|
HOA MAI
Thập tải luân giao
cầu cổ kiếm,
Nhất sinh đê thủ bái
mai hoa.
Mười
năm xuôi ngược giao du cốt t́m thanh kiếm
cổ,
Một đời chỉ cúi
đầu vái lạy trước hoa mai.
Cụ Chu Thần,
tức Cao Bá Quát, một trong những nhà thơ nổi
tiếng nhất trong văn học Việt Nam, người
tự phụ riêng ḿnh chiếm đến hai trong
bốn bồ chữ của thiên hạ, đă thốt
lên hai câu thơ trên. Hoa mai có những đặc tính nào
mà đă dành được sự tôn kính của nhà
nho kiêu ngạo, từng xem khinh cả vua lẫn quan như
vậy ?
 
Có thể nói,
trong các loài cây, kể cả cây có hoa hay không, mai là loài
được ưa chuộng nhất từ xưa
đến nay. Người đời thường
bị quyến rũ bởi sự tương phản
của mai: Tuy có thân và cành gầy guộc, có hoa
mỏng manh, và mang hương thơm dịu dàng, thanh
khiết, nhưng ở bên trong mai là cả một
sự kiêu dũng. Chính sự kiêu dũng này đă giúp
mai vượt qua được mưa gió sương hàn
của mùa đông để đơm hoa kết nụ
khi xuân về. Các nhà nho xem mai là tấm gương cho
loài người về sự ḥa hợp giữa chữ
Nhẫn và chữ Dũng.

Đă kiêu dũng, có hương thơm, lại nở
sớm nhất trong các loại hoa xuân nên mai được
tôn phong địa vị bách hoa khôi. Mai được
gộp chung với tùng và trúc thành bộ tam hữu.
Sư gộp chung này bắt nguồn từ sách Luận
Ngữ: "Ích giả tam hữu: hữu trực,
hữu lượng, hữu đa văn" (bạn có
ích gồm ba hạng: ngay thẳng, rộng lượng,
và hiểu biết nhiều). Người xưa thường
ví von ba loại cây này là ngự sử mai, trượng
phu tùng, và quân tử trúc. Ngoài ra, mai c̣n được
kết hợp với lan, cúc, và trúc thành bộ
tứ quư để
biểu tượng cho bốn mùa xuân, hạ, thu, đông.
Trong thơ văn, mai thường được dùng
để ví von cho phẩm chất của người
quân tử.
Đối với
cụ Chu Thần, có lẽ trong suốt quăng đời
bôn ba khắp chốn để cầu cổ kiếm
(hay để xây dựng nghiệp bá vương?),
cụ không hề gặp bậc chính nhân quân tử nào
có cốt cách như "mai ngự sử". V́
vậy, theo thiển ư, "nhất sinh đê thủ bái
mai hoa" là lời xưng tụng của cụ dành
cho loại bách hoa khôi, đồng thời cũng hàm ư
rằng anh hùng trong thiên hạ chẳng ai xứng để
họ Chu này bái phục. Rơ là khẩu khí của Chu
Thần.
CÁC
LOẠI HOA MAI
Mai có nhiều
chủng loại. Người Trung Hoa đă t́m ṭi nghiên
cứu và phân mai ra đến gần 250 loại khác
nhau. Trong các loại này, hầu hết có hoa năm cánh
nhưng cũng có loại mang đến cả trăm cánh,
xếp thành nhiều tầng. Tuy nhiên, để
đơn giản hóa, nhiều người chia mai thành
4 loại tùy theo mầu sắc: hoàng mai, bạch mai,
hồng mai, và thanh mai (mầu phớt xanh). Tại
Việt Nam, có hai loại đặc biệt thường
được xếp riêng các loại mai khác là mai
tứ quư và song mai.
