Ai cũng thấy: Cờ Vàng Việt Nam

(cờ tự do, cờ dân chủ, cờ chống cộng sản vô thần)

Quốc Kỳ Việt Nam: Nguồn Gốc và Lẽ Chính Thống

I. DẪN NHẬP
    "Quốc Kỳ" - The National Flag - là lá cờ chính thức của một dân tộc sống trên một lănh thổ do một chính quyền quốc gia quản trị, đuợc đa số dân chúng tín nhiệm trong nghia vụ bảo vệ sự hiện hữu và toàn vẹn lănh thổ của quốc gia đó.
    Ngày xưa, khi tất cả các quốc gia c̣n trong chế độ quân chủ chuyên chính, th́ "đế kỳ" (cờ của vua) cung là biểu tuợng của quốc gia, nhung chỉ đuợc dựng lên tại những noi có vua ngự. C̣n các thành quách, biên ải th́ dựng cờ của các vị thống lănh. Ư niệm dùng một lá "quốc kỳ" để biểu tuợng chủ quyền quốc gia trên toàn thể lănh thổ chỉ mới có về sau này. Quốc kỳ Đan Mạch có nền đỏ và chữ thập trắng, đuợc xem là xua nhất trong lịch sử thế giới, khánh thành vào năm 1219. Quốc kỳ Liên Hiệp Anh "The Union Jack" đuợc quốc hội quân chủ lập hiến thừa nhận năm 1707. Quốc kỳ "Tam Tài" ba sọc đứng xanh, trắng, đỏ của Pháp xuất hiện cùng với cuộc cách mạng nhân dân năm 1789. Quốc kỳ Mỹ đă đuợc công bố qua đạo luật First Flag Act của Quốc Hội vào năm 1777, nhung khác hẳn với quốc kỳ hôm nay, với một nền gồm 7 sọc đỏ, 6 sọc trắng, và một h́nh chữ nhật màu xanh đậm phía trên cờ góc trái, trên đó có một ṿng tṛn gồm 13 sao trắng tuợng trung cho 13 tiểu bang sáng lập ra quốc gia Hoa Kỳ. Qua nhiều lần thay đổi với số luợng tiểu bang ngày càng gia tăng, ṿng tṛn sao trắng đuợc sắp thành nhiều hàng thẳng. Ngày 4 tháng 7, 1958 quốc kỳ Mỹ có 50 ngôi sao trắng với sự gia nhập liên bang của Alaska Hawaii . Đa số những lá quốc kỳ khác chỉ mới xuất hiện trong thế kỷ 20, khi các quốc gia bắt đầu chuyển hóa từ chế độ quân chủ sang dân chủ, cần có quốc kỳ tiêu biểu cho quốc gia và dân tộc chứ không chỉ riêng cho đế chế mà thôi.
    Từ khoảng hậu bán thế kỷ 19 đến nay, Việt Nam cung đă thay đổi khoảng một chục lá "quốc kỳ". Đáng chú ư nhất là hai lá cờ "nền vàng ba sọc đỏ" (gọi tắt là Cờ Vàng) và cờ "nền đỏ sao vàng" (gọi tắt là Cờ Đỏ) đă có một lịch sử tuong tranh từ hon 5 thập niên qua. Từ năm 1954 đến 1975, hai lá cờ này đă là hai biểu tuợng của sự chia đôi đất nuớc thành hai miền Nam, Bắc Việt Nam, và đuợc dùng làm lá "quốc kỳ" của mỗi miền. Ba muoi năm chiến tranh v́ nỗ lực của đảng CSVN muốn xâm chiếm miền Nam đă gây nên nhiều chết chóc hơn bất cứ giai đoạn nào trong lịch sử dân tộc. Sau năm 1975, với sự kiện đảng CSVN chiếm trọn vẹn miền Nam, th́ Cờ Đỏ đă ngự trị vùng trời Việt Nam và tại trụ sở các cơ quan quốc tế mà chế độ Hà Nội là thành viên. Cũng từ năm 1975, với hàng triệu nguời tỵ nạn cộng sản trên khắp thế giới, Cờ Vàng vẫn tiếp tục tung bay tại hải ngoại, tất cả những noi có cộng đồng nguời Việt lưu vong t́m tự do cu ngụ. Đó là một sự thật, không một ai có thể biện giải khác đi đuợc.
    Trong ṿng vài năm qua, có một số bài viết về hai lá Cờ Vàng và Cờ Đỏ xuất hiện trên các diễn đàn sách, báo, và internet. Lịch sử về Cờ Đỏ có thể đuợc dễ dàng t́m thấy trên các websites của đảng Cộng Sản Việt Nam và của chế độ Cộng Ḥa Xă Hội Chủ Nghia Việt Nam . Các bài viết về lịch sử Cờ Vàng có thể đuợc t́m thấy qua các sách báo xuất bản truớc năm 1975 và một số bài viết đuợc phổ biến rộng răi tại hải ngoại trong vài năm qua.
    Tất cả các tài liệu đuợc trích dẫn ở cuối bài đều có những chi tiết khác nhau về nguồn gốc cũng như ư nghĩa của lá Cờ Vàng và Cờ Đỏ. Ngoài ra, lại có một số tài liệu của nguời ngoại quốc cho thấy Cờ Vàng đă hiện hữu từ cuối thế kỷ 19. Các tài liệu này đuợc tŕnh bày khá công phu và khoa học, nhưng lại không nêu xuất xứ để kiểm chứng thêm. Đă thế, chế độ cầm quyền hiện hữu luôn luôn muốn vinh danh thành quả của chế độ và nỗ lực khỏa lấp hay hủy hoại những ǵ liên hệ đến phe chiến bại, đưa đến t́nh trạng đáng buồn là các sử sách trong và ngoài nuớc mâu thuẫn nhau về các dữ kiện trong các thập niên từ 1930 trở về sau.
    Chính v́ thế, nhu cầu tổng luợc, thống nhất hóa sử liệu về quốc kỳ Việt Nam đang trở thành cần thiết. Với định huớng đó, trong bài suu khảo này, nguời viết có tâm nguyện tŕnh bày những dữ kiện khách quan về lịch sử những lá cờ từng đuợc toàn thể hay một phần dân Việt sử dụng làm "quốc kỳ".     Những tài liệu góp nhặt sau đây, tuy dựa vào các sử liệu đă hiện hữu, nhưng đuợc kèm theo những đối chiếu, phân tích, giải thích, và chọn lọc, để mỗi dữ kiện có đuợc căn nguyên trung thực của nó. Ước mong rằng đóng góp nhỏ mọn này sẽ phần nào đuợc hữu dụng cho các thế hệ mai sau.

II. NHỮNG LÁ QUỐC KỲ TỪ ĐẦU THẾ KỶ 19 ĐẾN NAY
    Thế hệ trẻ Việt Nam ngày hôm nay muốn t́m hiểu về lá quốc kỳ chính thống của dân tộc Việt Nam trong hơn 100 năm qua đă và đang bối rối v́ sự tương phản cũng như nguồn gốc và ư nghĩa của mỗi lá cờ. V́ vậy, đi t́m nguyên khởi của mỗi lá cờ đó là t́m về lịch sử biến thiên của dân tộc. Sau đây là tóm luợc bối cảnh lịch sử cấu thành và ư nghĩa của mỗi lá cờ đuợc t́m thấy trong một hay nhiều tài liệu trích dẫn ở cuối bài.
1. Long Tinh Kỳ: Quốc Kỳ nguyên thủy của triều đ́nh Nhà Nguyễn. 

