|
NGƯỜI
QUẢN LƯ TRUNG TÍN VÀ KHÔN NGOAN
Trong một thời gian ngắn các nước
Á Châu đă phải chứng kiến sự ra đi
của nhiều lănh tụ. Trước hết là
việc chạy trốn của ông Fujimori. Ông Fujimori
đă làm tổng thống nước Peru đến
nhiệm kỳ thứ 2. Nhưng v́ tham nhũng, ông
đă phải trốn chạy về Nhật. Tiếp
đến là ông Estrada, tổng thống nước
Philippine. Ông đă thắng cử với số
phiếu áp đảo. Nhưng cuối cùng phải
từ chức cũng v́ tội tham nhũng. Gần
đây là ông Wahid, tổng thống Inđônêsia. Ông
đă sang Mỹ tị nạn cũng v́ tham nhũng.
Tất cả chỉ v́ họ đă làm sai nhiệm
vụ. Họ chỉ là quản lư chứ không làm
chủ đất nước. Dân mới làm chủ.
Nhưng họ đă không làm tốt nhiệm vụ
quản lư. Nên họ đă bị sa thải.
Chúng ta cũng
là người quản lư của Thiên Chúa. Thật
vậy, sự sống, tài năng, trí thông minh,
sức khoẻ, sắc đẹp, tất cả đều
là ơn Thiên Chúa ban. Nói tóm lại, tất cả
những ǵ ta có, tất cả những ǵ ta là, đều
là của Thiên Chúa. Chắc chẳng có ai dám tự
hỏi: Tại sao tôi không cao hơn, không mập hơn?
Tại sao tóc tôi không vàng hoe, mắt tôi không xanh
biếc? Tại sao tôi không có tài hội họa, có
giọng ca hay? Ta không thể hỏi như vậy, v́
ta không có quyền ǵ trên đó. Tất cả đều
là của Thiên Chúa. Chúng ta chỉ là quản lư. Thiên
Chúa trao sự sống, tài năng, trí thông minh cho ta ǵn
giữ trong một thời gian. Nói theo ngôn ngữ
Trịnh Công Sơn tất cả những thứ đó
chỉ “ở trọ” nơi ta.
Con chim ở trọ cành tre,
Con cá ở trọ trong khe nước nguồn.
Môi xinh ở trọ người xinh,
Duyên dáng ở trọ đôi chân Thuư Kiều.
Tôi nay ở trọ trần gian,
Mai sau về chốn xa xăm với Người.
Một ngày
kia Thiên Chúa sẽ đ̣i ta tính sổ. Lúc đó ta
phải nộp cho Thiên Chúa cả vốn lẫn lăi.
Là người
quản lư, ta phải có những đức tính nào?
Thưa, Thiên Chúa muốn ta là người quản lư trung
tín và khôn ngoan.
Là quản lư
trung tín, ta phải biết sinh lợi những tài
sản Thiên Chúa trao. Phải biết phát triển sao
cho thân xác ngày càng khoẻ mạnh, trí thông minh ngày càng
sáng suốt, những tài năng ngày càng đạt
đến mức tinh vi hoàn hảo.
Là quản lư
trung tín, ta phải biết chia sẻ. Thiên Chúa ban
sức lực, tài năng không phải để ta ích
kỷ vun quén cho bản thân, nhưng để ta dùng
mà phục vụ. Người có của mắc nợ
người nghèo. Người có tài mắc nợ xă
hội. Nghệ sĩ mắc nợ khán giả. Giám
đốc mắc nợ công nhân. Bác sĩ mắc
nợ bệnh nhân. Linh mục mắc nợ giáo dân.
Cha mẹ mắc nợ con cái.
Là
quản lư trung tín, ta không được phản
bội. Không được dùng những ơn Thiên Chúa
ban để chống lại Thiên Chúa. Đừng dùng
sức mạnh mà áp bức người khác. Đừng
dùng tài năng phục vụ lợi nhuận riêng ḿnh.
Đừng dùng trí thông minh gieo rắc nọc độc
tư tưởng. Đừng biến thân xác thành món
hàng mua bán. Nhưng dùng tất cả để
phục vụ Thiên Chúa. Dùng tất cả để làm
cho Thiên Chúa được yêu mến, được
vinh danh hơn.
