vạn vật th́ mênh mông vô tận mà sự hiểu biết của con người th́ quá nhỏ nhoi. Rất nhiều điều hiển nhiên mắt trần thấy được, nhưng suốt hàng ngàn năm nhân loại vẫn chưa hiểu. Ví dụ con gà có trước hay cái trứng có trước (?). Vạn vật hiện hữu vượt xa ngoài tri năng của nhân loại. Tri thức nhân loại không đủ để hiểu thấu hết vạn vật, th́ làm sao nhân loại biết rơ Thượng Đế, là Đấng dựng nên vạn vạn vật ? Chính v́ thế, Thượng Đế mặc khải Ngài qua thiên nhiên, qua Lời Tiên Tri, bằng sự giáng sanh của Chúa Cứu Thế, bằng phép lạ và với lương tâm trong con người. Trí khôn mà Ngài đă dựng nên trong chúng ta thật là ăn khớp với bên trong và cả bên ngoài con người chúng ta. Có người nói “tôi không thấy Thượng Đế nên tôi không tin có Thượng Đế”. Nhưng Chúa Jesus Christ nói “Phước cho những người không thấy mà tin.” (John 20:29b).

   Chúng ta không tự tạo cho ḿnh những tự do, lương tâm, trí tuệ, ư chí, lư trí, t́nh cảm, thân thể, nhưng chúng ta có tự do vận dụng luyện tập, phát huy các khả năng có sẵn ấy trong chúng ta để thêm sức khỏe, học thức, nhân đức, nhịn nhục, ḷng tin kính, t́nh yêu thương, khôn ngoan, tài năng một cách có giới hạn. Mặc dù sự khôn ngoan và tài năng của chúng ta có giới hạn, nhưng chúng ta vẫn tin rằng nhất thiết duy tâm tạo để chối bỏ Thượng Đế - Đấng Sáng Tạo. Ngày nay tôi cho rằng ư tưởng cho rằng linh hồn, lương tâm, thân thể con người và cả vạn vật đều do nhân duyên sanh, chứ không do Thượng Đế nào sanh ra cả là một ư tưởng ngông cuồng. Theo niềm tin Phật Giáo của ông, th́ duyên nào khởi với duyên nào để sinh ra ông? Xin trả lời và chứng minh cụ thể, v́ đây là ông giải thích về ông chứ không ai khác. Ông đă thành Phật chưa? Nếu ông đă thành Phật hay chưa, tôi cũng biết ông c̣n sát sanh trong miệng và dưới bàn chân mỗi ngày. Phải chăng những con vật do chân ông sát hại đều được giải thoát tức khắc nhờ ông đọc câu “nguyện nhữ tức thời sanh tịnh độ”, hoặc chúng vẫn sống nhờ ông đọc: “nhược bất tŕ thử chú như thực chúng sanh nhục?” Bao nhiêu lần ông đă quên đọc câu kinh ấy? Ông tin “nhất thiết duy tâm tạo”, thế th́ tâm của ông ở đâu khi ông chưa ra đời? Hẳn ông đă biết rằng vạn vật vốn đă được dựng nên trước khi ông và cha mẹ ông ra đời. Nhưng khi chưa ra đời, ông đă có cái tâm và cái trí vô thủy vô chung rồi phải không?

   Nếu nhân duyên là một quy luật, th́ ai đă làm ra quy luật nhân duyên cho ông nhờ nhân duyên mà quan sát, suy luận và tin? Niền tin Phật Giáo của ông là do tâm ông kết hợp với nhân duyên, hay nhân duyên kết hợp với tâm của ông? Sau khi Đức Thích Ca tu thành Phật th́ c̣n thêm bao nhiêu người có nhân duyên tu thành Phật nữa? Phật Giáo có kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo. Kinh nầy dạy rằng nghêu ṣ ốc hến, tôm cua đều thành Phật. Phật hiện thành nghêu ṣ ốc hến để giảng đạo dưới thủy cung! Ông đă học kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo chưa? Ông tin kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo không?