    Long Tinh Kỳ (1802-1885) 
        * Nền vàng biểu hiệu hoàng đế và sắc tộc dân Việt
        * Chấm đỏ biểu hiệu phuong nam
        * Tua xanh biểu hiệu đại duong, vẩy rồng 
    Đối chiếu với các tài liệu đuợc tham khảo th́ lá quốc kỳ đầu tiên trong thời nhà Nguyễn đă đuợc đặt tên bằng tiếng Hán là "Long Tinh Kỳ". (Ghi chú cho tuổi trẻ Việt Nam : Ư nghia của các chữ Hán như sau: Kỳ là cờ. Long là Rồng, biểu tuợng cho hoàng đế, có màu vàng. Râu tua màu xanh duong chung quanh tuợng trung cho Tiên và cung là màu đại duong, noi Rồng cu ngụ. Tinh có nghia là ngôi sao trên trời, mà cung có nghia là màu đỏ. Màu đỏ c̣n biểu tuợng cho phuong Nam và cho ḷng nhiệt thành. Long Tinh Kỳ là Cờ Rồng có chấm Đỏ viền tua xanh, biểu hiệu cho một dân tộc có nguồn gốc Rồng Tiên ở phuong Nam vùng nhiệt đới.)
    Cờ Long Tinh đă có từ thời vua Gia Long khi mới thống nhất son hà và lên ngôi hoàng đế vào năm 1802. Tuy nhiên, vào đầu thế kỷ 19, nhà Nguyễn chưa có bang giao quốc tế với các nuớc Tây phương, nên Long Tinh Kỳ đuợc xem là "Đế Kỳ". Đế kỳ khác quốc kỳ ở chỗ:
        - Đế kỳ là cờ của nhà vua, vua ở đâu th́ đế kỳ treo hay dựng nơi đó.
        - Quốc kỳ là biểu tuợng của quốc gia, treo tại các nơi có cơ quan công quyền chứ không chỉ ở chốn hoàng triều.
    Năm 1863, sau khi Kinh Lược Sứ Phan Thanh Giản thụ mệnh vua Tự Đức đi sứ sang Pháp trở về, thấy Pháp chào quốc kỳ Tam Tài trong các buổi lễ, nên ư niệm dùng Long Tinh Kỳ làm "quốc kỳ" mới khởi đầu.
    Năm 1885, truớc âm muu đô hộ của thực dân Pháp đă lộ liễu quá rơ, triều đ́nh nhà Nguyễn không c̣n chịu nổi áp lực ngoại xâm, Phụ Chính Đại Thần Tôn Thất Thuyết ra lệnh tấn công quân Pháp.     Cuộc tấn công bị thất bại, thủ đô Huế bị thất thủ. Ông pḥ vua Hàm Nghi trốn chạy khỏi hoàng thành, ra Quảng Trị, rồi sau đó lên căn cứ Tân Sở, miền núi Truờng Sơn, giáp biên giới Lào-Việt, để tiếp tục chống Pháp. Triều đ́nh mang theo lá cờ Long Tinh để thể hiện sự hiện diện của vua Hàm Nghi và cũng để hiệu triệu quốc dân huởng ứng phong trào "Cần Vương" (Cần Vương nghĩa là cứu viện vua). Nhiều nhà ái quốc đă huởng ứng phong trào Cần Vương, và nổi lên chống Pháp khắp nơi từ nam chí bắc, mà lịch sử cận đại c̣n ghi rơ như các cuộc khởi nghĩa của các anh hùng Phan Đ́nh Phùng, Hoàng Hoa Thám, Cao Thắng, Nguyễn Thiện Thuật, v.v... Họ dựng lên những lá "Long Tinh Kỳ" tại bộ chỉ huy cũng như tiền đồn, để xác quyết sự hưởng ứng của họ đối với hịch Cần Vuong. (Ghi chú Việt Sử Toàn Thư Trang 467: "Từ Trung ra Bắc, cờ khởi nghĩa bay khắp nơi"). Chính v́ vậy mà sử sách thế giới mới ghi nhận sự hiện hữu của lá Cờ Long Tinh vào năm 1885, mặc dù nó đă đuợc dùng làm đế kỳ từ đầu thế kỷ 19.
2. Đại Nam Quốc Kỳ 

    Nuớc Việt ta từ thời lập quốc đến đầu triều Nguyễn đă có nhiều quốc hiệu. Từ năm 1010, vua Lư Thái Tổ khai sáng triều đại nhà Lư th́ đổi quốc hiệu Đại Cồ Việt thời Đinh Bộ Linh thành ra Đại Việt. Quốc hiệu này vẫn đuợc giữ nguyên qua nhiều triều đại Trần, Hồ, Lê, cho đến cuối triều đại Tây Sơn vào đầu thế kỷ 19. Tuy vậy, các triều đại Trung Hoa không hề chấp nhận quốc hiệu Đại Việt mà vẫn gọi nuớc ta là "An Nam", ngụ ư một nuớc Nam đuợc trị cho yên và tùng phục nguời Hán, không c̣n quật cuờng nữa. Khi vua Gia Long lên ngôi vào năm 1802, nhà vua sai sứ sang Tàu cầu phong và xin lấy quốc hiệu là Nam Việt. Tuy nhiên, Thanh triều nghi đến tên Nam Việt vốn là quốc hiệu từ thời vua Triệu Đà vào năm 207 truớc Công Nguyên (BC). Lúc bấy giờ, Nam Việt c̣n bao gồm hai tỉnh lớn Quảng Đông, Quảng Tây, và đảo Hải Nam . Sau Công Nguyên (AD) th́ các đất ấy đă bị nguời Hán chiếm mất. Đến thế kỷ 18, Quang Trung Hoàng Đế, một anh hùng bách chiến bách thắng của dân tộc Việt đă định đ̣i nhà Thanh trả lại các vùng này, song chưa thành công th́ ông đă tạ thế lúc mới 40 tuổi.
    Khi vua Gia Long thống nhất son hà, muốn đổi quốc hiệu thành Nam Việt, Thanh triều nhớ lại lời yêu sách của vua Quang Trung, nên lo ngại và không chấp thuận. Để giữ ḥa khí, Thanh triều mới tráo đổi chữ Việt ra truớc chữ Nam để cho khỏi lầm với tên cũ. V́ thế, nuớc ta có quốc hiệu là Việt Nam kể từ năm 1804.
    Năm 1820, vua Minh Mạng nối ngôi cha, mở mang bờ cơi rộng lớn về phía tây và phía nam. Minh Mạng cũng sai sứ sang Tàu xin tấn phong và xin đổi quốc hiệu Việt Nam thành Đại Nam , ngụ ư một nuớc Nam rộng lớn.
    Tuy nhiên Thanh triều đă không chính thức chấp thuận cho vua Minh Mạng đổi quốc hiệu mới thành Đại Nam Quốc. Măi đến gần hai thập niên sau, nhân nhà Thanh bắt đầu suy yếu, vua Minh Mạng đă quyết định đơn phuương đổi tên nuớc thành Đại Nam và chính thức công bố tên mới vào ngày 15 tháng 2, 1839. Quốc hiệu này đă đuợc dùng trong đời vua Tự Đức và các đời vua kế tiếp. Một số tác phẩm nổi tiếng vào thời đó đă mang tên Đại Nam . Điển h́nh là bộ sách "Đại Nam Thực Lục Chính Biên" và bộ "Đại Nam Nhất Thống Chí" do Quốc Sử Quán triều vua Tự Đức soạn ra, tổng hợp các công tŕnh sử sách từ các đời vua truớc.
    Trong lúc đó, th́ nguời Pháp cung theo sử sách của Tàu, vẫn gọi nuớc ta là " Annam ", và cũng cùng ngụ ư tương tự như nguời Tàu, để "yên trị" nguời Việt.
    Năm 1885, v́ cờ Long Tinh theo vua Hàm Nghi vào bưng kháng Pháp, nên nguời Pháp không chấp thuận cho vua Đồng Khánh dùng Long Tinh Kỳ làm quốc kỳ nữa. Triều đ́nh Đồng Khánh phải chế ra lá cờ mới. Lá cờ mới cung có nền vàng, nhưng màu đỏ th́ gồm hai chữ Hán "Đại Nam " mang tên quốc hiệu nuớc ta lúc bấy giờ, tức là "Đại Nam Kỳ". Tuy nhiên, những nguời tinh thông chữ Hán, khi nh́n thoáng qua lá cờ mới đều nhận thấy không hoàn toàn giống các nét chữ "Đại" và "Nam", nên không ai có thể quả quyết rằng lá cờ ấy liên hệ với quốc hiệu Đại Nam.
    Sau đây là h́nh lá cờ Đại Nam , đuợc t́m thấy qua tài liệu của nguời Tây phương.
    Đại Nam Kỳ (1885-1890)
        *  Nền vàng
        * Hai chữ Đại Nam màu đỏ & xoay 90o ngược vị trí đối diện