Là quản lư
khôn ngoan, ta phải biết nh́n xa. Sự sống, tài
năng, sức lực, trí thông ḿnh chỉ ở
trọ nơi ta một thời gian. Phải làm cho chúng
biến thành vĩnh cửu. Nhiều lần Chúa Giêsu
đă dạy ta: “Hăy dùng tiền của chóng qua ở đời
này mà mua lấy bạn hữu. Để sau này
họ sẽ đón rước ngươi vào
chốn đời đời”. Hôm nay Người dạy
ta: “Hăy
sắm lấy những túi tiền chẳng bao giờ
cũ rách, một kho tàng chẳng thể hao hụt, là
kho tàng ở trên trời, nơi không có trộm
cắp bén mảng, cũng không có mối mọt đục
phá”.
Lạ lùng hơn nữa, cách gây dựng kho tàng trên
trời khác hẳn với cách gây dựng kho tàng
trần gian. Để
gây dựng kho tàng trần gian, ta phải hà tiện,
ích kỷ, thu tích cho ḿnh. Trái lại, để gây
dựng kho tàng trên trời, ta phải biết cho đi.
Càng cho đi lại càng giàu có. Càng phân phát lại càng
dư thừa. Càng ban tặng lại càng phong phú.
Là
quản lư khôn ngoan, ta phải tỉnh thức.
Cuộc đời ở trọ mau qua. Thiên Chúa
lại hay đến bất ngờ. Nên ta phải
tỉnh thức đợi chờ. Đợi chờ
không phải là thụ động ngồi đó khoanh
tay. Đợi chờ là phải tích cực làm
việc. Thắt lưng vào, thắp đèn lên để
làm việc cho chính ḿnh như giữa ban ngày. Để
phục vụ không bao giờ ngừng. Dù Thiên Chúa có
đến lúc nào, Thiên Chúa cũng thấy ta đang
mặc quần áo công nhân phục vụ. Dù có
bất ngờ như kẻ trộm, Thiên Chúa cũng
thấy quản lư đang phục vụ anh em, phân phát
lúa thóc cho họ.
Lạy Chúa,
xin nhắc cho con luôn luôn nhớ rằng con là người
quản lư của Thiên Chúa, để dù ở đâu,
dù làm ǵ, con cũng luôn làm cho Thiên Chúa, luôn tỉnh
thức sống dưới ánh mắt của Thiên Chúa.
Amen.
KIỂM
ĐIỂM ĐỜI SỐNG
1- Bạn có lần nào nghĩ rằng thân xác cùng
với những ǵ bạn có thực sự không
phải là của bạn không?
2- Trong quá khứ bạn đă là người
quản lư trung tín và khôn ngoan của Thiên Chúa chưa?
3- Phải làm thế nào để trở thành người
quản lư trung tín và khôn ngoan?
4- Làm sao để biến những ǵ ta đang có
thành vĩnh cửu.
TGM Ngô Quang Kiệt
|
|
AI ĐƯỢC
GIAO PHÓ NHIỀU, TH̀ SẼ BỊ Đ̉I HỎI
NHIỀU HƠN
1 - "Hỡi đoàn chiên nhỏ !".
"Hỡi
đoàn chiên bé nh " được thốt lên từ miệng Chúa
Giêsu là cách diễn tả thân yêu tâm t́nh đối
với các môn đệ, một cộng đồng
nhỏ bé tiên khởi - không có ǵ đáng kể tính
theo số đông và thiếu thốn mọi phương
tiện để sống, cũng như thực
hiện sứ mạng của ḿnh - so với cộng
đồng cộng đồng Ki Tô giáo về sau:
- "Hỡi đoàn chiên bé nhỏ, đừng
sợ, v́ Cha anh em đă vui ḷng ban Nước của
Ngài cho anh em" ( Lc 12, 32).
Chúa Giês trấn
an các môn đệ "đừng
sợ !", bằng
cách nói cho các vị lư do đầy hứa hẹn và
an ủi:
- " ...v́ Cha anh em đă vui ḷng ban Nước
của Ngài cho anh em".
Điều đó
có nghĩa là "Cha
anh e "
đang ở gần anh em như vị vua đầy
quyền năng và như người mục tử nhân
lành lo lắng cho anh em, bởi đó dầu cho anh em là
một thiểu số không đáng kể, thiếu
mọi phương tiện vật chất, anh em cũng
không có ǵ phải lo lắng.
Đây là một
câu nói đầy ư nghĩa, đúc kết nền
thần học vào niềm hy vọng Nước
Trời thời cánh chung, lúc chính Thiên Chúa Cha sẽ
ban tặng chính Ngài cho các tín hữu, như những
ǵ Thánh Luca sẽ khai triển rơ ràng hơn trong
bối cảnh Buổi Tiệc Ly, trong đó Ngài đoan
hứa với các môn đệ sẽ được
tham dự vào vương tước Đấng
Cứu Thế:
- "Bởi đó, Thầy sẽ
trao Vương Quốc cho anh em, như Cha Thầy đă
trao cho Thầy, để anh em được đồng
bàn ăn uống với Thầy trong Vương
Quốc của Thầy, và ngự toà xét xử mười
hai chi tộc Israel"
( Lc 22, 29-30).