 

II. Trí tuệ và đạo lư. 

   Tại sao trâu ḅ ăn chay mà không được xem là đạo đức hơn người; dù ḷng người rất gian ác hơn bản năng trâu ḅ? Phật Giáo dạy rằng bất cứ một con vật nào, dù ăn cỏ hay ăn thịt nhưng có tu th́ sẽ thành Phật, ông tin giáo lư nầy không? Phật Giáo cho rằng vạn vật do nhân duyên sanh nên vô thường, vô ngă, không có mục đích, không có khởi đầu, không có kết cuộc; nghĩa là vô thủy vô chung. Vậy, nhân loại nhờ nhân duyên mới có trí tuệ, hay nhân loại tự tạo ra trí tuệ cho ḿnh để t́m ra “lư nhân duyên”? Nhân nào duyên với nhân nào để sinh ra trí tuệ con người? Bởi duyên nào mà con gà mới lọt ra khỏi trứng 5 phút là biết đi để rồi trọn đời chỉ là con gà cục tác? Nhờ nhân duyên nào mà con người ra khỏi ḷng mẹ cả năm vẫn chưa tự túc sống nên vẫn lệ thuộc vào sự nuôi nấng, nhưng lớn lên th́ khôn sáng hơn con gà, và càng sống càng tiến bộ càng có lương tâm, có tội lỗi, có đạo đức khác hẳn mọi vật? Căn cứ vào lư nhân duyên của Phật Giáo, tôi cho rằng Phật Giáo là vô thần. Ông giải thích dùm là Phật Giáo hữu thần hay vô thần?

   Thánh Kinh cho biết rằng Đức Chúa Trời dựng nên con người giống như h́nh ảnh của Ngài. Ngài dựng nên vạn vật như thế, th́ quả có như thế. Thánh Kinh nói Đức Chúa Trời là Thần, Ngài đặt thần thiêng liêng vào con người nên con người mang bản tính thiêng liêng của Đức Chúa Trời. Thánh Kinh nói: “Kẻ ngu dại nói trong ḷng rằng: chẳng có Đức Chúa Trời. Chúng nó đều bại hoại, đă làm những việc gớm ghiếc. Chẳng có ai làm điều lành.” (Thánh thi 14:1).

  Thưa ông, chăm chỉ học đạo th́ sẽ hiểu đạo và từng trải những kinh nghiệm trong đạo để biết đâu là chánh đạo, đâu là tà đạo. Ông có niềm tin,  tôi có đức tin. Niềm tin của ông khác đức tin của tôi. Nhưng điều quan trọng là chúng ta cần tôn trọng nhau, cần giúp nhau hiểu biết tốt hơn. Tôi tin rằng vũ trụ mênh mông nầy được Đấng Tạo Hóa dựng nên một cách mầu nhiệm và Ngài có mục đích của Ngài như Thánh Kinh đă chép. Tôi tin Thánh Kinh là quyển sách ghi chép sự mặc khải mầu nhiệm để dạy người làm điều lành theo tiêu chuẩn của Thượng Đế, v́ loài người đă phạm tội. Ai thật ḷng học Thánh Kinh th́ sẽ có ḷng kính sợ, yêu mến và biết ơn Đấng Tạo Hóa, là nguồn cội của Đạo (Logos). Đạo giải cứu người tin kính ra khỏi biển tội. Nhưng người nào phủ nhận Đạo và nguồn cội của Đạo để tự ḿnh tu sửa, th́ càng tu càng thêm tội lỗi, càng tội lỗi càng che dấu, càng che dấu càng kiêu ngạo, càng tự dối ḿnh mà làm như không biết. Đó là thực tế không ai chối căi được dù vẫn nổ lục che dấu.

   Nói về tội lỗi, nghiệp báo, phước báo, th́ phải tin rằng có Đấng Tối Thượng công minh xử đoán điều lành điều dữ theo mắt của Ngài. Phật Giáo không tin có Đấng Tối Thượng toàn năng công b́nh xét đoán, nên Phật Giáo không có giáo lư tha tội. Nhưng Phật Giáo tin có rất nhiều địa ngục và phật tử đọc thần chú diệt tội để khỏi bị vào địa ngục. Ai c̣n sống mà không biết đọc thần chú, không biết tu th́ sau khi chết, nhờ thân nhân mời các tu sỹ đọc kinh, đọc thần chú diệt tội để cầu siêu. Xin hỏi ông, khi ông đọc kinh sám hối th́ ai tha tội cho ông? Ông có tin rằng đọc thần chú “Thất Phật diệt tội” là hết sạch tội như Phật Giáo dạy không?

