Lời Chúa Hàng Tuần

Ngày 4 tháng 4 năm 2010

Dien Dan Giao Dan 

Quí vị đang nghe  NGÀI CÓ ĐÓ  của Ân Đức (Lệ Hằng hát)

 

NGÔI MỘ TRỐNG
CHÚA NHẬT PHỤC SINH 04.4.2010
Cv 10,34a.37-43; Cl 3,1-4; Ga 20,1-9

Lm Nguyễn Thể Hiện dcct


   Kinh nghiệm về mầu nhiệm Phục Sinh gồm hai khía cạnh: tiêu cực và tích cực. Trước tiên, đó là kinh nghiệm về một sự khiếm diện, một sự trống vắng, nhưng là sự trống vắng có giá trị của một dấu chỉ về sự sống. Sau đó sẽ là trải nghiệm chính sự sống đó. Tŕnh thuật về ngôi mộ trống (Ga 20,1-9) hôm nay đề cập đến khía cạnh thứ nhất của kinh nghiệm về mầu nhiệm Phục Sinh.

Sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần, lúc trời c̣n tối, bà Maria Magđala ra mộ, th́ thấy tảng đá đă bị đem đi khỏi mộ” (20,1).

   Trong bản văn Hy Lạp, tác giả dùng từ prôi, dịch là sáng sớm, tảng sáng. Prôi là lúc đă có ánh sáng rồi. Xét theo quan điểm thời gian, thật khó dung hoà với ghi nhận “lúc trời c̣n tối” được tác giả viết ngay sau đó. Tuy nhiên, trong ngôn ngữ của Ga, “bóng tối” có nghĩa là t́nh trạng (trước tiên là tinh thần và tâm linh) đối nghịch với sự thật đem lại sự sống (1,5; 3,19; 6,17; 12,35). V́ thế, có lẽ phải hiểu “c̣n tối” ở đây theo nghĩa ám chỉ t́nh trạng tinh thần và tâm linh của bà Maria Magđala. Bà đi ra mộ với tâm trạng hoàn toàn bị chi phối bởi cách hiểu sai lạc về cái chết của Đức Giêsu và bà đă không nhận ra rằng ngày mới đă bắt đầu rồi, rằng trời đă sáng rồi. Bà t́m Đức Giêsu nơi cơi của người chết. Bà nghĩ rằng sự chết đă chiến thắng. Bà chỉ có ư định đi thăm mộ Đức Giêsu thôi, chứ không có ư làm bất cứ điều ǵ khác.

   Khi đến nơi, bà thấy tảng đá đă bị đem đi khỏi mộ. “Bà liền chạy về gặp ông Simôn Phêrô và gặp người môn đệ Đức Giêsu thương mến. Bà nói: "Người ta đă đem Chúa đi khỏi mộ; và chúng tôi chẳng biết họ để Người ở đâu” (20,2).

   Ta có cảm tưởng bà Maria chạy đôn chạy đáo báo động. Chú ư: tác giả lặp lại giới từ pros, ám chỉ ông Phêrô và người môn đệ Đức Giêsu thương mến đang ở hai nơi chốn khác nhau. Đúng như lời Đức Giêsu đă nói trước, các môn đệ bị phân tán: “Này đến giờ - và giờ ấy đă đến rồi - anh em sẽ bị phân tán mỗi người mỗi ngả” (16,32).

   Nhưng thay v́ thông báo cho các môn đệ Đức Giêsu rằng tảng đá đă bị đem đi khỏi mộ như bà đă nh́n thấy, th́ bà Maria lại nói: “Người ta đă đem Chúa đi khỏi mộ”. Việc tảng đá bị đem đi khỏi mộ vốn là dấu hiệu chứng tỏ sự chết không c̣n chặn lối Đức Giêsu được nữa. Nhưng dấu hiệu ấy đă bị bà Maria hiểu sai hoàn toàn. Dấu hiệu của sự sống bị hiểu thành dấu chỉ của sự mất mát. Đối với bà Maria, Đức Giêsu là Chúa, nhưng là vị Chúa đă bị tước sạch mọi quyền bính, và lúc này bà chẳng biết vị Chúa ấy đang bị đặt ở đâu. Bà vẫn chưa ra khỏi kinh nghiệm đau thương về sự kiện Đức Giêsu bị nộp và bị giết. Bà là h́nh ảnh của cộng đoàn đang mất phương hướng v́ cái chết thê lương của Đức Giêsu. Bóng tối được nói đến ở câu 20 phản ánh t́nh cảnh của cộng đoàn đó. Cộng đoàn đang hoang mang t́m kiếm, nhưng là t́m kiếm Đức Chúa đă bị sự chết khuất phục. Đức Chúa của cộng đoàn đă bị “người ta” đặt ở nơi nào họ muốn, và do đó, cộng đoàn các đồ đệ trở nên hoàn toàn bất lực và bất hạnh.