    Chúng ta hăy nh́n lại hai chữ Đại Nam viết bằng Hán tự sau đây:

     Bây giờ, chúng ta mới nhận thấy hai chữ Đại và Nam xoay chiều theo kiểu trên khá giống lá quốc kỳ nuớc ta vào năm 1885-1890. Tuy vậy, chữ bên trái trên lá cờ khá giống chữ Đại, trong khi chữ bên phải trên lá cờ không hoàn toàn giống chữ Nam . Nguyên do có thể là v́ nguời ngoại quốc đă không rành thuật viết chữ Hán, nên đă thiếu sót vài nét khi chuyển thành h́nh vẽ của chữ Nam trên các websites của họ. Cũng có thể đó chỉ là sự cố ư của triều đ́nh Đồng Khánh khi thực hiện lá cờ, v́ vua Đồng Khánh do Pháp đưa lên ngôi, là một ông vua bù nh́n, thể chất yếu đuối, thiếu tinh thần tự chủ, nên không dám làm mất ḷng nhà Thanh cũng như chính phủ bảo hộ Pháp. V́ thế triều đ́nh đành phải xoay đổi đi một chút.

3. Quốc kỳ Nền Vàng Ba Sọc Đỏ duới hai triều đại Kháng Pháp 1890 - 1920
    Vua Đồng Khánh ở ngôi đuợc 3 năm th́ băng hà v́ bạo bệnh vào ngày 25 tháng 12, 1888, lúc mới 25 tuổi. V́ các con của ông c̣n nhỏ nên triều đ́nh lập hoàng tử Bửu Lân, con vua Dục Đức lên ngôi năm 1889, lấy hiệu là Thành Thái. Vua Thành Thái là một vị vua thông minh, hiếu học, c̣n nhỏ tuổi mà sớm có ư chí tự cuờng dân tộc và có tinh thần canh tân đất nuớc. Ông thích t́m cơ hội sống gần dân, thuờng ra khỏi hoàng thành giả dạng đi chơi hay săn bắn, thậm chí về sau c̣n giả điên, nhưng thật ra là để tiếp xúc với các nhà chí si cách mạng.
    Truớc đó, vào tháng 8 năm 1883 đời vua Hiệp Ḥa, Pháp tấn công vào cửa Thuận An, gởi tối hậu thư bắt ép triều đ́nh phải kư hoà uớc Quư Mùi 1883, công nhận Nam Kỳ là thuộc địa của Pháp, c̣n Trung và Bắc Kỳ thuộc quyền bảo hộ của Pháp (có nghĩa là mất tư cách độc lập về ngoại giao và quốc pḥng). Từ đó cho đến năm 1945, nuớc ta không c̣n là một lănh thổ nguyên vẹn từ Nam chí Bắc.
    Cảm thông tâm trạng bất măn của nhân dân thể hiện qua những tiếp xúc với các sĩ phu ngoài hoàng thành, vua Thành Thái đă không những không thỏa măn các đ̣i hỏi của chính quyền bảo hộ, mà c̣n trọng dụng nhiều nhân tài thanh liêm và đức độ như các ông Ngô Đ́nh Khả, Nguyễn Hữu Bài, với hy vọng khôi phục và canh tân đất nuớc. Năm 1890, nhà vua xuống chiếu thay đổi quốc kỳ chữ Hán bằng quốc kỳ mới. Lá cờ nền Vàng Ba Sọc Đỏ lần đầu tiên đuợc cấu tạo và được dùng làm quốc kỳ.
  Đại Nam Quốc Kỳ (1890-1920)         