   Theo Thánh Kinh, tội lỗi phải bị xét đoán bởi Thượng Đế - Đấng Toàn Năng, thánh khiết, công b́nh tuyệt đối; đó là Đấng Tạo Hóa, là Thiên Chúa. Kinh nghiệm đức tin trong Thiên Chúa cho tôi thấy rằng, khi đă thật ḷng ăn năn tội để tiếp nhận ơn tha thứ của Đấng Tạo Hóa, tôi được Ngài tha tội và tôi thoát khỏi sự cai trị của tội lỗi, và được mặc lại H́nh Ảnh của Thiên Chúa - Đấng Tạo Hóa, nghĩa là được tái sinh. H́nh Ảnh mầu nhiệm của Thiên Chúa tái sinh trong ḷng tin và lớn lên từng ngày để thêm năng lực cho tôi làm việc lành, tránh việc ác. Đây là bằng chứng về sự sống đời đời cho tôi sau khi hồn tôi ĺa khỏi xác. Tôi sung sướng hạnh phúc vô cùng với bằng chứng nầy.

   Bởi kinh nghiệm của sự tin quyết nói trên, tôi yêu ông và biết ông là người có tội với Trời, cần phải ăn năn để được tha thứ, được đổi mới, được mở mắt ḷng thiêng liêng để gặp Đấng Tạo Hóa của ḿnh. Ngài đă hiện ra theo kỳ hẹn trong thời kỳ cuối rốt nầy, tức là Đức Chúa Jesus Christ, là Đức Chúa Trời Ngôi Hai. Ngài đến thế gian để đền tội cho chúng ta. Mỗi cá nhân chúng ta cần nhận biết sự khốn nạn của tội lỗi của ḿnh, để mở ḷng tiếp nhận hồng ân cứu rỗi bởi ân điển của Ngài. Ngài mở cái xiềng tội lỗi cho chúng ta được tự do làm lành theo thánh ư, năng lực và sự dẫn dắt của Ngài.

   Ông ghi tham khảo Thánh Kinh trong hai sách; Phục truyền 13 và Ê-sai 13, nhưng ông đâu có hiểu rằng hai chương kinh nầy ghi lời cáo trách tội lỗi đáng bị trừng phạt để kêu gọi tội nhân đem ḷng ăn năn hầu nhận ơn tha thứ và được giải phóng ra khỏi tội lỗi. 

   Lời Thiên Chúa được chép trong Thánh Kinh như sau: “V́ Đức Chúa Trời yêu thương thế gian đến nỗi đă ban Con Một của Ngài, hầu cho hễ ai tin Con Người ấy, th́ không bị hư  mất mà  được sự  sống đời đời“ (John 3:16);“V́ chính Chúa nắn nên tâm thần tôi và dệt thành tôi trong ḷng mẹ tôi. Tôi cảm tạ Chúa v́ tôi được dựng nên cách đáng sợ lạ lùng. Công việc Chúa thật lạ lùng, ḷng tôi biết rơ lắm. Mắt Chúa đă thấy thể chất vô h́nh của tôi; số các ngày định cho tôi, đă biên vào sổ Chúa trước khi chưa có một ngày trong các ngày ấy“(Thánh thi 139:13-14…16)

   Thánh Kinh được khởi chép thành văn tự hơn hai ngàn năm trước khi Vua Tịnh Phạn và Hoàng Hậu Magia sinh ra Thái Tử Tất Đạt Đa. Thánh Kinh hoàn tất sau khi Chúa Jesus Christ giáng sanh và làm trọn sự chết của Ngài trên thập tự giá để đền tội cho nhân loại, rồi Ngài Phục Sinh, lập ra Hội Thánh, giảng Tin Mừng về Ơn Cứu Độ tràn lan ra khắp thế giới.

 

III. Kinh điển và cái nh́n của con người qua kinh điển.

 

   Trước khi thành Phật, Thái Tử Tất Đạt Đa vốn là một tín đồ Ấn Giáo. Ấn Giáo dạy rằng Nhất thiết chúng sanh giai hữu thần tánh“ hay “Mỗi tạo vật là một vị thần“. Sau khi thành đạo, Đức Phật đem một số giáo lư Ấn Giáo vào trong Phật Giáo. Giáo lư Luân Hồi Nhân Quả xuất phát từ niềm tin lâu đời của Ấn Giáo cả ngàn năm trước khi Đức Thích Ca ra đời. Cho đến ngày nay chiếc áo Ca-sa mầu vàng của tu sỹ Ấn Giáo và Phật Giáo tại Ấn Độ rất giống nhau (trừ Phật Giáo Trung Hoa và Phật Giáo Nhật Bản có nhiều cải biến cho phù hợp với văn hóa của họ). Nhưng nếu chưa nghiên cứu Ấn Giáo để so sánh với Phật Giáo, th́ làm sao ông tin nổi điều tôi viết ra đây?

