|
|||
|
CHÚA NHẬT XIX Thường Niên - TÔI LÀ BÁNH BAN SỰ SỐNG Video I AM THE BREAD OF LIFE - TA LÀ BÁNH HẰNG SỐNG (Sáng tác: Suzanne Toolan) - (Sáng tác: Kim Long) (Sau 15 giây vẫn chưa thấy hát xin ấn vào F5 hay Refresh hay Icon Play)
|
|
|||
|
TÔI
LÀ BÁNH BAN SỰ SỐNG Với
công thức “Tôi là bánh hằng sống”, Đức
Giêsu khẳng định rằng tương quan
giữa bản thân Ngài với loài người cũng
cùng một kiểu như tương quan giữa bánh
và chúng ta. 1.-
Ngữ cảnh Cũng như
trong việc chữa lành người bất toại
ở Ga 5, sang Ga 6, Đức Giêsu lấy sáng
kiến nuôi đám đông (6,4-13). Và đám đông
nh́n nhận việc nhân bánh ra lạ lùng là dấu
chứng tỏ Đức Giêsu là vị ngôn sứ và
vua của thời cánh chung mà dân con Israel hằng mong
đợi (6,14-15). Kế đó, việc Đức Giêsu
trên mặt biển sôi sục (6,16-19) và lời
“Thầy đây (egô eimi, “Tôi là”)” để
trấn an nhưng mang tính mạc khải cho các môn
đệ đang sợ hăi (6,20; x. Xh 3,14) cho
thấy thần tính của Ngài. Bài diễn từ
kế đó cũng tập trung vào bản thân Đức
Kitô (6,22-59). Trước tiên Đức Giêsu tỏ ra
chính Ngài là “bánh ban sự sống” (6,35.48), là
mạc khải của Thiên Chúa nhằm ban sự
sống cho loài người, là bánh ban sự sống
do Thiên Chúa Cha ban từ trời cho họ (6,32-33). Để
được thứ bánh ban sự sống vĩnh
cửu này, người ta phải tin vào Đức Giêsu,
là Đấng Chúa Cha sai phái (6,29.35.40.47), và ăn
thịt cùng uống máu Ngài (6,53.54.57.58). 1) Chuyển tiếp
vào Bài Diễn Từ (6,22-24); 2) Mở đầu
Bài Diễn Từ (6,25-34); 3) Chính Bài Diễn
Từ (6,35-50.51-59); 4) Phản ứng
lại với Bài Diễn Từ (6,60-71). 2.-
Bố cục Bản
văn có thể được chia thành bốn
phần: 1)
Người Do Thái xầm x́ (6,41-42); 2)
Đức Giêsu kêu gọi tin vào Ngài (6,43-47); 3)
Đức Giêsu mời gọi đón nhận Ngài là
Bánh Trường Sinh (6,48-50); 4)
Bánh Trường Sinh chính là thịt Đức Giêsu
(6,51). 3.-
Vài điểm chú giải - Tôi là (42): Kiểu nói “Tôi là” trong Tin Mừng
IV được liên kết với tên của Thiên
Chúa (x. Xh 3,14). Trong tư tưởng Sê-mít, tên
của một người cho thấy tính cách
của người ấy. Như thế, khi đồng
hóa chính ḿnh với tên Thiên Chúa, Đức Giêsu
mạc khải bản tính của Thiên Chúa và làm cho
người ta biết Thiên Chúa. Những lời nói
của Đức Giêsu thông ban ơn cứu độ
của Thiên Chúa, là nguồn mạch tối hậu ban
sự sống và ánh sáng cho Dân Người. Công
thức “Tôi là” được sử dụng cách
tuyệt đối trong 6,20; 8,24.28.58; 13,19; 18,5.6.8; đó
là cách Đức Giêsu mạc khải về bản thân
và uy quyền của Ngài. Một cách thường xuyên
hơn, công thức này được sử dụng
phối hợp với một ẩn dụ. Có 7
lần công thức “Tôi là” được dùng theo
kiểu ẩn dụ để nói rơ rằng Đức
Giêsu là một món quà Thiên Chúa ban cho loài người
để có sự sống đích thực và ánh sáng,
hoặc là ơn cứu độ được Thiên
Chúa ban cho nhân loại (6,35; 8,12; 10,7.9; 10,11; 11,25; 14,6;
15,1). 4.-
Ư nghĩa của bản văn Đến đây,
bên trong đám đông, bắt đầu xuất
hiện những nhân vât đặc biệt. Nhóm đầu
tiên là nhóm những người Do Thái. Chẳng
lẽ tất cả những người làm thành “đám
đông” lại không phải là Do Thái cả sao?