       
* Nền vàng
        * Ba sọc đỏ bằng nhau biểu hiệu bắc nam trung bất khả phân

     Có thể nói Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ - gọi tắt là "Cờ Vàng" - là lá "quốc kỳ" đúng nghĩa đầu tiên của dân tộc Việt, v́ nó hàm chứa nguyện vọng độc lập và thống nhất của lănh thổ Việt.
    Sự kiến tạo lá quốc kỳ mới ấy có nhiều ư nghĩa vô cùng quan trọng:
        - Thể hiện ư chí đấu tranh, bác bỏ hiệp uớc Quư Mùi, "chia để trị" của thực dân Pháp, đă tao ra t́nh trạng Nam Kỳ thuộc địa, Trung Bắc kỳ bảo hộ.
        - Xác quyết sự toàn vẹn lănh thổ của Đại Nam Quốc, ba miền đều có tư thế chính trị giống nhau và bất khả phân trong nền tảng màu Vàng của dân tộc Việt ở phuong Nam .
        - Nêu cao tinh thần "quốc gia dân tộc", bằng cách đoạn tuyệt với sự liên hệ của chữ Hán, cũng như thoát ly ra khỏi nền bảo hộ Pháp và triều cống Tàu.
    Chính v́ các ư nghĩa trên mà lá cờ Vàng c̣n đuợc mệnh danh là cờ "Quốc Gia". Như vậy, từ ngữ "quốc gia" có từ cuối thế kỷ 19, đối nghịch với "thuộc địa", chớ không chỉ mới có vào bán thế kỷ 20 khi từ ngữ "cộng sản" xuất hiện.
    Lá cờ Quốc Gia đă đuợc tồn tại suốt triều vua Thành Thái. Năm 1907, v́ tánh khí quật cuờng, không chịu làm một ông vua bù nh́n và không nghe theo các đề nghị của Pháp, vua Thành Thái bị Pháp biếm nhục là ông mắc bệnh "điên" và truất phế ông, rồi đưa ông đi quản thúc ở Vũng Tàu. Con vua Thành Thái là hoàng tử Vĩnh San đuợc triều đ́nh pḥ lên ngôi, lấy hiệu là Duy Tân. Cũng như vua cha, vua Duy Tân tuy c̣n nhỏ tuổi mà đă tỏ ra là một nguời ái quốc can đảm. V́ thế, lá cờ Quốc Gia vẫn c̣n tồn tại cho đến khi chính vua Duy Tân cũng bị bắt v́ tội tham gia cuộc kháng chiến chống Pháp rồi bị đày sang đảo Réunion ở Phi Châu cùng với vua cha vào năm 1916.
Ghi chú: Dữ kiện là Cờ Vàng hiện hữu từ 1890-1920 đuợc t́m thấy trên website của World Statemen. Chủ website này là Ben Cahoon, một chuyên gia Mỹ, tốt nghiệp đại học University of Connecticut . Muốn biết thêm về ông, xin vào đây:
<http://www.worldstatesmen.org/AUTHOR.html>
    World Statemen là một website khổng lồ, chứa các lịch sử chính trị của hầu hết quốc gia trên thế giới, trong đó có VN. Tài liệu trong website này vô cùng phong phú, khá chính xác về các phần khác của VN, như các triều vua, các đời quan toàn quyền Pháp, v.v.., với sự đóng góp của nhiều giáo sư danh tiếng.
    Người viết nghĩ rằng ngoài sự căn cứ vào các tài liệu, các sử gia c̣n cần phải cân nhắc, phân tích các sự tuờng thuật có khi mâu thuẫn, đối chiếu các biến cố thời sự để t́m ra các dữ kiện hợp lư nhất, với ư huớng rằng việc ǵ cũng có cái nguyên ủy của nó chứ không phải tự nhiên mà có. Lịch sử VN từ ngàn năm trước được viết bởi các sử gia thời hiện đại, mỗi nguời mỗi khác, và cung khác với sử kư do nguời Hoa viết (như bộ Sử Kư Tư Mă Thiên chẳng hạn). Những sử gia thời sau dùng các sử liệu của nguời thời truớc cho công tŕnh nghiên cứu của ḿnh, có khi lại thêm những khám phá mới. Đó là sự phát kiến về lịch sử vậy. Phát kiến (innovation) là t́m ra sự kiện mới dựa trên tài liệu cũ, chứ không phải phát minh (invention), hay bịa đặt sự kiện (fabrication). Các bộ sử của Sử Gia Phạm Văn Sơn viết gần đây nhất, rất dày, có nhiều chi tiết khá lư thú và mới lạ, không hề t́m thấy nơi sách khác, có lẽ đă được viết theo phương pháp "phát kiến" ấy.
    Sau khi đối chiếu với các sử sách, bằng vào trí thức và sự chân thành của Ben Cahoon, người viết không nghĩ tác giả website đă bịa đặt ra sự kiện Cờ Vàng đă hiện hữu năm 1890-1920, cũng như Cờ Đại Nam bằng chữ Hán xoay 90 độ nghịch chiều. Hiển nhiên Cahoon đă t́m thấy trong hàng đống tài liệu hay thư khố Pháp và Mỹ hoặc các đại học, nhưng lại không trích dẫn rơ ràng tài liệu nào. Riêng cờ chữ Hán "Đại Nam " th́ ông cung không trích dẫn xuất xứ và diễn tả là ǵ (có lẽ v́ không hiểu chữ Hán), nên lúc nh́n qua không ai hiểu đuợc là ǵ. Về sau, loay hoay xoay chuyển các chữ Đại và Nam , nguời viết mới khám phá ra cái thâm ư của tiền nhân triều Nguyễn.
    Trong tinh thần tôn trọng các sách sử và các bài viết của các bậc trưởng thượng, mới đầu nguời viết cũng có sự nghi hoặc về dữ kiện Cờ Vàng hiện hữu từ 1890, v́ không thấy sách Việt sử nào ghi lại chi tiết này. Nhưng về sau th́ nguời viết thấy dữ kiện ấy rất hữu lư khi đối chiếu với lịch sử vào thời điểm nuớc ta mới bị Pháp ép kư các Hiệp Uớc 1883 và 1884, cắt miền Nam cho Pháp làm thuộc địa. Tiếp theo, Pháp đày ải các vua Thành Thái và Duy Tân, v́ hai vua này chủ truong toàn vẹn lănh thổ. Các sự kiện này rất phù hợp với ư nghĩa của Cờ Vàng.
    Trên đây là sự đối chiếu và chọn lọc của nguời viết để đi đến kết luận là tài liệu của World Statemen có tính xác thực và khả tín. Tuy nhiên, nếu độc giả không thỏa măn với tài liệu của World Statemen th́ nên trích dẫn tài liệu phản bác lại.
4. Cờ Bắc Trung Kỳ trong thời miền Nam thành thuộc địa Pháp
    Long Tinh Kỳ (1920 - 10 Mar, 1945)        

        * Nền vàng một sọc đỏ lớn
        * Biểu tượng cho Bắc và Trung kỳ mà thôi.
        * 10-3-45 là ngày cáo chung của chế độ bảo hộ Pháp 
    Sau khi hai vua Thành Thái và Duy Tân bị Pháp bắt đày đi Phi Châu, con của vua Đồng Khánh là Khải Định lên ngôi. Giống như cha, Khải Định cũng là một vua bù nh́n và nổi tiếng nịnh Tây. V́ vậy, đến năm 1920 th́ Khải Định tuân lời quan bảo hộ Pháp, xuống chiếu thay đổi Cờ Vàng Quốc Gia tượng trưng cho ba miền thống nhất, thành Cờ Vàng Một Sọc Đỏ, chỉ tuợng trung cho hai miền Bắc và Trung của triều đ́nh Huế mà thôi (c̣n miền Nam th́ trở thành thuộc địa và có "quốc kỳ" riêng).
    Lá cờ Vàng Một Sọc Đỏ, cũng đuợc gọi là cờ "Long Tinh", v́ nó biến thể từ Long Tinh Kỳ nguyên thủy trong mấy chục năm đầu của nhà Nguyễn. Nền vàng có h́nh chữ nhật tương tự như quốc kỳ của các quốc gia khác. Chấm đỏ đuợc kéo dài ra thành sọc đỏ ở giữa. Tua xanh không c̣n nữa. Đây là lá cờ biểu hiệu cho một quốc gia chỉ c̣n hai miền Bắc và Trung, thuộc quyền bảo hộ Pháp. Lá cờ này trải qua đời vua Khải Định và tồn tại trong đời vua Bảo Đại, sau khi vua Khải Định băng hà vào năm 1925.  Sau khi lên ngôi vào đầu năm 1926 lúc mới 12 tuổi, vua Bảo Đại trao hết quyền cho "Hội Đồng Phụ Chính" với sự chỉ đạo của Toàn Quyền Pháp rồi trở sang Paris tiếp tục học cho đến 1932 mới trở về chấp chính. Lá cờ Long Tinh vẫn đuợc tiếp tục dùng làm biểu tượng của triều đ́nh Huế, lúc bấy giờ chỉ c̣n thẩm quyền cai trị hai miền Bắc và Trung duới sự bảo hộ của Pháp.
5. Cờ Nam Kỳ Thuộc Địa (miền Nam thuộc địa Pháp) 