"Đoàn
chiên nh "
được đặt liên hệ với Vương
Quốc của Đấng Cứu Thế làm cho chúng
ta liên tưởng đến dụ ngôn về hạt
cải và men bột:
- "Nước Thiên Chúa giống như
chuyện một hạt cải người nọ
lấy gieo trong vườn ḿnh. Nó lớn lên và
trở thành cây, chim trời làm tổ trên cành
được... Nước Thiên Chúa giống như
chuyện nắm men bà kia lấy vùi vào trong ba thúng
bột, cho đến khi tất cả bột dậy
men"
(Lc 13, 19-20).
Điều đó
làm cho chúng ta hiểu được ư muốn của
Thiên Chúa, "đă vui ḷng" có sức mạnh hơn
bao nhiêu lần h́nh dáng bên ngoài của nhóm môn đệ
bé nhỏ và đứng trước bao nhiêu hăm
dọa sẽ bị thất bại trong sứ mạng
rao giảng Phúc Âm của ḿnh, được Chúa Giêsu
giao phó cho.
Đó cũng là
những ǵ Thánh Luca thuật lại Thiên Chúa đă làm
trong Bài Ca Ngợi Khen Magnificat của Đức Trinh
Nữ Maria:
- "Chúa giơ tay biểu dương sức
mạnh, dẹp tan phường ḷng trí kiêu căng. Chúa
hạ bệ những ai quyền thế, Ngài nâng cao
mọi kẻ khiêm nhường. Kẻ đói nghèo Chúa
ban của dư đầy, người giàu có,
lại đưổi về tay trắng"
( Lc 1, 51-53).
Nếu với ḷng
tốt lành yêu thương, Thiên Chúa Cha "đă vui ḷng ban Nước của Ngài cho
anh em",
th́ không có lư do ǵ "đoàn chiên bé nhỏ" phải áy náy lo sợ.
Bởi đó
họ có thể "bán
tài sản của ḿnh đi mà bố thí" ( Lc 12, 33).
Đây là đoạn
nói lên đặc tính cá biệt của Phúc Âm Thánh
Luca, tác giả Phúc Âm của đức khó nghèo:
tách biệt khỏi của cải vật chất, không
chỉ hệ tại ở thái độ tách biệt
trong tinh thần, mà c̣n phải được thể
hiện ra bằng hành động thiết thực,
bằng động tác bố thí cho người nghèo,
như những ǵ là động tác của
- ông Levi: "Sau đó, Chúa Giêsu ra đi và trông
thấy một người thu thuế, tên là Levi,
đang ngồi ở trạm thu thuế. Người
bảo ông: "Anh hăy theo Ta". Ông bỏ tất
cả, đứng dậy đi theo Ngài" ( Lc 5,
27-28),
- ông Zaccheo: “Ông Zacccheo đứng đó,
thưa với Chúa Giêsu rằng: "Thưa Thầy,
đây phân nửa tài sản của con, con cho người
nghèo; và nếu con đă chiếm đoạt của
ai cái ǵ, con xin đền gắp bốn” ( Lc 19, 8),
- ông Barnaba: “Ông Giuse, người được các Tông
Đồ đặt tên là Barnaba, nghĩa là người
có tài yên ủi, có một thửa đất... Ông bán
đất đi, lấy tiền đem đặt dưới
chân các Tông Đồ”( Act 4, 36-37),
- và của cộng đồng Ki Tô hữu
Giêrusalem: “Các
tín hữu bấy giờ đông đảo, mà
chỉ có một ḷng một ư. Không một ai coi
bất cứ cái ǵ ḿnh có là của riêng, nhưng
đối với họ, mọi sự đều là
của chung... Trong cộng đoàn không ai phải
thiếu thốn, v́ tất cả những người
có ruộng đất, nhà cửa, đều bán đi,
lấy tiền, đem đặt dưới chân các Tông
Đồ. Tiền ấy được phân phát cho
mỗi người, tùy theo nhu cầu”
( Act 4, 32-35).