Thế mà bên trong đám đông, tác giả Gioan lại
phân biệt ra một nhóm riêng gọi là “người
Do Thái”, và Ngài coi đây là những người càm
ràm (“xầm x́”) và không tin. *
Người Do Thái xầm x́ (41-42) *
Đức Giêsu kêu gọi tin vào Ngài (43-47) Đức Giêsu liền can thiệp, nhưng
Ngài không bao giờ trả lời câu hỏi về
nguồn gốc của Ngài trên b́nh diện nhân
loại. Đứng tại quan điểm thần
học, Ngài cho biết “Chẳng ai đến với tôi được,
nếu Chúa Cha là Đấng đă sai tôi, không lôi kéo
người ấy” (c. 44). Ngài được Thiên Chúa
sai đến (c. 44) và Ngài đến từ Thiên Chúa
(c. 46), do đó Ngài có thể cho rằng Ngài từ
trời xuống. Nếu người Do Thái thôi
xầm x́, và để cho ḷng họ mở ra với
hoạt động của Thiên Chúa, Thiên Chúa sẽ lôi
kéo họ đến với Đức Giêsu. Đây chính
là lúc lời ngôn sứ Isaia (54,13) được
thể hiện: “Hết mọi người sẽ
được Thiên Chúa dạy dỗ”. Việc
dạy dỗ này có một phương diện
bề ngoài, theo nghĩa là nó được
cụ-thể-hóa bởi chính Đức Giêsu đang
đi lại giữa họ, và có một phương
diện bên trong, theo nghĩa là Thiên Chúa hành động
trong tim họ. Điều này cũng ứng nghiệm
lời ngôn sứ Gr (31,33). Sự thôi thúc bên
trong này do bởi Chúa Cha sẽ làm cho họ có khả
năng tin vào Người Con và như thế có
sự sống đời đời. *
Đức Giêsu mời gọi đón nhận Ngài là bánh
trường sinh (48-50) * Bánh trường sinh chính là thịt Đức Giêsu
(51) Sau đó, Đức Giêsu chuyển sang
một đề tài mới: bây giờ vấn đề
không c̣n phải là tin vào Ngài để được
sống đời đời nữa, mà là ăn
thịt và uống máu Ngài (cc. 51.54). Lâu nay các tác
giả vẫn coi đây là một gợi ư
về Bí Tích Thánh Thể, nhưng ta có thể
thấy nghĩa gần là Đức Giêsu nêu bật
giá trị của cái chết của Ngài trên thập
giá. Bởi v́ chính là trong tư cách Con Người mà
Đức Giêsu ban sự sống đời đời
và Ngài lại trở thành Con Người đúng vào
lúc cuối đời, vào Giờ của Ngài. Chính v́
nhắm nối dài gợi ư về cái chết trên
thập giá, tác giả dùng từ “thịt” (sarx),
thay v́ dùng từ “thân thể” (sôma).
Bởi v́ ư nghĩa căn bản và cũng là từ
nguồn của thịt mà Con Người sẽ ban không
phải là Bí tích Thánh Thể mà là ân ban “chính ḿnh”
trong cái chết trên thập giá. Vậy tại Caphácnaum,
khi nói đến “thịt để cho thế gian
được sống”, là Đức Giêsu muốn nói
là “bản thân Ngài (chịu sát tế) để cho
thế gian được sống”. *
Kết luận Điều mà không một thứ bánh nào có
thể cung cấp và không một lời hứa nào
của con người có thể đạt tới, cho
dù có xác tín đến đâu, Đức Giêsu có
thể ban tặng. Người mạnh hơn cái
chết và Ngài muốn đưa chúng ta đi qua bên
kia cái chết. Phần chúng ta, điều này có nghĩa
là chúng ta phải chạy đến với Ngài để
có sự sống đời đời, cũng như
chúng ta vẫn chạy đến với bánh trần
thế, để có sự sống trần thế. Nhưng
điều này cũng có nghĩa là các biên giới
của cái chết đă bị đánh đổ. Cũng
như trong bánh, chúng ta t́m được phương
thế để tránh thoát cái chết và tiếp
tục ở lại trong sự sống trần thế,
th́ cũng thế Đức Giêsu giúp chúng ta thắng
vượt sự chết và đi vào sự sống vĩnh
cửu. V́ bánh giữ cho tôi sống, tôi phải ăn
bánh, chứ không chỉ nói suông về bánh; v́
Đức Giêsu là bánh ban sự sống vĩnh
cửu, tôi phải đón nhận Ngài, tin vào Ngài và
“ăn thịt” của Ngài, chứ không chỉ
bằng ḷng với việc biết điều ǵ
đó về Ngài hoặc nói về Ngài, dù sâu sắc.
5.-
Gợi ư suy niệm 1. Đức Giêsu đă thật sự cho đám
đông được ăn no; nhưng biến cố
này không có ư nghĩa tự nó, nó quy về một thực
tại khác. Sự kiện Đức Giêsu có thể
ban bánh và cho no thỏa về phương diện
trần thế phải chứng minh rằng Ngài chính là
bánh ban sự sống đời đời. Ở bên
Ngài, chúng ta không được t́m cơm bánh vật
chất; trái lại chúng ta phải nhận biết Ngài
có thể và Ngài muốn ban cho chúng ta điều vô cùng
to lớn hơn. Điều mà chúng ta đang t́m
kiếm nơi Đức Giêsu và chúng ta phải
nhận được từ nơi Ngài, có thể
được tóm trong câu này: “Chính
tôi là bánh trường sinh. Ai đến với tôi,
không hề phải đói; ai tin vào tôi, chẳng khát
bao giờ” (Ga 6,35; x. 6,48.51). 2. Đức Giêsu đă ra sức soi sáng chúng ta và
quy hướng sự chú ư của chúng ta vào ân ban
cốt yếu của Ngài. Lương thực ban cho
đám đông chỉ là một dấu chỉ.
