

Hồi kư: NGƯỜI TÙ KHÔNG ÁN (Tôn Thất Đàn)
|
Tôn Thất Đàn
Con người ta vừa sinh ra khỏi ḷng mẹ,
ai cũng phải cất tiếng khóc chào đời!
Chứng tỏ rằng cuộc đời nầy
chẳng có ǵ là sung sướng cả? V́ thế
Đức Phật đă bảo: “Đời là
bể khổ”. Nhưng khổ th́ cũng vừa
phải thôi, chứ sao cuộc đời tôi lại
phải khổ nhiều như thế nầy! Ông
Trời có bất công xử tệ với tôi không?
Nói về cuộc đời của tôi th́
nhiều lắm, có thể viết thành một
cuốn truyện dài. Tuy nhiên, để ngắn
gọn tôi xin trích ngang một đoạn để
kể về hai lần tù tội của đời tôi
trong hai giai đoạn vừa qua, dưới chế
độ bạo tàn của Cộng Sản cho quư vị
độc giả nghe.
Người ta thường nói: “Họa vô
đơn chí”. Đúng thế, cái sự rủi ro không
bao giờ đến với ḿnh một lần thôi
đâu! Đó là trường hợp của tôi:
Lần thứ nhất, “Mùa Hè đỏ lửa” năm
1972. Sau khi tỉnh Quảng Trị bị thất
thủ vào tay Cộng Sản Bắc Việt, đơn
vị tôi là chiến xa M48 phải rút về tại
Cầu Dài (trên Đại
lộ kinh hoàng) để di tản vào Mỹ Chánh. V́
chúng tôi là Thiết Giáp, “ḿnh đồng da sắt”,
nên được lệnh phải đi sau cùng để
chận đứng mọi sự truy kích của địch
quân. V́ thế, khi đến Cầu Dài, Chiến xa
M48 của chúng tôi không thể nào lội qua sông
được, (v́ cầu đă bị phá sập) chúng
tôi đành phải bỏ xe, chạy bộ để
vào Huế. Nhưng v́ lực lượng của đối
phương mạnh gấp bội phần, hơn
nữa bị lâm vào trận địa pháo và địch
quân bao vây tứ bề. Đến khi chạy đến
đê Cù Hoan thuộc Huyện Hải Lăng (Quảng
Trị) chúng tôi liền bị một đơn
vị của đối phương phục kích. Chúng
chỉa súng AK vào chúng tôi và bảo: “Hàng sống,
chống chết”. Khi đó đơn vị cũng
đă tan ră rồi, chúng tôi đành phải đưa
hai tay lên đầu hàng thôi! Đó là vào sáng ngày
2/5/1972 ngày mà tôi bắt đầu bước vào
cuộc đời “tù binh” đầy gian nan và
nhiều nước mắt !...
Đầu tiên, chúng tập trung chúng tôi vào
một ngôi làng (sau nầy tôi biết đó là làng
Trung Đơn, Quảng Trị). Đợi đến
khi trời tối, chúng mới trói thúc ké hai tay tôi
lại và cột dính chùm với nhau cùng những tù
binh khác, và cứ thế chúng đưa chúng tôi đi
bộ ṛng ră hơn một tháng trời mới ra
đến Hà Nội. Cứ ban ngày th́ nghỉ,
nằm dưới những rừng cây già để
tránh máy bay Mỹ ném bom, đêm xuống
th́ lại tiếp tục đi. Ngày nầy qua ngày
khác, ăn uống th́ không có ǵ, ngoài mỗi bữa
chúng phát cho mỗi người hai tép lương khô
của Trung Cộng ăn cầm hơi, uống nước
suối để đi đường. Không bao
giờ nấu nướng ǵ được v́ sợ
lộ mục tiêu, máy bay Mỹ sẽ ném bom xuống.
V́ lo sợ chúng tôi trốn chạy, nên chúng lột
giày chúng tôi ra hết, và bắt chúng tôi đi chân không,
nên người nào người nấy chân cẳng
đều bị ứa máu te tua! Phần th́ ăn
uống không có ǵ, phần th́ uống nước
suối, và bị muỗi rừng đốt, nên
nhiều người bị bệnh sốt rét và kiết
lỵ, chết rơi rớt dọc đường
rất nhiều! Hồi đó tôi không ngờ địch
quân lại đưa chúng tôi ra giam giữ tại Cao
Bắc Lạng đâu? Tôi nghĩ rằng, chắc chúng
chỉ đưa chúng tôi vào một “mật khu” nào
đó của chúng mà thôi. Ai ngờ, sau một
tuần lễ đi đến Quảng B́nh, chúng bèn
thanh lọc ra những Sĩ Quan có cấp bậc
từ Chuẩn Úy trở lên đều phải
tiếp tục đi ra Hỏa Ḷ (Hà Nội) hết.