1.- Mai Tứ Quư
là loại mai có 5 cánh mầu vàng nhưng thường
được liệt vào loại hoa đỏ v́ khi tàn,
các cánh hoa rơi rụng rồi năm đài hoa đổi
thành mầu đỏ, úp lại ôm lấy nhụy, trông
giống như nụ hoa vừa nhú. Nhụy bên trong
kết hạt rồi hạt to dần, đẩy 5
đài hoa bung ra trông như hoa mai đỏ vừa
nở. Hạt ở giữa các cánh hoa có mầu xanh khi
c̣n non và đổi sang mầu đen khi già. V́ vậy,
mai tứ quư cũng được gọi là nhị
độ mai, tức mai nở hai lần, trước vàng
sau đỏ. Loại mai này được nhiều người
ưa chuộng v́ nở hoa quanh năm.

2.-
Song Mai
là giống mai đặc biệt có nhiều ở
huyện Thanh Tŕ miền Bắc. Hoa có mầu trắng,
ra hoa và kết trái từng đôi nên được
gọi là song mai.
Ngoài ra, có một
số hoa vẫn thường được liệt vào
loài mai mặc dù không cùng họ với mai. Đó
là nhất chi mai, mai mơ, và mai chiếu thủy.
1.- Nhất Chi Mai có mầu đỏ hồng, thường
gặp ở miền Nam.
2.- Mơ là loại hoa có mầu trắng hồng, sau kết thành
trái, và mọc nhiều ở miền Bắc. Hoa Mơ
được nhiều nguời gọi là mai và
được nhắc đến nhiều trong thi ca như
"thỏ thẻ rừng mai chim cúng trái" (Chu
Mạnh Trinh), "rừng mơ hiu hắt lá mơ rơi"
(Nguyễn Bính), và "càng mưa phùn gió lạnh, càng
lạnh càng hoa mơ" (Quang Dũng).

3.- Mai Chiếu Thủy là cây đa niên, gốc to, cành nhánh
nhiều, lá mọc thành đôi, và có hoa chùm nhỏ li ti
mầu trắng tuyền. Hoa luôn luôn hướng
xuống dưới nên được gọi là mai
chiếu thủy. Hoa có hương thơm dịu dàng,
thanh khiết.
Thuở trước,
tại miền Bắc, các cụ ta trồng mai như
một thứ cây cảnh chứ không chưng mai trong nhà
vào dịp tết như người dân miền Nam sau này.
Tại miền Nam, mai được chưng bầy
trong ngày tết là loại mai vàng, chỉ mọc từ
Quảng B́nh trở vào. Khi nhắc đến mai, người
Việt, nhất là nguời miền Nam, thường nghĩ
đến loại mai vàng này.
MAI TRONG THI CA
Nghệ thuật thưởng
mai chắc chắn đă phát xuất từ Trung Hoa. Theo
sử sách, từ thời Xuân Thu, người dân ở
đất Tây Chu đă trồng mai như một
thứ cây cảnh. Dần dần người Trung Hoa
xem mai tượng trưng cho khí tiết của dân
tộc họ và nâng mai lên hàng quốc hoa. Sau đó, thú
thưởng mai lan sang những nước chịu
ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa.
Từ ngàn năm
trước, hoa mai đă khơi nguồn cảm
hứng cho biết bao thi nhân. Hoa mai được
nhắc nhở trong thi ca của người xưa,
cả ở Trung Hoa lẫn Việt Nam, thường là
loại mai trắng. Đó là loại mai được
nhắc đến trong thơ Trương Thuyết
đời Đường:
Khứ tuế Kinh Nam mai tự
tuyết
Kim niên Kế Bắc tuyết như
mai
Năm ngoái ở
Kinh Nam (nay thuộc tỉnh Hồ Quảng), hoa mai
trắng như tuyết
Năm nay ở Kế
Bắc (nay là Bắc Kinh), tuyết trắng như hoa mai.