    Trong khi đó, từ năm 1923, Nam Kỳ đă chính thức thành thuộc địa Pháp "Nam Kỳ Quốc", có chính phủ riêng, quân đội riêng và đă có "quốc kỳ" khác với Long Tinh Kỳ. Cờ Nam Kỳ Thuộc Địa có nền vàng, với h́nh cờ Tam Tài của "mẫu quốc" Pháp nằm trên góc trái, như h́nh ảnh duới đây.
     Cờ Nam Kỳ Thuộc Địa (1923 – 10/03/45)
        * Nền vàng
        * Cờ Tam Tài, màu Xanh Trắng Đỏ nằm trên góc trái.
        * 10-3-45: Nhật đảo chính Pháp 
    Cờ này tồn tại đến 10-3-45 th́ cáo chung sau khi Nhật đảo chính Pháp tại Đông Dương.
6. Long Tinh Kỳ trong thời Nhật chiếm Đông Duong, 11/3/1945 - Aug 1945
    Một ngày sau khi Nhật đảo chánh Pháp, vua Bảo Đại đăng đàn tại Huế vào ngày 11-3-45, tuyên bố hủy bỏ ḥa uớc Quư Mùi 1883 và Giáp Thân 1884, Việt Nam thống nhất và độc lập, theo chế độ Quân Chủ tân thời nhu một số quốc gia Tây Phuong, và ủy nhiệm cho học giả Trần Trọng Kim thành lập chính phủ. Sau đó, vua Bảo Đại phân định cho Long Tinh Kỳ trở lại cuong vị của Đế Kỳ, chỉ treo noi Hoàng Thành Huế hoặc mang theo những noi vua tuần du. Long Tinh Đế Kỳ cung tuong tự nhu Long Tinh Quốc Kỳ trong thời Pháp bảo hộ, nhung nền vàng đậm hon và sọc đỏ thu hẹp lại bằng 1/3 chiều cao lá cờ, để tuong xứng với cờ Quẻ Ly của chính phủ Trần Trọng Kim.
    Long Tinh Đế Kỳ (11 Mar - 30 Aug, 1945)

         * Nền vàng, một sọc đỏ ở giữa bằng 1/3 cờ.
        * 11-3-45: Bảo Đại tuyên bố VN độc lập, Long Tinh Kỳ trở thành Đế Kỳ
        * 30-8-45: Bảo Đại thoái vị, Đế Kỳ cáo chung 
7. Cờ Quẻ Ly của quốc gia Việt Nam trong thời Nhật chiếm Đông Duong
    Để biểu trung cho Quốc Gia trong chế độ Quân Chủ, Bảo Đại kư sắc lệnh chấp thuận đề nghị của Thủ Tuớng Trần Trọng Kim, lấy lại quốc hiệu Việt Nam mà nhà Thanh đă chấp thuận trong thời vua Gia Long, và sáng tạo ra một quốc kỳ mới. Đó là lá cờ có nền vàng tương tự như Long Tinh Đế Kỳ nhưng vạch đỏ đuợc chia làm ba vạch nhỏ bằng nhau, riêng vạch giữa th́ đứt khoảng, tương tự như quẻ Ly, một quẻ trong bát Quái.
    Cờ Quẻ Ly thời Nhật (11/03 – 5/09/45)
        * Nền vàng, ba sọc đỏ, sọc giữa đứt khoảng hơi giống h́nh Quẻ Ly
        * Quốc kỳ chính thức thời Nhật, đồng thời với Long Tinh Kế Kỳ 

     Không có tài liệu nào ghi lại lời giải thích của chính học giả Trần Trọng Kim về ư nghia của Cờ "Quẻ Ly". Tuy nhiên, cố Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy, trong bài viết duới tựa đề "Quốc Kỳ và Quốc Ca Việt Nam" đă giải thích như sau:
    "Ly là một quẻ của bát quái. Cũng như màu đỏ, nó tượng trưng cho phương nam. Trong vũ trụ quan của Việt Nam và Trung Hoa thời truớc, màu đỏ thuộc hành hỏa, tượng trưng cho mặt trời hay lửa; quẻ Ly cũng tượng trưng cho mặt trời, cho lửa, cho ánh sáng, cho nhiệt lực và về mặt xă hội th́ tượng trưng cho sự văn minh. Về h́nh dạng th́ quẻ Ly trên cờ của chánh phủ Trần Trọng Kim gồm một vạch đỏ liền, một vạch đỏ đứt và một vạch đỏ liền. Do đó, bên trong quẻ Ly, hiện lên một nền vàng gồm hai vạch liền và một vạch đứng nối liền hai vạch ấy. Trong Hán văn, đó là chữ Công. Chữ công này đuợc dùng trong các từ ngữ công nhơn, công nghệ để chỉ nguời thợ và nghề biến chế các tài nguyên để phục vụ đời sống con nguời. Vậy, ngoài ư nghĩa văn minh rạng rỡ, quẻ Ly c̣n hàm ư ca ngợi sự siêng năng cần mẫn và sự khéo léo của dân tộc Việt Nam trong các ngành hoạt động sản xuất kỹ nghệ." C̣n tài liệu của Cơ Sở Việt Tộc Paris th́ ghi:
    "Theo Kinh Dịch (khoa học đông phương nói về quy-luật biến-hóa của vạn vật) th́ Quẻ Ly thuộc cung Hỏa ở phương Nam . V́ thế nên chữ LY phải mang màu đỏ của lửa. H́nh-thể lá cờ tuợng-trung cho lảnh-thổ nên phải là h́nh vuông (trời tṛn đất vuông); nay biến thành h́nh chữ nhật cho phù-hợp với quy-uớc quốc-tế. V́ vậy nên lá cờ mang quẻ ly đă nói lên vị-trí của một Quốc-gia ở phương Nam , tức nuớc NAM . Nay nuớc Nam th́ ai làm chủ? Màu vàng giải trên toàn thể lá cờ mà ngày xua gọi là Hoàng Địa, nay ta gọi là Nền Vàng, có nghiă là dân Việt làm chủ trên mảnh đất đó."
    Như vậy, ư nghia Cờ Quẻ Ly là sự thống nhất, độc lập cả ba miền thành một khối và theo chế độ quân chủ. Tuy vậy, trên thực tế, chính phủ Trần Trọng Kim chỉ được Nhật trao thẩm quyền điều hành hai miền Bắc và Trung mà thôi. C̣n miền Nam Việt Nam hết lệ thuộc vào Pháp th́ lại lệ thuộc vào Nhật. Mặc dù Cờ Quẻ Ly có ư nghĩa tốt đẹp, nhưng bị nhiều nguời chỉ trích là "lệ thuộc vào kinh dịch, tức là c̣n nô lệ văn hóa của nguời Hán", tương tự như Đại Nam Kỳ bằng Hán tự trong thời vua Đồng Khánh gần cuối thế kỷ 19.