Ra đến Nghệ An, chúng bắt buộc mỗi người
chúng tôi phải cùi thêm sau lưng một bao gạo 25
kư để ăn dọc đường cho đến
tận Hà Nội. V́ những bao gạo đó mà suưt
nữa tôi đă bỏ mạng ở thành phố Vinh
rồi! Số là đoàn tù binh của chúng tôi đông
lắm, mà người nào cũng có cùi gạo trên lưng.
Khi đó gặp lúc máy bay Mỹ ra ném bom miền
Bắc, bay ngang qua tưởng chúng tôi là đoàn “dân
công”, một chiếc F5
liền sà xuống rất thấp trên đầu,
khiến tôi nh́n thấy được cả viên phi
công nữa. Khi đó chúng tôi biết rằng thế
nào cũng sẽ bị ăn bom chết rồi, bèn
liều ḿnh đưa hai tay quơ qua quơ lại làm
dấu đại vậy thôi. Không
ngờ, chắc viên phi công đó đoán
biết chúng tôi là đoàn “tù binh” nên không đánh
bom nữa và bay thẳng ra hạm đội. C̣n
những tên cán bộ áp giải chúng tôi quá sợ
hải trốn đâu mất tiêu. Sau khi máy bay qua
rồi, chúng mới ló mặt ra điểm danh chúng tôi
lại, rồi tiếp tục giải chúng tôi ra
tới Hà Nội.
Đúng 30 ngày sau (2/6/1972) chúng tôi đén Hỏa
Ḷ (Hà Nội). Tôi nghĩ rằng chắc phải
nằm ở đây với tù binh Mỹ rồi! Nhưng
không, mới tờ mờ sáng hôm sau, chúng phân phát cho
mỗi người chúng tôi một vắt cơm có
muối ở trong ruột, và ra lệnh tất cả
đều lên xe Môlotova trực chỉ hướng Tây
Bắc mà lên đường. Qua khỏi cầu Long Biên
(sông Hồng), vượt rừng núi Tây Bắc cho
gần đến chiều tối mới địa
điểm cuối cùng giam giữ tù binh. Đó là làng
Thất Khê (thuộc
tỉnh Lạng Sơn) mà đối
phương đặt tên là trại T.H. Đặc
biệt vùng nầy dân địa phương hoàn toàn
là dân tộc Tày, nằm sát bên bờ sông Kỳ Cùng.
Ở đây th́ đành chịu thôi, không biết
đường đâu mà vượt ngục. Ra ngoài
mà gặp người Tày th́ họ cũng bắt và
giao lại cho trại tù thôi. Suốt ngày chúng tôi
cứ ở trong bốn bức hàng rào, mỗi lần
nghe báo động có máy bay Mỹ đến là
tất cả đều xuống giao thông hào ẩn núp
theo lệnh của trại.
Thú vị nhất là những chiều nắng
ấm, chúng tôi được Trại hướng
dẫn cho ra tắm ở bờ sông Kỳ Cùng. Đặc
biệt gịng sông nầy có hai màu nước: gịng bên
kia bờ là nước đục, c̣n bên nầy
bờ của chúng tôi th́ nước trong. Riêng tôi nghĩ
rằng: Biết bao giờ tôi mới gặp lại
được gia đ́nh? Chắc “ngàn năm mây
bay” phải ở lại nơi xứ nầy rồi!
Cho nên chúng tôi thường nói đùa với nhau
rằng: “Bao giờ hai gịng nước nầy ḥa thành
cùng một gịng nước trong, th́ chúng tôi mới
được về!” Mà thật vậy, không
hiểu sao qua năm sau (1973), môt buổi chiều chúng
tôi ra bờ sông tắm th́ bỗng nhiên thấy
cả gịng sông Kỳ Cùng nước trong xanh vắt
một màu. Chúng tôi mừng quá, không biết hiện
tượng ǵ đây? Chắc lời nguyền
của chúng tôi được Thần linh báo ứng?