   “Ông Phêrô và môn đệ kia liền đi ra mộ. Cả hai người cùng chạy. Nhưng môn đệ kia chạy mau hơn ông Phêrô và đă tới mộ trước” (20,3-4). Cả hai môn đệ đều phản ứng giống nhau trước thông tin mà bà Maria cung cấp. Hai ông đều đi ra mộ. Cả hai ông đều gắn bó với Đức Giêsu. Nhưng trên đường đi, đă xảy đến một sự thay đổi quan trọng: người môn đệ Đức Giêsu thương mến chạy mau hơn ông Phêrô và đến mồ trước. Để hiểu rơ hơn chi tiết này, có lẽ chúng ta cần chú ư đến cách tác giả Gioan mô tả về người môn đệ tới mộ trước.

   Đă hơn một lần người môn đệ này được đề cập đến trong Ga, nhưng lần này, có một sự thay đổi quan trọng. Thay v́ gọi ông là “người được Đức Giêsu yêu mến” (Hy Lạp: hon êgapa ho Iêsous) như ở 13,23; 19,26; 21,7.20, th́ ở đây tác giả lại gọi ông là “người được Đức Giêsu thương mến” (Hy Lạp: hon ephilei ho Iêsous), một công thức tương tự như cách gọi ông Lazarô: hon phileis (11,3). Vậy ở đây, tác giả có ư nhấn mạnh đến tư cách của người môn đệ này như là người bạn của Đức Giêsu, người thực hiện lệnh truyền của Đức Giêsu (“Anh em là bạn hữu của Thầy, nếu anh em thực hiện những điều Thầy truyền dạy”: 15,14), tức là người yêu mến anh em ḿnh (“Đây là điều răn của Thầy: anh em hăy yêu thương nhau như Thầy đă yêu thương anh em”: 15,12). Cách gọi “người môn đệ kia” (c.4b) lại gợi ư cho chúng ta về 18,15-16, nói về người môn đệ đă theo Đức Giêsu vào tận trong dinh thượng tế trong cuộc khổ nạn của Đức Giêsu. Như vậy, người chạy đến mộ trước chính là người đă từng có kinh nghiệm sâu xa hơn về t́nh yêu của Đức Giêsu và đă từng chứng tỏ t́nh yêu đối với Đức Giêsu tận nơi chân thập giá (19,35), chứ không phải là ông Phêrô, người đă từng chối bỏ Thầy.

   Vậy người môn đệ Đức Giêsu thương mến đến mộ, “ông cúi xuống và nh́n thấy những băng vải c̣n ở đó, nhưng không vào” (20,5). “Những băng vải” (othoniois) ở đây được tŕnh bày như là những băng vải hôn lễ. Hạn từ othonion có nghĩa là một dải len, một băng vải trang hoàng trong hôn lễ, khác với những dải vải (keiriais) quấn xác ông Lazarô trong 11,44. Các băng vải được đặt ở chỗ đă đặt xác Đức Giêsu. Các băng vải đó là dấu hiệu của hôn lễ, của sự sống, của sự phong nhiêu. Ngôi mộ trống đă trở thành như một căn pḥng hôn lễ, căn pḥng của sự sống và sự phong nhiêu.

   Người môn đệ không vào trong mộ. Ông sẽ vào sau ông Phêrô. Ông nhường cho ông Phêrô được bày tỏ t́nh yêu mến đối với Thầy trước, bởi lẽ chỉ vài ngày trước đó, ông Phêrô đă chối Thầy trong sân dinh thượng tế c̣n người môn đệ kia th́ vẫn tiếp tục theo Đức Giêsu đến tận chân thập giá. Cách cư xử này cho thấy người môn đệ được Đức Giêsu thương mến đang muốn thực hiện một hành vi bao dung và hoà giải. Ông tôn trọng người anh em ḿnh và muốn để cho ông Phêrô được ưu tiên diễn tả t́nh yêu của ông đối với Thầy.

   “Ông Simôn Phêrô theo sau cũng đến nơi. Ông vào thẳng trong mộ, thấy những băng vải để ở đó, và khăn che đầu Đức Giêsu. Khăn này không để lẫn với các băng vải, nhưng cuốn lại, xếp riêng ra một nơi” (20,6-7). Ông Phêrô thấy các băng vải được xếp đó, nhưng có lẽ chưa hiểu ư nghĩa của chúng. Ngoài ra, ông c̣n thấy khăn che đầu Đức Giêsu. Khăn che đầu này là yếu tố chung duy nhất giữa việc táng xác Đức Giêsu và việc an táng ông Lazarô. Khăn này là biểu trưng cho sự chết. Trong trường hợp ông Lazarô, chiếc khăn này che mặt ông, c̣n trong trường hợp Đức Giêsu, chiếc khăn này không che mặt Người, mà chỉ che đầu Người thôi. Điều đáng nói ở đây: chiếc khăn này bị cuốn lại, xếp riêng ra một nơi, phân biệt với các băng vải đang được để tại nơi Đức Giêsu đă từng an nghỉ. Sự chết đă bị “xếp riêng ra”, bị gạt sang một bên.