Điều đáng
chú ư đặc tính tuyệt đối khó nghèo
của Thánh Luca, kể lại cuộc đời Chúa
Giêsu, là nhân đức khó nghèo được
thể hiện bằng “kho tàng” và
“trái tim”,
nói lên trạng thái an vui, tự nguyện chớ không
phải được tŕnh bày dưới h́nh
thức lề pháp bắt buộc:
- "V́ kho tàng anh em ở đâu, th́ trái tim anh
em ở đó" ( Lc 12, 34).
Dĩ nhiên đó
là quan niệm về kinh tế, tài chánh mà tư tưởng
đương thời của chúng ta không thể nào
hoàn toàn đồng thuận được.
Quan niệm khó
nghèo và thực thi đức bác ái của chúng ta là
thực thi trong hoàn cảnh kinh tế và xă hội
đương thời của chúng ta, với đức
khôn ngoan của Chúa Giêsu và ơn Chúa Thánh Thần.
Chúng ta thực thi đức bác ái,
- không phải bằng cách bán hết của
cải và bố thí cho kẻ khó nghèo,
- cho bằng dùng của cải ḿnh có để
tạo kiến thức và công ăn việc làm cho anh
em.
Bởi lẽ bán
hết và bố thí, những người nghèo của
chúng ta có ăn hôm nay, ngày mai, ngày mốt việc
"đâu
vẫn vào đấy"
nhu cầu của họ vẫn trở lại, nếu
chúng ta không nghĩ đến việc cung cấp cho
họ có "công
ăn việc làm",
tạo lợi tức cho chính ḿnh và lợi ich cho người
khác.
Như vậy, ngoài
ra các trường hợp tai ương khẩn
cấp, chúng ta thực thi đức bác ái cho người
nghèo bằng cách cho họ "cần câu hơn là cá nướng sẵn".
Hoàn cảnh xă
hội kỷ nghệ của chúng ta không c̣n phải là
hoàn cảnh xă hội nông nghiệp của thời sơ
khởi của các Thánh Tông Đồ.
Cần phân
biệt trợ giúp trong hoàn cảnh khẩn cấp và
trợ giúp dài hạn, để thăng tiến con người
và thăng tiến xă hội: giúp cho người
yếu thế có phương tiện để
- "triển nở hoàn hảo con người
của ḿnh và tham dự một cách thiết thực vào
tổ chức chính trị, kinh tế và xă hội
của Xứ Sở " (Điều 3, đoạn 2
Hiến Pháp 1947 Ư Quốc).
Giúp cho người
yếu thế trong tiến tŕnh dài hạn là giúp cho
họ mở mang kiến thức, có khả năng và
điều kiện làm việc, kể cả thiết
lập hăng xưởng và hạ tầng cơ sở,
để cho đương sự hay các
đương sự làm việc tạo cho ḿnh "một cuộc sống khang
trang"
và phát triển đất nước, lợi ích cho
đồng bào ḿnh và cũng có thể là cho anh em nhân
loại của ḿnh.
2
- "Anh em hăy thắt lưng cho gọn, thấp đèn
cho sẵn"
"Anh
em hăy thắt lưung cho gọn, thắp đèn cho
sẵn. Hăy làm như người đợi chủ
đi ăn cưới về, để khi chủ
vừa về tới và gơ cửa là mở ngay"
( Lc 12, 35-36).
Lời nói
của Chúa Giêsu mời gọi hăy tin cậy vào Thiên
Chúa Cha, Đấng ban Vương Quốc của ḿnh
cho "đoàn
chiên nhỏ"
( Lc 12, 32), những lời nói đó phải làm cho
trở nên trưởng thành nơi các môn đệ lương
tâm ḿnh là những người phục vụ khiêm nhường,
đang tỉnh thức chờ đợi chủ đến.
Và đây là người
chủ nhà ra đi trong một cuộc hành tŕnh lâu dài,
không ai biết được lúc nào ông trở
về, khiến cho các người giúp việc trong nhà
có cái nguy là lơ đễnh trong việc canh thức,
giữ nhà và ḷng hy vọng của họ được
đón rước ông chủ về cũng lần
lần phai nhạt đi.
Đó là điều
Thánh Luca nhận thức được tâm thức nơi
cộng động Kitô giáo, khoản từ năm 80
trở đi, khi ngài viết Phúc Âm.
Ḷng mong đợi
biến cố Chúa Ki Tô trở lại dần dần
bị lung lai đi và giữa dân chúng bắt đầu
có những tư tưởng hết hy vọng với
một vài lư do bỏ cuộc, đồng thời ḷng
nồng nhiệt bác ái lúc đầu cũng
ngụội dần và những cách sống gương
mù gương xấu cũng bắt đầu ló
dạng.