   Khoảng 2500 năm trước khi Đức Thích Ca ra đời tại Ấn Độ, Thánh Kinh Cựu Ước đă được các Ngôn Sứ và Moise ghi chép về công việc của Đức Chúa Trời sáng tạo hoàn vũ, sáng tạo muôn vật trên hành tinh chúng ta và sáng tạo con người. Đặc biệt con người được Đức Chúa Trời sáng tạo giống như H́nh Ảnh của Đức Chúa Trời. Ngài hà hơi thiêng liêng vào thân thể con người nên con người là loài thiêng liêng duy nhất trong muôn loài (Sáng Thế 1:26-28). Khoảng hơn 2200 năm sau Moise, ứng với Thánh Kinh Cựu Ước, Khổng Tử dạy rằng “Thiên sinh vạn vật duy nhân tối linh“. Khổng Tử và văn hóa Trung Hoa cổ đại cũng tin rằng Đấng Tạo Hóa công minh có năng quyền tuyệt đối nên đă viết “Thiên vơng khôi khôi sơ nhi bất lậu“.

   Tôi tin chắc ông Bần Tăng Ăn Mày Thế Kỷ cũng là một người được mang h́nh ảnh Đấng Tạo Hóa như tôi. Dù ông hiểu hay không hiểu, dù ông tin hay không tin, Thánh Kinh vẫn dạy rằng mỗi con người được sinh ra đều mang h́nh ảnh Đấng Tạo Hóa như nhau. Loài vật không có h́nh ảnh thiêng liêng nầy. Thánh Kinh ghi rằng sau khi hoàn tất sáng tạo vạn vật, Đấng Tạo Hóa dựng nên loài người. Ngài hà hơi thiêng liêng vào loài người để loài người có h́nh ảnh thiêng liêng của Ngài. V́ thế mà loài người là loài thiêng liêng và có linh hồn sống vĩnh cửu. Vậy, tin rằng loài người là loài duy nhất được mang h́nh ảnh của Đấng Tạo Hóa, là niềm tin đúng với Lời dạy của Thánh Kinh, đúng với lương tâm tôi lắm. Niềm tin nầy do Thánh kinh soi dẫn nên được gọi là đức tin. Đức tin nầy khiến ḷng tôi yêu quư ông, và quyết chắc rằng chúng ta là anh em; và loài người vượt lên trên loài vật rất xa. Loài người không bao giờ đầu thai thành loài thú như Ấn Giáo và Phật Giáo đă dạy.

   Ngay vào những trang đầu, Thánh Kinh đă chép: “Đức Chúa Trời phán loài nào sinh giống nấy tùy theo loại; th́ có như vậy.“ (Sáng Thế 1: 24-25). Nhưng v́ đă phạm tội nên loài người bị thiếu mất h́nh ảnh vinh quang của Đức Chúa Trời (Roma 3:23). V́ thế Ngài ban Chúa Jesus Christ xuống thế để chịu chết đền tội cho nhân loại. Ai tiếp nhận Ơn Cứu Chuộc trong Chúa Jesus Christ th́ người ấy được Ngài ban lại h́nh ảnh thiêng liêng, tức là Đức Thánh Linh.     

   Khi tin rằng tất cả chúng sanh đều có Phật Tánh như nhau, tin như vậy là đồng hóa loài người với loài vật. Đức Phật đưa ra giới cấm sát sanh, nhưng chính Đức Phật ngày xưa cũng như ông ngày nay, không hề giữ được giới cấm sát sanh. Ông có biết tại sao Đức Phật không giữ được giới sát sanh do Ngài lập ra không? Ấn Giáo hay Phật Giáo đều phát xuất từ sự hiểu biết của con người, v́ thế vẫn c̣n nhiều sai sót phải sửa đi sửa lại hoài. Nhưng Đấng Tạo Hóa dựng nên vạn vật và nhân loại, Ngài là Đấng toàn năng, bất biến. Cảm tạ Đấng Tạo Hóa v́ Ngài đă dựng nên vạn vạt rất toàn hảo, trong đó có ông và có tôi.

   Đức Chúa Trời là Đấng Tự Hữu Hàng Hữu, là Đấng dựng nên vũ trụ, muôn loài và cả nhân loại. Ngài là Đấng thiêng liêng, tuyệt đối toàn tri, toàn năng, toàn tại. Ngài ban Lời mặc khải vào tâm trí các Đấng Tiên Tri để họ chép thành Thánh Kinh. Toàn bộ Thánh Kinh được chép suốt 2600 năm cho đến khi hoàn tất, gồm có 39 thánh nhân khác nhau ghi chép bằng năng quyền thần hựu duy nhất từ Đức Chúa Trời. Thánh Kinh được tồn tại một cách mầu nhiệm, c̣n được lưu giữ hàng ngàn cổ bản và nội dung không bị mâu thuẫn như vô số Kinh Phật. Kinh Phật được chép ra sau Kinh Thánh khoảng hơn ba ngàn năm. Chưa có quyển sách nào cổ hơn Thánh Kinh. Tất cả các Giáo Hội thờ Đức Chúa Trời đều có đức tin của Thánh Kinh. Niềm tin ngoài Thánh Kinh không đúng với đức tin mà Đức Chúa Trời ban cho nhân loại.