Đúng thế, khoảng một tháng sau chúng tôi
được nghe tin trên loa phóng thanh của Trại
là Hiệp Định Paris được kư kết,
chấm dứt chiến tranh, đó là ngày 27/1/1973, và
chúng tôi sẽ được “trao trả tù binh”.
Chúng tôi mừng quá đến rơi cả nước
mắt. Sau đó chúng tôi chờ đợi măi cho
đến tháng 3/1973 chúng mới đưa chúng tôi
về Hà Nội để chuẩn bị “trao
trả tù binh”. Riêng tôi th́ chỉ c̣n hai ngày nữa
là hết hạn “trao đổi tù binh”, th́ tôi
mới được đưa đến trao trả
tại bờ sông Thạch Hăn (Quảng Trị). Đó
là ngày 23/3/1973, cái ngày mà nó đă ăn sâu vào tâm
khảm tôi đến chết vẫn không bao giờ
quên. Chúng tôi có mặt bên
bờ Bắc sông Thạch Hăn đă
hơn một tuần lễ nay để chờ
đợi được gọi tên trao trả qua bên
bờ Nam sông Thạch Hăn. Ngày nào tôi cũng sống
trong sự hồi hộp lo âu, không biết ḿnh có
được trả về hay không? Có nhiều người
đến giờ phút chót vẫn không được
trao trả theo Hiệp Định Paris, v́ bị đối
phương lật lọng. Thế rồi, vào một
buổi sáng đẹp trời ngày 23/3/1973 ấy, tôi
được Trưởng đoàn “trao trả tù
binh” của đối phương gọi lên cùng
một số anh em tù binh khác, cho biết rằng hôm
nay chúng tôi được “trao trả tù binh”.
Thật không bút mực nào tả xiết nổi
sự vui mừng của chúng tôi trong lúc nầy. Riêng
tôi v́ quá mừng mà suưt nữa phát khóc trước
sự chứng kiến của đối phương,
nhưng tôi cố gắng nén lệ vào ḷng, để
dành khóc với thân nhân của ḿnh đang ngóng
chờ bên kia bờ sông Thạch Hăn!
Thật vậy, khi chiếc cano đưa chúng tôi
từ bờ Bắc cập bến bờ Nam sông
Thạch Hăn, tôi nhận thấy có rât nhiều quân nhân
các cấp ra đón tiếp, kèn trống nổi lên khúc
ca khải hoàn, trong đó có bà con thân hữu của
tôi đă có mặt ở đấy suốt cả
mấy tuần nay nhưng chẳng thấy bóng dáng tôi
đâu? Nhất là bà mẹ già của tôi, ngày nào cũng
lặn lội từ đèo Hải Vân (Lăng Cô) ra
đến Quảng Trị để chờ mong
gặp được đứa con trai trở về
từ cỏi chết! Đến ngày hôm nay bà mẹ
của tôi mới được thỏa ḷng mong đợi.
Mẹ tôi đă ôm con trai của bà vào ḷng và khóc
nức nở trong sự vui mừng! Riêng tôi, có
cảm tưởng rằng như mẹ tôi đă tái
sinh tôi ra lần thứ hai.
Thế rồi, qua một thời gian ngắn
ở “Trung Tâm An Dưỡng”, tôi lại được
trở về đơn vị cũ phục vụ như
hồi trước. Cấp bậc và chức vụ
vẫn như xưa, không có ǵ thay đổi. Tôi tưởng
rằng cuộc đời tôi rồi đây sẽ lên
hương, v́ tôi sẵn sàng chiến đấu và
phục vụ lại
quân đội cho đến cùng. Nhưng than ôi!
Chữ “nhưng” quái ác nầy đă làm cho
cuộc đời tôi lại phải vào tù một
lần thứ hai nữa!
Đó là ngày 30/4/1975. Sau khi miền Nam bị
bức tử, đối phương một lần
nữa lại bắt tôi tŕnh diện để đi
“lao cải” tức là đi ở tù lần thứ
hai! Lần nầy chúng giam
tôi hơn 6 năm v́ cái tội “ngoan cố”, đă
được “trao
trả” về rồi mà vẫn c̣n tiếp tục
đánh phá chúng. Âu cũng là số phận thôi!