8. Cờ Đỏ Sao Vàng của Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời "Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa" 
    Hai quả bom nguyên tử của Mỹ thả xuống lănh thổ Nhật ngày 6 và 9 tháng 8, 1945 đă đua đến hậu quả là Nhật đầu hàng Đồng Minh vô điều kiện. Hậu quả này tạo nên một t́nh trạng hỗn độn chính trị chua từng có tại Việt Nam suốt trong tháng 8. Các tổ chức cách mạng liên tiếp tổ chức những cuộc biểu t́nh giành độc lập, và chính phủ Trần Trọng Kim bị xem là "chính phủ thân Nhật", nên không ai dám hợp tác và Thủ Tuớng Trần Trọng Kim đă phải từ nhiệm.
    Trong t́nh trạng hỗn độn, Mặt Trận Việt Nam Độc Lập Đồng Minh, gọi tắt là Mặt Trận Việt Minh, lập ra "Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời" của nuớc "Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa", do ông Hồ Chí Minh lănh đạo. Nhờ khôn lanh mưu lược, Việt Minh đă tranh thủ đuợc quyền điều hành đất nuớc qua những biến cố sau đây:
        - Ngày 19-8-45, tại Hà Nội, Việt Minh tổ chức biểu t́nh truớc ṭa Khâm Sứ và "cuớp chính quyền" truớc hàng chục ngàn dân Hà Nội.
        - Ngày 22-8-45, tại Thuận Hóa, Việt Minh hạ cờ Ly truớc toà hành chánh của chính phủ Trần Trọng Kim, treo cờ Đỏ Việt Minh.
        - Ngày 24-8-45, tại Sài G̣n, Việt Minh thuyết phục các tổ chức cách mạng nhường cho Việt Minh quyền "tiếp thu vũ khí của Nhật", và lập ra "Ủy Ban Hành Chánh Nam Bộ Lâm Thời".
        - Ngày 30-8-45, tại Huế, truớc sự chứng kiến của hàng chục ngàn nguời, Việt Minh nhận ấn tín của hoàng đế Bảo Đại trong Lễ Thoái Vị, hạ cờ Long Tinh xuống, treo cờ Đỏ lên, chấm dứt chế độ quân chủ Việt Nam.
        - Ngày 2-9-45, tại quảng truờng Ba Đ́nh Hà Nội, truớc sự chứng kiến của hàng chục ngàn nguời, ông Hồ Chí Minh đọc "Tuyên Ngôn Độc Lập" của nuớc "Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa" và tŕnh diện thành phần "Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời", gồm tất cả thành viên là đảng viên Cộng Sản Đông Dương hoặc tổ chức ngoại vi của đảng. Riêng ông Hồ Chí Minh, truớc đó không ai biết là nhân vật nào, cũng đă lộ diện là Nguyễn Ái Quốc hay Lư Thụy, đảng viên CS. T́nh trạng đất nuớc sau ngày 2-9-45 có thể đuợc tóm luợc như sau:
            - Ngày 5-9-45, tại Hà Nội, ông Hồ Chí Minh kư sắc lệnh số 5 hủy bỏ cờ Ly và dùng cờ Đỏ Việt Minh làm "Quốc kỳ", chính thức cáo chung sự hiện hữu của Cờ Quẻ Ly.
            - Ngày 6-1-46, bầu cử Quốc Hội do chính phủ Hồ Chí Minh tổ chức, kết quả là Việt Minh chiếm đại đa số trong tổng số 356 dân biểu. Tiếp đó, Quốc Hội nhóm họp khóa đầu tiên ngày 2-3-46 và công nhận Cờ Đỏ làm Quốc Kỳ.
            - Ngày 20-2-46, nhân dân Hà Nội biểu t́nh phản đối kết quả bầu cử có nhiều bằng cớ gian lận, đả đảo chính phủ Hồ Chí Minh, yêu cầu cựu hoàng Bảo Đại ra cầm quyền để kếp hợp toàn dân.
            - Ngày 2-3-46, truớc áp lực của dân chúng và trước nguy cơ bị Pháp tái đô hộ, Hồ Chí Minh lập nội các mới, gọi là "Chính Phủ Liên Hiệp Kháng Chiến" với một số nhân vật thuộc các tổ chức "cách mạng quốc gia" nhu Nguyễn Hải Thần, Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn Tuờng Tam, v.v..., và mời cựu hoàng Bảo Đại làm "Cố Vấn Tối Cao". Được nửa năm th́ thế "liên hiệp" tan vỡ với các cuộc đàn áp Việt Nam Quốc Dân Đảng, bắt đầu công khai kể từ ngày 12-7-1946.
            - Trong suốt năm 1946, quân đội Pháp càng ngày càng chiếm ưu thế trên các cuộc đụng độ với quân đội Việt Minh. Đến 20-12-46, Pháp chiếm đuợc Bắc Bộ Phủ, Hồ Chí Minh tuyên bố rút vào bưng kháng chiến. Dần dần, Pháp chiếm đóng và kiểm soát các thành phố, quận lỵ, và các làng xă đông dân; c̣n Việt Minh th́ đồn trú tại các vùng quê, rừng núi hẻo lánh. Như vậy, Cờ Đỏ Việt Minh bị xem như tạm thời mất tư thế "quốc kỳ" kể từ ngày 20-12-46 là ngày Pháp chiếm Bắc Bộ Phủ cho đến ngày 20-7-1954 là ngày đất nuớc chia đôi và Việt Minh trở lại cầm quyền trên miền Bắc Việt Nam từ vĩ tuyến 17 trở lên.
    Cờ Mặt Trận Việt Minh (5/91945-20/12/1946)


        * Nền đỏ, sao vàng, cạnh sao hơi cong.
        * 5-9-45: Hồ kư sắc lệnh số 5 dùng cờ Việt Minh làm Quốc Kỳ, thay thế cờ Quẻ Ly.
        * 20-12-46: Việt Minh rút vào bưng kháng chiến chống Pháp. Cờ Việt Minh tạm mất tư thế Quốc Kỳ. 
9. Cờ Vàng sọc Xanh của Chính Phủ Lâm Thời "Nam Kỳ Cộng Ḥa Quốc" 

    Riêng tại miền Nam , kể từ 9-10-45 sau khi giải giới Nhật, Anh chính thức giao quyền cho Pháp quản nhiệm hành chánh miền Nam vi tuyến 16. Kế đến Pháp trở cờ, tái lập "Cộng Đồng Liên Bang Đông Duong". Ngày 1-6-1946 nuớc "Cộng Ḥa Nam Kỳ" ra đời, với nội các Bác Si Nguyễn Văn Thinh. Lá cờ "Nam Kỳ Cộng Ḥa Quốc" có nền vàng bao bên ngoài ba sọc xanh ở giữa, chen giữa ba sọc xanh là hai sọc trắng. Ư nghia của ba sọc xanh là ba phần Việt, Miên, Lào trong liên bang Đông Duong sống ḥa b́nh thịnh vuợng (màu xanh và trắng). Chế độ "Nam Kỳ thuộc địa" tồn tại đuợc 2 năm th́ cáo chung với sự thành lập Quốc Gia Việt Nam do cựu hoàng Bảo Đại làm Quốc Truởng kể từ 2-6-1948.
    Cờ Nam Kỳ Cộng Hoà Quốc (1/06/46 – 2/06/48)
        * 1-6-46: Nam Kỳ Cộng Ḥa Quốc trong Liên Bang Đông Duong.
        * Nền vàng, ba sọc xanh, hai sọc trắng
        * 2-6-48: Bảo Đại lập Quốc Gia Việt Nam trong Liên Hiệp Pháp, thống nhất ba miền. 
10. Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ của "Việt Nam Quốc" và "Việt Nam Cộng Ḥa"