Đức Chúa Trời dựng nên hoàn vũ, vạn vật và nhân loại, nên tôi tin rằng Lời Ngài mô tả sự sáng tạo và diễn tiến lịch sử cùng các Lời Tiên Tri đúng với sự thật và lịch sử, đáng tin cậy tuyệt đối, không ai đủ khả năng bài bác Thánh Kinh. Thánh Thi 14:1 đă nói mạnh mẽ rẳng “Kẻ vô tín là  ngu dại“.

   Thánh Kinh viết đầy đủ nhưng không quá nhiều để loài người đọc và hiểu được hầu đem ḷng tin tiếp nhận Đức Tin. Đức tin khác với ḷng tin và niềm tin. Ḷng tin đă được dựng nên trong con người. Niềm tin là những ǵ con người tin theo ư niệm, tŕnh độ hiểu biết và ư thích của ḿnh. Đức tin là sự mặc khải của Đức Chúa Trời bởi ân điển Thánh Linh để người tin biết chắc những ǵ mắt chưa thấy, tri thức chưa nắm được. Thật là mầu nhiệm! Đức tin sống là đức tin thể hiện sự hiện hữu của Đức Chúa Trời trong tâm hồn, thân thể, tâm trí, t́nh cảm, hành vi giữa thế gian nầy đúng như Thánh Kinh mô tả. Ma quỷ cũng tin có Đức Chúa Trời, nhưng ma quỷ không sống với sự hiện hữu của Đức Chúa Trời và không muốn làm theo thánh ư Ngài, mà chỉ lừa dối. Nếu thật ḷng quỳ xuống, ông sẽ nhận được đức tin. V́ ḷng ông có chỗ để đức tin bước vào, tiếc thay ông chưa muốn!

   Kinh Phật không có nguyên bản. Năm trăm năm sau khi Đức Thích Ca viên tịch, các tu sỹ mới bắt đầu ghi lại Kinh Phật theo kư ức truyền khẩu, v́ thế có quá nhiều kinh bị thêm bớt vào gây ra sự mâu thuẫn, trái ngược nhau. Ngày nay, câu mở đầu của Bần Tăng Ăn Mày Thế Kỷ cũng đă thêm một cách ngang xương vào Kinh Phật: ”Phật Giáo không phủ nhận có Thượng Đế“.

   Đức Phật không phải là Đấng Tạo Hóa mà là một tạo vật, một người được sinh ra bằng xác thịt như mọi người: “Phật là chúng sinh đă thành…“Dù đă thành Phật, th́ vẫn là một tạo vật chứ không phải là Đấng Tạo Hóa. Thành Phật là ǵ, anh định nghĩa cách nào cho đúng? Kinh Phật dạy: “khi c̣n gọi là thành Phật là không phải là Phật. Phải nói là không thành Phật th́ mới thành Phật“. Ông có nhớ kinh nào dạy câu nầy không?     

   Vậy tôi tin và thờ Đấng Tạo Hóa, chứ không thờ loài thọ tạo, dù người ấy có thông minh đến mấy cũng có tội lỗi và c̣n khuyết điểm cũng như phải chết như chúng tôi để bị xét đoán theo quyền năng của Đấng Tạo Hóa. Thánh Kinh dạy: ”Ngày nay không c̣n sự đoán phạt nào cho những kẻ ở trong Chúa Jesus Christ“ v́ Chúa Jesus Christ đă gánh chịu sự đoán phạt cho họ.

   Huệ Nhật xin chào ông Bần Tăng Ăn Mày Thế Kỷ và sẵn sàng đón đọc ư kiến của ông.

   Mong có ngày hội ngộ trong t́nh yêu Chúa Cứu Thế Jesus Christ.

 

   Nguyễn Huệ Nhật

 

 

    

 

 

 

 Diễn Đàn Giáo Dân xin quí vị thêm lời cầu nguyện cho Việt Nam:

có công lư và hoà b́nh, có dân chủ và tự do,

không c̣n bất công và gian dối.