Trong suốt hơn 6 năm trời ở tù
lần thứ hai nầy, tôi đă phải trải qua
rất nhiều trại từ B́nh Thuận ra đến
Tuy Ḥa (Phú Yên). Trại giam cuối cùng của tôi là
“Trại A30” (ở
Thạch Thành, Tuy Ḥa). Qua nhiều trại, nhưng cái
trại nầy do Công an trực thuộc Bộ Nội
Vụ quản lư, nên chúng hành hạ và bắt chúng tôi
lao động rất khổ sở. V́ ăn uống
thiếu thốn, mà lao động th́ quá sức người,
nhất là vấn đề thăm nuôi chưa có, nên
sức khỏe của hầu hết anh em tù “cải
tạo” đều bị sa sút.
Cho đến một hôm, vào tháng 12/1978 chúng tôi
nhận được lệnh cho phép viết thư
về gia đ́nh báo tin cho thân nhân được phép
ra thăm nuôi, đồng thời cho gia đ́nh
biết địa điểm nơi đến
gặp gỡ. Tôi cũng không ngoài ngoại lệ,
liền viết thư báo tin cho vợ con biết để
đi thăm. Khi vợ tôi nhận được thư
th́ mừng quá, v́ lâu ngày không được gặp
mặt, nhất là 3 đứa con rất nhớ Ba chúng
nó, và tôi cũng vậy! V́ thế, “bà xă” tôi
đă dắt díu luôn cả 3 đứa con từ Phan
Rang (Ninh Thuận) ra đến Tuy Ḥa để thăm
Ba. Khi ra đến nơi, vợ chồng, cha con
gặp nhau rất mừng rỡ, thỏa ḷng nhớ
mong, tưởng rằng sẽ c̣n có ngày gặp nhau
nữa! Ai ngờ !!!... Đó là lần cuối cùng tôi
gặp đứa con trai đầu ḷng yêu dấu
của tôi !!! Số là,
sau khi ra thăm nuôi xong, trên đường trở
về, khi xe đ̣ xuống đèo Cả (Nha Trang), xe
bị đứt thắng, tài xế không làm chủ
được tốc độ, nên cho xe húc vào thành
núi làm cho trên xe chết 6 người trong đó có
một đứa con trai đầu ḷng của tôi. C̣n
vợ và hai đứa con c̣n lại của tôi đều
bị thương rất nặng. Đứa th́
bị găy chân, đứa th́ bị sứt trán. Riêng
vợ tôi th́ bị mê man bất tỉnh, tất
cả đều được đưa vào bệnh
viện Nha Trang. C̣n đứa con trai đầu ḷng
bị tử nạn đó đă được
một người bà con ở Nha Trang đưa
về chôn cất tại quê nhà.
Tất cả những sự việc xăy ra đó,
tôi ở trong trại hoàn toàn không hay biết ǵ
hết. Sau khi ở quê nhà, thân nhân có báo ra cho
“trại cải tạo” biết t́nh trạng bi
đát của gia đ́nh tôi như vậy, nhưng
trại cũng đă dấu luôn không cho tôi biết ǵ
hết! Mọi người lo sợ tôi bị giao
động tinh thần trong lúc nầy không có lợi
cho bản thân, nên đều giữ kín không cho tôi
biết. Sau đó một thời gian, có vài gia đ́nh
ở quê vợ ra thăm nuôi thân nhân, họ có cho
bạn bè tôi biết, nhưng khi đến tai tôi th́
mọi sự đă quá muộn!
Chuyện xăy ra như vậy mà măi 3 tháng sau tôi
mới hay tin. Ḷng tôi như rối bời, thân xác
kiệt quệ. Mấy lần tôi đă ngă quỵ, tưởng
không thể sống nổi. May nhờ bạn bè an
ủi, giúp đỡ về vật chất cũng như
tinh thần, tôi đă qua khỏi. Tôi quá đau
buồn, và nghĩ rằng cuộc đời tôi sao
cứ khổ măi thế nầy? Tôi liền lên tŕnh bày
hoàn cảnh bi đát của tôi cho Ban Chỉ Huy
trại và xin phép được về nhà ít ngày
để thăm gia đ́nh. Nhưng làm ǵ có
chuyện được phép về thăm nhà trong lúc
nầy? Chúng bảo: “Ráng “cải tạo” tốt
th́ sẽ được về với gia đ́nh.”
Ôi! Thế nào là tốt? Đến khi nào th́ tốt?
Đối với tôi, tôi thấy chuyện đó
rất mơ hồ và quá viễn vông, và măi măi
sẽ không bao giờ tốt nổi với lủ
Cộng Sản. Tôi nghĩ, riêng tôi chắc phải
ở nơi rừng thiêng nước độc
Thạch Thành nầy “mút mùa lệ thủy” rồi!