Không như
hầu hết các giống mai vàng ở phương Nam,
loại mai trắng ở Trung Hoa và miền Bắc nước
ta có mùi hương dịu dàng, thanh khiết, chẳng
hạn như mùi hương của rừng mai nơi
cung Dao Tŕ thuở xưa:
Dao Tŕ bất thị tuyết
Vị tiểu ám hương lai
(Cổ thi)
Nh́n về cung Dao Tŕ
(thấy một mầu trắng nhưng) biết không
phải là tuyết
V́ có phảng phất mùi
hương (thơm)
Lư Mai Pha,
một thi nhân đời Tống, đă so sánh mai và
tuyết qua hai câu:
Mai tu tốn tuyết tam phân
bạch
Tuyết khước thâu Mai nhất
đoạn hương
Mai nên nhường tuyết
ba phân trắng
Tuyết phải thua mai một bậc
thơm
Về h́nh dáng,
loại mai trắng trong thơ cổ của Trung Hoa và
Việt Nam trông giống như giống mai mù u, hiện
c̣n một cây trong vườn chùa G̣ ở Phú Lâm,
ngoại ô Sài G̣n. Trong văn học Trung Hoa, có
lẽ người yêu mai nhất là Lâm Bô, tức Lâm Ḥa
Tĩnh (967-1028), sống vào đời nhà Tống.
Vị hiền sĩ này tài trí hơn người nhưng
chán ghét tục lụy nên ở ẩn trên núi Cô Sơn,
xem mai là vợ, hạc là con. Ông chính là tác giả bài
thơ Mai Hoa bất hủ, được truyền
tụng qua nhiều thế hệ. Bốn câu đầu
của bài thơ như sau:
Chúng phương dao, lạc độc
tiên nghiên
Chiếm tận phong t́nh hướng
tiểu viên
Sơ ảnh hoành tà thủy thanh
thiển
Ám hương phù động
nguyệt hoàng hôn.
Các loài hoa rơi rụng, chỉ
một ḿnh (hoa mai) tươi tốt
Chiếm cả vẻ đẹp trong
khoảnh vườn nhỏ
Bóng cành thưa đâm ngang ḷng nước
trong ở nơi cạn
Hương thầm thoảng lên dưới
ánh trăng hoàng hôn.
Hai câu thực
của bài (câu 3 và 4) được đúc kết
lại thành "ám hương phù động ánh hoành
tà" và được cụ Giản Chi dịch là
"chập chờn hương thoảng, bóng cành xiên
ngang". Các thi nhân đời sau đă khen ngợi
rằng chỉ với bẩy chữ, câu này đă
diễn tả đủ được vẻ đẹp
của hoa mai.
Vương Duy
(701-761), một thi sĩ kiêm họa sĩ đời
Đường, đă nhắc đến hoa mai qua bài
Tạp Thi bất hủ:
Quân tự cố hương lai
Ung tri cố hương sự
Lai nhật ỷ song tiền
Hàn mai trước hoa vị?
Người từ quê cũ đến
Hẳn biết những chuyện
ở quê nhà
Ngày đi qua trước cửa
buồng thêu
Có thấy Hàn Mai nở hoa không?
Nơi đất
khách, gặp bạn cùng quê, nhà thơ không vội
hỏi thăm chuyện quê cũ mà hỏi đến
cội mai xưa. Cũng vậy, Lư Bạch, trong khi
ngồi uống ruợu trên lầu Hoàng Hạc, nghe có
người thổi khúc sáo Lạc Mai Hoa, đă bồi
hồi nhớ đến bóng mai nơi kinh thành Trường
An xa xôi vạn dặm:
Nhất vi thiên khách khứ Trường
Sa
Tây vọng Trường An bất
kiến gia
Hoàng Hạc lâu trung xuy ngọc địch
Giang thành ngũ nguyệt "Lạc
mai hoa"
Thân là người khách đến tận Trường
Sa xa vạn dặm
Trông về phía Tây, nơi thành Trường
An, mà không thấy nhà
Ngồi trên lầu Hoàng Hạc, nghe
tiếng sáo ngọc thổi
Giữa tháng năm, chợt vang khúc
"hoa mai rụng" ở chốn Giang thành
Lô Đồng
(790-835), một nhà thơ khác đời Đường,
đă thi vị hóa hoa mai với người đẹp
(hay người đẹp với hoa mai?) trong những câu
cuối của bài Hữu Sở Tư:
Mỹ nhân hề! mỹ nhân!