Chúng ta coi thường dấu chỉ này, nếu chúng
ta dừng lại với các mối quan tâm tức
thời và chờ đợi Ngài ban cho cơm bánh và
sức khỏe; thật ra Ngài muốn ban nhiều hơn
thế nữa. Khi nói “Tôi là bánh hằng sống”,
Đức Giêsu đặt ḿnh vào trong mạc khải
của Thiên Chúa mà Môsê đă được thông
dự vào khi được Thiên Chúa kêu gọi. Vào
dịp đó, Thiên Chúa đă mạc khải tên
của Ngài: “Ta là Đấng Ta là” (Xh 3,14). Thiên
Chúa được xác định chủ yếu
bằng sự kiện là Ngài hiện diện v́ Dân Ngài.
Khi tự giới thiệu ḿnh như thế, Đức
Giêsu nói rằng Thiên Chúa đang hiện diện nơi
Ngài v́ loài người và quan tâm đến chúng ta,
đến đời sống chúng ta. Đức Giêsu
hiện thân là h́nh thái mới và vĩnh viễn
của sự hiện diện đầy uy lực và năng
động của Thiên Chúa, không chỉ nhắm ban
sự che chở và hướng dẫn, mà c̣n nhắm
có sự hiệp thông riêng tư về sự sống.
Đức Giêsu không chỉ muốn ban bánh, mà c̣n ban
sự hiệp thông vĩnh cửu riêng tư về
sự sống với Thiên Chúa.
3. Chúng ta lệ thuộc cơm bánh, để đảm
bảo được sự sống của chúng ta. Không
có sức lực đến từ cơm bánh, chúng ta
không thể sống và làm được ǵ. Điều
này không tùy thuộc ư chí chúng ta; nó là như thế.
Do bản tính tự nhiên, chúng ta phải nhờ cơm
bánh. Có cơm bánh, cũng có khả năng của cơm
bánh là duy tŕ sự sống cho chúng ta. Nhưng đây
chỉ là một khả năng giới hạn, v́
cuối cùng chúng ta vẫn phải chết. Với công
thức “Tôi là bánh hằng sống”, Đức Giêsu
khẳng định rằng tương quan giữa
bản thân Ngài với loài người cũng cùng
một kiểu như tương quan giữa bánh
và chúng ta. Đích thân Ngài, với tất cả
những ǵ thuộc về Ngài, có thể ban cho chúng
ta những ǵ bánh đưa lại cho chúng ta, nhưng
không chỉ nhằm sự sống giới hạn, mà
là sự sống vĩnh cửu vô biên. 4. Dây liên kết duy nhất đích thật với
Đức Kitô là tin vào Ngài. Tôi tin vào Ngài khi tôi kư
thác tất cả ḷng trí tôi nơi Ngài, xác tín vào
lời Ngài nói, xây dựng mọi sự dựa trên
Ngài, nhắm mọi sự theo Ngài, liên kết đời
tôi vào Ngài. Đức tin không phải là một xác
tín về trí thức và một đoan chắc
rằng một lời khẳng định hay
một sự kiện nào đó là thật; đức
tin là một thái độ chắc chắn và tin
tưởng tỏ ra với Đức Giêsu, với ư
thức trọn vẹn rằng Ngài là ai và với
sự nhận biết đầy đủ về chân
tính của Ngài. Đức tin là tương quan và dây
liên kết người với người. Niềm
tin vào Đức Giêsu đưa lại sự sống
đời đời (6,47). Lm
PX Vũ Phan Long, ofm
|
|||
|
|
|||
|
Tin Mừng
Theo Thánh Gioan 6, 41-51
The Jews murmured about Jesus because he said, "I am the bread that
came down from heaven," and they said, "Is this not Jesus, the
son of Joseph? Do we not know his father and mother? Then how can he say,
'I have come down from heaven?'" Jesus answered and said to them,
"Stop murmuring among yourselves. No one can come to me unless the
Father who sent me draw him, and I will raise him on the last day. It is
written in the prophets: They shall all be taught by God. Everyone
who listens to my Father and learns from him comes to me. Not that anyone
has seen the Father
|
|||
|
|
|||
|
|
|||
|
|
|||
|
|
|||
|
Video I AM THE BREAD OF LIFE - TA LÀ BÁNH HẰNG SỐNG (Sáng tác: Suzanne Toolan) - (Sáng tác: Kim Long) (Sau 15 giây vẫn chưa thấy hát xin ấn vào F5 hay Refresh hay Icon Play)
|
|||
|
Cám ơn quí vị đă theo dơi chương tŕnh của Diễn Đàn Giáo Dân Xin Thiên Chúa chúc phúc lành đến quí vị.
|