   “Bấy giờ người môn đệ kia, kẻ đă tới mộ trước, cũng đi vào. Ông đă thấy và đă tin” (20,8). Người môn đệ này đă thấy những băng vải được xếp đó như để trang trí cho pḥng hôn lễ, dấu hiệu của sự sống, của t́nh yêu, của hạnh phúc và của sự phong nhiêu. Ông hiểu rằng sự chết đă không làm đứt đoạn sự sống. Chiếc khăn biểu tượng cho sự chết đă không che mặt Đức Giêsu nhưng đă bị cuốn lại và xếp riêng ra một nơi, v́ sự chết không thể cầm tù Đấng ban sự sống được.

   Một lần nữa tác giả Tin Mừng lại nhấn mạnh sự khác biệt giữa hai môn đệ. Ông không nói ǵ về phản ứng của ông Phêrô khi nh́n thấy ngôi mộ trống với những băng vải được để đó và chiếc khăn biểu đạt sự chết được cuốn lại xếp riêng ra. Nhưng ông ghi nhận cách tường minh ḷng tin của người môn đệ được Đức Giêsu thương mến. Người môn đệ này luôn sống thân nghĩa và trung thành với Thầy Giêsu, nên đă nhanh chóng nhận ra ư nghĩa của những thực tại được tŕnh bày trong ngôi mộ trống, cho dù “trước đó, hai ông chưa hiểu rằng: theo Kinh Thánh, Đức Giêsu phải trỗi dậy từ cơi chết” (20,.9).

   Tóm lại, ngôi mộ trống, yếu tố chính yếu của tŕnh thuật Tin Mừng hôm nay, chứng tỏ Đức Giêsu không hề bị sự chết giam cầm. Đă bắt đầu một ngày mới. Trời đă rạng sáng. Cuộc Vượt Qua của Đức Kitô (cũng là của chính chúng ta) đă hoàn tất.

   H́nh ảnh bà Maria Magđala trong bài Tin Mừng là h́nh ảnh của cộng đoàn các đồ đệ đang đau khổ và mất phương hướng v́ cái chết bi thảm của Đức Giêsu, Chúa của họ. Cộng đoàn đó được khắc hoạ trong h́nh ảnh bà Maria Magđala vẫn c̣n đi trong tối tăm, cho dù trời đă sáng rồi. Chúng ta cũng có thể và chắc chắn đă nhiều lần hành xử như bà Maria Magđala: quá đau khổ v́ những thực tại đau thương trong cuộc sống, ta hoá ra như thể không c̣n khả năng tin vào một thế giới mới đă được khai mở với cuộc phục sinh của Chúa chúng ta, Đức Giêsu Kitô. Ngôi mộ trống và sự khiếm diện của Đức Giêsu bị hiểu sai thành bằng chứng của một mất mát lớn lao và đau đớn. Nhưng, như đoạn văn kế tiếp trong sách Tin Mừng tường thuật, chính Đức Giêsu sẽ đi t́m bà Maria và tỏ ḿnh cho bà.

   Những môn đệ thân tín từng gắn bó sâu xa với Đức Giêsu theo các mức độ khác nhau sẽ đón nhận sứ điệp từ ngôi mộ trống theo những cách thức và mức độ khác nhau. Tất cả đều không mong chờ sự Phục Sinh của Đức Giêsu, v́ “họ chưa hiểu rằng: theo Kinh Thánh, Đức Giêsu phải trỗi dậy từ cơi chết”. Tuy nhiên, người môn đệ đă từng trải nghiệm sâu sắc t́nh yêu mến của Đức Giêsu và sống theo lệnh truyền của Người, th́ nhanh chóng hơn trong việc “thấy và tin”. Ông nhận ra nơi ngôi mộ trống dấu hiệu của sự sống. Ông tin rằng Đức Chúa của ông đă sống lại. Mặc dù không phải là một bằng chứng tích cực của mầu nhiệm Phục Sinh, nhưng ngôi mộ trống và những băng vải được đặt trong đó, đối với ông, đă thực sự là dấu hiệu của sự sống. Người môn đệ Đức Giêsu thương mến đă nhận ra ư nghĩa đó, và ông đă tin.

   Không phải lúc nào chúng ta cũng được trải nghiệm về sự hiện diện của Chúa Phục Sinh trong cuộc đời. Rất nhiều khi Người có vẻ khiếm diện. Rất nhiều lúc chúng ta chỉ gặp “ngôi mộ trống”. Nhưng đó là sự khiếm diện và trống vắng có giá trị của dấu chỉ về sự sống mới, sự sống đích thực, sự sống phong nhiêu và hoan lạc. Chính mối tương quan t́nh yêu của mỗi người chúng ta với Đức Kitô sẽ giúp chúng ta đi vào khoảng trống đó để thấy và tin, giống như người môn đệ được Đức Giêsu thương mến trong bài Tin Mừng hôm nay.

  
Bài Tin Mừng Chúa Nhật kế tiếp sẽ kể cho chúng ta những trải nghiệm tích cực của các môn đệ về sự hiện diện của Chúa Kitô Phục Sinh.

 

 

     

 

Diễn Đàn Giáo Dân xin quí vị thêm lời cầu nguyện cho Việt Nam:

có công lư và hoà b́nh, có dân chủ và tự do,

không c̣n bất công và gian dối.