Bất tri mộ vũ hề! vi triêu
vân ?
Tương tư nhất dạ mai hoa
phát
Hốt đáo song tiền nghị
thị quân
Người
đẹp này! người đẹp!
Chẳng hay (bây giờ) là mưa
chiều hay mây sớm ?
Một đêm nhớ nhau mai nở hoa
Trông thấy hoa trước cửa
sổ, ngỡ là bóng nàng
Bài thơ
được nhiều người dịch ra tiếng
Việt. Bài dịch hay nhất, theo thiển ư, là bài
của Tản Đà với nhan đề "Có
Nhớ Ai":
Hỡi ơi! Người đẹp
ta đâu?
Mưa chiều mây sớm, ai hầu
biết ai?
Nhớ nhau suốt một đêm dài,
Trước song trắng toát hoa mai lúc
nào!
Ngỡ ḿnh chẳng phải ḿnh sao?
Các nhà thơ
cổ thường ca ngợi hoa mai v́ vẻ đẹp,
v́ hương thơm, và đặc biệt, v́ cốt
cách của hoa. Ví von mai với t́nh nhân như Lô Đồng
đă là trường hợp ngoại lệ. Ấy
thế mà sau Lô Đồng một đời, có
một nhà thơ tên Hàn Ốc (844-933) đă so sánh làn
da nơn nà, trắng mịn trên bộ ngực của người
đẹp với một cánh... hoa mai. Ông viết:
Phấn trứ lan hung tuyết áp
mai.
Phấn thoa lên ngực
như tuyết áp trên hoa mai.
Quả là táo
bạo và độc đáo. Ở phương Nam, các
nhà thơ của dân tộc ta không hề thua kém các nhà
thơ phương Bắc trong lănh vực thưởng
thức và ca ngợi hoa mai. Một trong những nhà thơ
hết ḷng ưu ái loại hoa này là Nguyễn Trăi,
vị khai quốc công thần của nhà Hậu Lê.
Cụ đă từng giải thích lư do tại sao ḿnh yêu
mai đến thế:
Ái mai, ái tuyết, ái duyên hà?
Ái duyên tuyết bạch, mai phương
khiết.
Yêu mai, yêu tuyết bởi v́ đâu?
V́ tuyết trắng, mai thơm và tinh
khiết.
Cụ
đă từng thổ lộ thú tiêu khiển trang nhă
của cụ:
Hái cúc, ương lan, hương bén
áo
T́m mai, đạp nguyệt, tuyết
xâm khăn
Trong 21 bài "Ngôn
Chí", Nguyễn Trăi đă nhắc đến mai qua 8
bài. Điển h́nh như:
Trà mai đêm nguyệt dậy xem bóng
Phiến sách ngày xuân ngồi chấm
câu
(Ngôn Chí 2)
Quét trúc, bước qua ḷng
suối
Thưởng mai, về đạp bóng
trăng
(Ngôn Chí 15)
Lê Cảnh Tuân,
một danh thần trong thời kháng Minh, khi bị quân
Minh bắt về giam tại Kim Lăng, đă gửi
gấm nỗi nhớ cố hương trong bài "Nguyên
Nhật" (ngày đầu năm):
Lữ quán khách nhưng tại
Khứ niên xuân phục lai
Quy kỳ hà nhật thị
Lăo tận cố hương mai?
Đất khách ngày lần
qua
Xuân đă quay trở lại
Bao giờ về quê cũ
Cội mai hẳn đă già?
Đến cụ
Nguyễn Du, ḷng yêu mai có lẽ tăng thêm một
bậc nữa. Trên đường trở về cố
hương sau chuyến đi sứ sang Trung Quốc,
cụ đă nán lại Từ Châu và chống chọi
với giá buốt suốt ba tháng trời chỉ
cốt để ngắm mai nở trên đầu núi:
Nhượng tận khổ hàn
tam duyệt nguyệt
Lĩnh đầu lạc đắc
khán mai hoa.