     Tại Hà Nội, sau khi Việt Minh rút vào bung kháng chiến chống Pháp, th́ nền hành chánh của miền Bắc và Trung tạm thời roi vào tay nguời Pháp. Kế đó, cựu hoàng Bảo Đại đuợc các đảng phái cách mạng cung nhu nguời Pháp mời ra điều khiển đất nuớc với tu cách "Quốc Truởng". Ông đ̣i hỏi Pháp phải công nhận cho Việt Nam đuợc quyền độc lập và thống nhất ba miền, rồi thành lập "Chính Phủ Trung Uong Lâm Thời Việt Nam", cử tuớng Nguyễn Văn Xuân làm Thủ Tuớng để điều hành đất nuớc và thuong thảo với Pháp. Tiếp theo, Hội Đồng Đại Biểu Chính Phủ Nam Việt Nam của "Nam Kỳ Cộng Hoà Quốc" gởi kiến nghị tán thành chính phủ trung uong, chấp nhận sự độc lập và thống nhất thật sự của ba miền. V́ thế ngày 2 tháng 6, 1948, chính phủ Nguyễn Văn Xuân công bố Quốc Kỳ và Quốc Ca Việt Nam trong liên hiệp Pháp, áp dụng cho cả ba miền Nam, Trung và Bắc Kỳ.
    Cờ Vàng Quốc Gia VN (2/06/1948 - 20/07/54)

        * 2-6-48: Chính Phủ Trung Ương dùng Cờ Vàng làm quốc kỳ giống như Đại Nam Kỳ thời 1890-1920.
        * 20-7-54: Đất nước chia đôi theo Hiệp Định Genève. Từ đó, Cờ Vàng vẫn được dùng làm Quốc Kỳ Việt Nam Cộng Hoà từ 20-7-54 đến 30-4-75. 
    Lá Quốc Kỳ mới cung có nền vàng với ba sọc đỏ giống hệt như Đại Nam Quốc Kỳ trong thời khoảng 1890-1920. Nhưng đây là lần đầu tiên, Cờ Vàng đuợc chính thức dùng cho "Quốc Gia Việt Nam", một chế độ không c̣n thuộc Đế Chế của Triều Nguyễn.
     Bàn về xuất xứ của lá Cờ Vàng của chế độ mới, cố GS Nguyễn Ngọc Huy cho biết lá cờ này đă "do một họa si nổi tiếng thời Đệ Nhị Thế Chiến là Lê Văn Đệ vẽ và đă đuợc Cựu Hoàng Bảo Đại chọn trong nhiều mẫu cờ khác nhau được tŕnh cho ông trong một phiên họp ở Hongkong năm 1948". Tuy nhiên, một số tài liệu khác cho thấy không phải ngẫu nhiên mà Bảo Đại chọn lá cờ ấy, cũng không phải chỉ v́ lá Cờ Vàng "đẹp và ư nghĩa". Nguyên do chính là v́ họa sĩ họ Lê đă vẽ lại một lá quốc kỳ từng hiện hữu trên quê hương từ 50 năm về trước, suốt trong thời kỳ hai vị vua ái quốc Thành Thái và Duy Tân c̣n tại vị. Điều này đă đuợc giải thích tường tận ở mục "3- Quốc kỳ Nền Vàng Ba Sọc Đỏ dưới hai triều đại Kháng Pháp 1890 - 1920"
    Vào năm 1948, Bảo Đại không muốn tái sử dụng Long Tinh Kỳ v́ đó là Đế Kỳ của một đế chế mà ông đă chấm dứt vào tháng 8 năm 1945. Một ông vua tha thiết với nền độc lập và sự toàn vẹn lănh thổ, đến nỗi chịu thoái vị v́ quyền lợi tối thượng của đất nuớc, hẳn dư biết nguồn gốc của lá Cờ Vàng. Ngoài ra, một vài chi tiết lịch sử quan trọng khác cung đă góp phần vào việc chọn lựa Cờ Vàng: Đó là cái chết oan ức tại Phi Châu vào cuối năm 1945 của hoàng tử Vĩnh San, tức là cựu hoàng Duy Tân, và sự hiện diện tại Sài G̣n từ năm 1947 của cựu hoàng Thành Thái, thân sinh của Duy Tân.
    Cờ Vàng đă đuợc dùng làm Quốc Kỳ lần đầu trong triều đại của hai vị vua này. Cả hai đă là linh hồn của cuộc kháng chiến chống Pháp dành độc lập vào đầu thế kỷ 20, mà hậu quả là cuộc xử tử các thủ lănh Quang Phục Hội như anh hùng Thái Phiên, Trần Cao Vân vào năm 1916, và án lưu đày Phi Châu của hai vị vua ái quốc ấy. Năm 1942, hoàng tử Vĩnh San gia nhập quân đội Pháp (cánh De Gaulle), đến năm 1945 được thăng cấp Thiếu Tá Tiểu Đoàn Trưởng.
    Khi Thế Chiến thứ 2 kết thúc, Tuớng De Gaulle về Pháp cầm quyền, dự định cho ông về Việt Nam. Nhưng sau đó, có nguời tố cáo cho De Gaulle biết Vĩnh San luôn luôn ấp ủ chủ trương Việt Nam độc lập và thống nhất Nam, Trung, Bắc. V́ vậy, trong lần hội kiến với De Gaulle vào ngày 14-12-1945, ông bị khiển trách nặng nề và bị tuớc mất cấp bậc. Ông đă tâm sự với nguời bạn thân rằng ông lo ngại sẽ bị hại. Ngày 24-12-45, ông bị đưa về lại đảo Réunion. Hai hôm sau, ông bị tử nạn máy bay tại Trung Phi.
    Cái chết đầy nghi vấn của cựu hoàng Duy Tân đă làm dư luận Việt Nam xúc động và thương tiếc vị vua ái quốc. Năm 1947, cha ông là cựu hoàng Thành Thái lúc bấy giờ đă 68 tuổi, đuợc Pháp cho về Sài G̣n, với điều kiện là ông không giữ bất cứ một trách nhiệm chính trị nào cả. Dù vậy, sự hiện diện của cựu hoàng Thành Thái cùng với cái chết của cựu hoàng Duy Tân hiển nhiên đă gợi lên tinh thần tôn kính hoài băo của hai vua. Chắc chắn Bảo Đại có đến thăm bậc Thái Thuợng Hoàng khả kính của ông, và hội ư trong việc chọn Cờ Vàng làm Quốc Kỳ, nhưng ông không thể tiết lộ ra, v́ sẽ phạm vào điều kiện của De Gaulle khi cho cựu hoàng Thành Thái về VN, là không được tham dự vào chính trị phục quốc. Sự rao truyền rằng Cờ Vàng do họa si Lê Văn Đệ vẽ ra mà không nhắc đến sự hiện hữu của Cờ Vàng 50 năm truớc, cũng có dụng ư. Đó là v́ nhu cầu bảo vệ an nguy của cựu hoàng Thành Thái. V́ thế, việc Quốc Trưởng Bảo Đại lựa chọn Cờ Vàng của thời chống Pháp làm Quốc Kỳ cho tân chế độ là một quyết định sáng suốt và hợp chính nghĩa.
    V́ nguồn gốc kháng Pháp hào hùng của Cờ Vàng, mà năm 1955, Thủ Tuớng Ngô Đ́nh Diệm tổ chức "trung cầu dân ư", lập ra chế độ Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hoà, quốc hội mới vẫn giữ nguyên quốc kỳ của một chế độ đă cáo chung. Cuộc đảo chánh năm 1963, chấm dứt nền Đệ Nhất Cộng Ḥa, lập nên Đệ Nghị Cộng Hoà, Cờ Vàng vẫn đuợc giữ nguyên là Quốc Kỳ cho đến khi miền Nam bị miền Bắc thôn tính.
11. Cờ Đỏ Sao Vàng của "VN Dân Chủ Cộng Ḥa" và "Cộng Hoà Xă Hội Chủ Nghia VN"
    Năm 1954, Hiệp Định Genève đuợc kư kết, đua đến việc chia hai lănh thổ, từ vi tuyến 17 (ranh giới Quảng Trị và Quảng B́nh) trở ra Bắc thuộc quyền kiểm soát của Việt Minh. Việt Minh, lúc bấy giờ đă hoàn toàn lộ diện là đảng Cộng Sản Việt Nam, trở lại Hà Nội và tái lập chế độ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà. Lá cờ đuợc dùng làm "quốc kỳ" của miền Bắc vẫn là cờ nền đỏ sao vàng, gọi là Hồng Kỳ - Cờ Đỏ. Tuy nhiên, các cạnh của ngôi sao không c̣n là ṿng tṛn như cờ của Việt Minh nữa mà là đuờng thẳng.
     Cờ Đỏ Sao Vàng của VNDCCH và CHXHCNVN 20 Jul, 1954 - hiện nay
        * Tương tự cờ Việt Minh, nhưng cạnh ngôi sao vẽ thẳng để giống Liên Sô và Trung Cộng
        * Nguyên là cờ đảng Cộng Sản Đông Dương,
xuất hiện lần đầu ngày 23-11-1940 trong cuộc "khởi nghĩa" tại Nam Kỳ.
        * Tháng 7 năm 1976, thống nhất đất nước, vẫn dùng Cờ Đỏ.