V́ chúng đă xếp tôi vào
loại “ngoan cố”, khó cải tạo, nên
đă vào tù lần thứ hai.
Thế rồi, một hôm chúng tôi nhận
được một tin vui do những người
đến thăm nuôi cho biết là tất cả các
Sĩ quan dưới chế độ cũ, ở tù
trên 3 năm đều được đi định
cư ở Mỹ cùng với gia đ́nh. Tôi mừng
quá, nhưng vẫn c̣n bán tín bán nghi, cho đến
một hôm tôi được gọi ra thăm nuôi, nhưng
chỉ có vợ tôi và bà mẹ già thôi! Mấy con tôi,
đứa th́ ra đi vĩnh viễn, hai đứa c̣n
lại th́ vẫn đang c̣n nằm trong bệnh
viện. Ôi! T́nh Mẹ thật là bao la! Nghĩa vợ
chồng thật là thắm thiết! Trong hoàn cảnh
khắc nghiệt nào, người Mẹ bao giờ cũng
nghĩ đến đứa con trai của ḿnh. Trong
đau thương, khó khăn nào, người vợ
cũng chung thủy với chồng ḿnh! Ôi! T́nh yêu
thật là cao cả và nhiệm mầu! Gia đ́nh cũng
cho biết t́nh h́nh như vậy, và khuyên tôi cứ
hy vọng mà sống, và nhất là ráng giữ ǵn
sức khỏe, bảo toàn mạng sống để
về sum họp với gia đ́nh. Những lời vàng
ngọc đó như một liều thuốc hồi
sinh vực tinh thần chúng tôi dậy. Chúng tôi
rất phấn chấn và sống trong sự hy
vọng…
Người ta thường nói: “Tam thập nhi
lập”, nghĩa là tuổi đời sung măn
nhất, tạo dựng nên được sự
nghiệp huy hoàng nhất là ở độ tuổi
từ 30 đến 40. Nhưng trong cái độ
tuổi ấy của tôi, đều đă phải
trải qua trong trại tù Cộng Sản từ
Bắc chí Nam. Chúng vắt kiệt hết sức
lực của tôi rồi! Đế khi về
được với gia đ́nh sau 7 năm trời tù
tội th́ thân tàn ma dại, sức khỏe đă
mất hết rồi! Cộng them 10 năm ở tù ngoài
đời nữa, (trong tù là trại tù nhỏ, ra ngoài
đời ở VN là traị tù lớn) th́ c̣n ǵ
nữa là sức trai trẻ? Cả cuộc đời
vừa qua, tôi chưa làm một điều ǵ nên
nổi để đền đáp công ơn sinh thành
và sự hy sinh của Mẹ tôi. Đến khi có
được điều kiện để lo cho
Mẹ, th́ Mẹ đă ra người thiên cổ. Hôm
nay ngồi viết những ḍng nầy như một nén
hương ḷng kính dâng lên Mẹ, con luôn luôn nhớ
về Mẹ và rất biết ơn Mẹ! Con rất
hối hận v́ chưa làm tṛn được
bổn phận hiếu thảo của một thằng
con trai đối với Mẹ. Xin Mẹ hăy tha
thứ cho con, và xin Mẹ
phù hộ cho gia đ́nh con, cũng như cháu chắt
của Mẹ được mọi sự an lành.!
Viết đến đây v́ quá xúc động!
Tôi không tài nào viết tiếp được nữa!
Nếu những ḍng chữ nầy vô t́nh lọt vào
mắt những bạn nào đă từng bị
bắt làm tù binh, ở chung cùng trại T.H. (Lạng Sơn,
năm 1972 – 1973) với tôi. Hoặc những bạn nào
đă từng ở tù “cải tạo” cùng với
tôi tại Trại A30 (Thạch Thành, Tuy Ḥa) 1975 –
1981. Nếu được, th́ xin liên lạc với tôi
qua số điện thoại: (908) 810 – 8057
Hoặc Email : tonthatdan@yahoo.com
Chúng ta cùng nhau hàn huyên tâm sự, để ôn
lại những kỷ niệm xa xưa trong
cuộc đời nầy! Mong
vậy thay! |
|
NGƯỜI TÙ CẢI TẠO
Nhà gian, vách đất
ngủ bon chen. Người
tù cải tạo chỉ c̣n xương, Nguyễn Vạn Thắng
|
||
![]()
![]()
![]()
![]()
![]()
![]()
![]()
![]()
![]()
![]()
![]()
![]()