(Trích Từ Châu Đạo Trung)
Cố chịu khổ với giá buốt trong ba
tháng nữa
Để được vui mừng
ngắm hoa mai nở trên đầu non.
Cho nên, chúng ta không
lấy làm lạ khi cụ đă sử dụng rất
nhiều mỹ từ kèm với "mai" trong tác
phẩm bất hủ Đoạn Trường Tân Thanh
như lầu mai, tiên mai, mưa mai, sân mai, hồng mai,
song mai, trướng mai, hồn mai, giấc mai.
Tương
truyền khi đi sứ sang Tầu vào năm 1813,
cụ Nguyễn Du đến thăm một xưởng
chế tạo đồ sứ danh tiếng tên Ngoạn
Ngọc ở tỉnh Giang Tây. Lúc bấy giờ xưởng
đang chuẩn bị chế tạo bộ trà Mai
Hạc. Với nhă ư đáng ca ngợi, vị chủ hăng
ngỏ lời xin quan chánh sứ phẩm đề
một câu để quảng cáo cho kiểu đồ
trà này. Người khác, ở vào trường hợp
tương tự, chắc chắn sẽ nghĩ đến
câu thơ chữ Hán. Tuy nhiên, quan chánh sứ lại dùng
chữ Nôm của nước nhà mà viết nên câu:
Nghêu ngao vui thú yên hà
Mai là bạn cũ, hạc là người
quen
Kết quả là các
bộ trà Mai Hạc sản xuất tại Giang Tây trong
những năm sau đó có in hai câu thơ Nôm của
cụ. Tuy nhiên, v́ không biết chữ Nôm, nên các
nghệ nhân Trung Hoa đă ghi sai hoặc ghi thiếu vài
nét. Thêm nữa, thay v́ phải viết thành một hàng
6 chữ, một hàng 8 chữ như quy định
của thể thơ lục bát, họ lại viết
thành ba hoặc bốn hàng với số chữ phân chia
như sau:
6 + 2 + 6
(ba hàng)
5 + 2 + 5 + 2 (bốn hàng)
4 + 3 + 4 + 3 (bốn hàng)
Kể cũng là một giai thoại thú vị.
Sau thời cụ
Nguyễn Du, có một vị thượng thư tên
Đào Tấn (1845-1907), sinh quán tại B́nh Định,
cũng có thể kể là một bậc cuồng mai. Ông
lấy hiệu là Mộng Mai và Mai Tăng (ông sư
Mai). Khi về hưu, ông t́m đất đặt
mộ cho ḿnh ở núi Mai Sơn, thuộc làng Hoàng Mai (B́nh
Định), và cho khắc một bài thơ trên mộ,
trong đó có câu::
Núi Mai rồi gửi xương
mai nhé
Ước được hoa mai hóa
mộng hồn.
MAI TRONG THIỀN
Nếu các thi nhân
thường làm thơ ca tụng vẻ đẹp và hương
thơm của mai, hoặc mượn mai để gói
ghém tâm sự hay khí tiết của ḿnh, th́ các
thiền sư thường dùng mai làm ẩn dụ
để chuyển tải ư đạo, như một
thiền sư Trung Hoa đời Đường với
bài "Cổ Mai" nêu sau:
Hỏa ngược phong thao
thủy tí căn,
Sương thuân tuyết trựu
cổ đài ngân.
Đông phong vị khẳng tùy hàn
thử
Hựu nghiệt thanh hương
dữ phản hồn.
Lửa táp, gió lùa, nước ngâm
thân,
Sương (như) búa tuyết (như)
cưa khắc vết hằn.
Gió đông buốt giá dầu chưa
đến
Vẫn cứ đâm chồi tỏa
ngát hương.
Phải chăng
thiền sư muốn nhắn nhủ chúng ta hăy bền
gan vượt qua mọi cám dỗ, mọi thử thách
trên đường tu đạo và hành đạo? Công
phu đến độ chín muồi th́ tâm ắt
sẽ khai hoa, cũng như mai nở sẽ đúng
thời khắc sau khi dăi dầu đủ gió mưa sương
tuyết. Bài Cổ Mai nêu trên khiến chúng ta
nhớ đến bài kệ của Tổ Hoàng Bá
(?-850), một thiền sư danh tiếng người Phúc
Kiến:
Trần lao quưnh thoát sự phi thường.