  Theo các websites của đảng CSVN, đặc biệt là:
 
http://www.sfc.keio.ac.jp/apd/minh/flag_emblem_anthem.html, th́ lá cờ Đỏ do ông Nguyễn Hữu Tiến vẽ ra và đă từng xuất hiện lần đầu vào ngày 23 tháng 11 năm 1940 tại miền Nam.
    Cuốn Việt Nam Niên Biểu 1939-1975 của Chính Đạo cũng ghi "lần đầu tiên CS dùng Cờ Đỏ Sao Vàng làm kỳ hiệu" trong cuộc "tổng khởi nghĩa" ngày 23-11, kéo dài cho đến đầu tháng 12 năm 1940. Cuộc "tổng khởi nghia" đă được đảng Cộng Sản Đông Dương phát lệnh tại Sài G̣n, Gia Định (23/11) và một số tỉnh miền Nam như Cần Thơ, Chợ Lớn, Sóc Trăng (24/11), Mỹ Tho, Vĩnh Long, Tân An (27/11), Long Xuyên, Kiến An (30/11). Cuộc khởi nghĩa của Cộng Sản bị Pháp dẹp tan, với hàng ngàn người bị bắt cầm tù và 106 lănh tụ CS bị xử tử h́nh. Biến cố này cho thấy Cờ Đỏ nguyên là cờ của đảng CSĐD truớc khi đuợc sửa đổi và dùng làm cờ của Việt Minh.
12. Cờ Mặt Trận GPMN
    Cờ Mặt Trận GPMN ( Nam VN)30 Apr 1975 - 2 Jul, 1976

        * Tương tự cờ Bắc Việt, nhưng một nửa nền dưới thành màu xanh.
        * Bị khai tử năm 1976 khi hai miền thống nhất
    Ngày 30-4-1975, CSVN chiếm đuợc miền Nam . Vài tháng đầu, để trấn an "Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam", CSVN lập ra "Chính Phủ Lâm Thời" của chế độ "Cộng Ḥa Miền Nam Việt Nam", có "quốc kỳ" riêng là nền đỏ nửa trên, nền xanh nửa duới, chính giữa có ngôi sao vàng, tuong tự như cờ của Bắc Việt. Sang năm 1976, ngày 2 tháng 7, th́ đảng CSVN thống nhất hai miền thành "Cộng Ḥa Xă Hội Chủ Nghia Việt Nam", khai tử Cờ MTGP Miền Nam, và dùng Cờ Đỏ (Sao Vàng) làm Quốc Kỳ trên toàn quốc cho đến nay.
    Điểm đáng ghi nhận là Cờ Đỏ của CHXHCNVN hầu như rập theo khuôn mẫu các "hồng kỳ" của Liên Sô và Trung Cộng, nghĩa là cũng cùng nền đỏ, cũng có sao vàng. Cờ Liên Sô nền đỏ, trên đầu góc trái có h́nh búa liềm và một nôi sao viền vàng. Cờ Trung Cộng cũng một nền đỏ, trên đầu góc trái có một ngôi sao vàng lớn và 4 ngôi sao vàng nhỏ h́nh cánh cung phía bên mặt. Ngôi sao lớn tuợng trưng cho Trung Hoa Lục Địa, bốn ngôi sao nhỏ là bốn chu hầu: Triều Tiên, Việt Nam , Lào và Miên (không kể Đài Loan và Tây Tạng, được xem là lănh thổ của Hoa Lục). C̣n cờ đảng CSVN có nền đỏ và h́nh búa liềm vàng, tương tự như cờ Soviet Union . Như vậy, khác hẵn với ư nghia độc lập thống nhất của Cờ Vàng, Cờ Đỏ mang ư nghĩa "Việt Nam là một trong những chư hầu trong khối cộng sản".
13. Cờ Vàng của "Cộng Đồng Việt Nam Hải Ngoại"
    Kể từ ngày 30-4-1975 đến nay, hàng triệu nguời Việt không muốn sống duới chế độ CHXHCNVN, đă t́m mọi cách thoát ra khỏi nuớc. Suốt gần ba thập niên qua, tại khắp noi trên các nuớc tự do, Cờ Vàng luôn luôn đuợc dùng làm biểu tuợng của dân tộc VN trong mọi cuộc lễ nghi, hội họp. Từ dịp vui mừng ngày hội tết, cho đến dịp kỷ niệm ngày 30-4, Cờ Vàng luôn luôn đuợc kéo lên, không phân biệt ban tổ chức thuộc đảng phái chính trị hay hội đoàn xă hội nào.

Cờ Vàng của Cộng Đồng Việt Nam hải ngoại từ năm 1975 đến nay tương tự Cờ Vàng của:
        * Thời Cần Vương kháng pháp 1890-1920
        * Thời Quốc Gia Việt Nam 1948-1955
        * Thời Đệ Nhất Cộng Ḥa 1955-1963
        * Thời Đệ Nhị Cộng Ḥa 1963-1975

Bài viết: Kỹ Sư Nguyễn Đ́nh Sài