Hệ bă thằng đầu tố
nhất trường.
Bất thị nhất phiên hàn
triệt cốt
Tranh đắc mai hoa phốc tỷ hương.
Vượt cơi trần lao
việc chẳng thường.
Đầu dây nắm chặt giữ
lập trường.
Chẳng phải một phen xương
lạnh buốt
Hoa mai đâu dễ ngửi mùi hương.
Nhiều thiền sư
Việt Nam cũng đă để lại cho hậu
thế những bài thơ hoặc kệ bất hủ dùng
mai làm ẩn dụ như Măn Giác Thiền Sư
(1052-1096), Điều Ngự Giác Hoàng (1258-1308), tức
vua Trần Nhân Tông, Huyền Quang Tôn Giả (1254-1334), và
Tuyết Giang Phu Tử (1491-1585), tức Trạng Tŕnh
Nguyễn Bỉnh Khiêm (nhiều người xem Tuyết
Giang Phu Tử là một bậc thiền sư), v.v... Bài
thơ (hay kệ) được biết đến
nhiều nhất là bài "Cáo Tật Thị Chúng"
(cáo bệnh để dậy đệ tử) của
thiền sư Măn Giác, đời nhà Lư. Trước
khi viên tịch, thiền sư cáo bệnh, đóng
cửa thiền pḥng để tham thiền nhập
định. Đến chiều tối, ngài thảo bài
kệ, bước ra khỏi pḥng, mỉm cười
trao cho các đệ tử đang bồn chồn lo lâu
cho sức khỏe người thày. Bài kệ trở thành
những lời dậy hàm súc nhất của một
bậc thiền sư gửi lại cho hậu thế:
Xuân khứ bách hoa lạc,
Xuân đáo bách hoa khai.
Sự trục nhăn tiền quá,
Lăo tùng đầu thượng lai.
Mạc vị Xuân tàn hoa lạc
tận,
Đ́nh tiền tạc dạ nhất
chi mai.
Xuân đi trăm hoa rụng,
Xuân đến trăm hoa cười.
Trước mắt việc đi măi,
Trên đầu già đến rồi.
Đừng bảo Xuân tàn hoa rụng
hết,
Đêm qua sân trước một cành
mai.
Cuộc đời
là một ḍng vô thường không ngừng biến
chuyển theo thời gian. Tất cả mọi vật
hiện hữu trong vũ trụ, hễ có sinh th́ có
diệt; v́ vậy, với con người, sinh lăo
bệnh tử là chuyện dĩ nhiên. Tuy nhiên, có
một cái bởi không sinh nên không diệt. Đó chính
là bản lai diện mục, là pháp gốc, là cái Tâm
của mỗi người chúng ta. Cành mai trong bài
kệ có thể không có thật ở chốn đ́nh
tiền đêm năm ấy (dẫu có thật, rồi
hoa cũng phải rụng rơi theo ngày tháng). Tuy nhiên,
điều chúng ta biết chắc, cành mai ấy đă
hiện hữu ở từng sát na trong mắt nh́n
của thiền sư, đúng ra là ở trong tâm ngài. Cành
mai ấy mọc bên ngoài ḍng sinh tử vô thường
của thời gian và nở bên ngoài quy luật bể dâu
của vũ trụ.
Tâm hoa nếu đă
nở th́ việc ǵ phải cậy đến mùa xuân.
Mà thật ra, làm ǵ có mùa xuân. Chúng ta thấy xuân
đến xuân đi chỉ v́ chúng ta đang sống
trong vọng thức. Thấu đáo ẩn dụ
của cành mai trong bài kệ, có lẽ chúng ta sẽ
cảm thấy an nhiên tự tại khi đối
diện với sinh tử vô thường của tạo
hóa, với được, thua, c̣n, mất của
kiếp người.
|