Nhiều cầu
hỏi, t́nh trạng dồn nén và mong đợi
được giải thích nổi lên giữa
những tín hữu tiên khởi.
Trước t́nh
trạng đó, Thánh Luca trả lời bằng cách
viết Phúc Âm, xác nhận chắc chắn rằng Chúa
sẽ trở lại, nhưng ngài cũng lưu ư
rằng điều đó không ai có thể tưởng
tượng đưọc như là biến cố
đang sát gần, cũng không người tín hữu
nào có thể định thảo được chương
tŕnh.
Trong cảnh tăm
tối và mờ mịt của cuộc sống
hằng ngày, Thiên Chúa có thể tự do đến
bất cứ lúc nào. Điều quan trọng là
mỗi người phải chuẩn bị sẵn sàng
để tiếp đón Ngài:
- "Hăy thắc lưng cho gọn,
thắp đèn cho sẵn. Hăy làm như người
đợi chủ đi ăn cưới về, để
khi chủ vừa về tới và gơ cửa là mở
ngay".
Lời mời
gọi của Chúa Giêsu đối với các môn đệ
là nhẫn nại và kiên trường trong hy vọng và
mặc dầu không biết giờ nào, vẫn luôn luôn
trong y phục làm việc phục vụ "hăy
thắc lưng cho gọn, thắp đèn cho sẵn", trong
một trạng thái thức tỉnh năng động.
Thái độ
của người giúp việc là thái độ làm
việc thường nhật, chu toàn bổn phận
của ḿnh, ư thức đượcc trách nhiệm
phải có của ḿnh.
Biến cố
quyết định và phi thường là biến
cố Thiên Chúa lại đến trong ngày cánh chung,
đ̣i buộc chúng ta phải có thái độ khiêm
nhường chờ đợi để đón rước
Ngài.
Chúa Giêsu giải
thích thái độ đó của người môn đệ
bằng ba dụ ngôn.
3
- Dụ ngôn thứ nhứt.
Trong dụ ngôn
thứ nhứt, được đặt trong bối
cảnh ngôi nhà rộng rải, ông chủ trở
về trong đêm khuya, sau buổi tiệc cưới,
gặp được các tôi tớ của ḿnh đang
tỉnh thức và vẫn làm việc đều đặn.
Đó là thái độ mà Phúc Âm Thánh Luca tuyên bố
hay tuyên hứa đến hai lần:
- "Khi chủ về mà thấy các đầy
tớ ấy đang tỉnh thức, th́ thật là phúc
cho họ" ( Lc 12, 37).
- "Nếu canh hai, hoặc canh ba ông chủ
mới về, mà c̣n thấy họ tỉnh thức như
vậy, th́ thật là phúc cho họ"
( Lc 12, 38).
"Thắc
lung cho gọn", trạng thái "tỉnh thức"
và "thắp
đèn cho sẵn"
đó là những cách diễn tả ngụ ư đề
cập đến nghi thức lễ vượt qua, dân
Israel được giải thoát ra khỏi Ai Cập
(Ex 12).
Ông chủ
trở về gặp được các đầy
tớ của ḿnh trong t́nh trạng đó, chắc
chắn ông sẽ tỏ ḷng biết ơn, đầy
t́nh thương đối với họ, ông chủ
sẽ thiết đăi họ bằng một buổi
tiệc thịnh soạn và chính ông sẽ đứng
ra phục vụ cho họ, vai tṛ chủ thợ sẽ
được thay đổi như những ǵ Phúc Âm
Thánh Gioan đă kể lại trong Buổi Tiệc Ly, lúc
vị Thầy đứng ra rửa chân cho các môn
đệ ( Jn 13, 4-15).
Buổi tiệc
trên thiên quốc, phận vụ phục vụ sẽ
được Thiên Chúa bảo đảm bằng chính
bản thân của Ngài và phục vụ kéo dài cho
đến muôn đời, như Chúa Giêsu đă
hứa trong Buổi Tiệc Ly:
- "Thầy sống giữa anh em như
một người phục vụ" ( Lc 22, 27).
4
- Dụ ngôn thứ hai.
Dụ ngôn
thứ hai nói lên một khía cạnh khác cho biến
cố Thiên Chúa đến. Đó là t́nh cách bất
th́nh ĺnh, gần giống như một cuộc
trộm cắp. H́nh ảnh vừa kể cũng
được Thánh Phaolồ dùng để nói lên
"ngày của Chúa":
- "V́ chính anh em biết rơ: ngày của Chúa
sẽ đến như kẻ trộm ban đêm" ( 1 Th 5, 2).
Chúa Giêsu kể
ra bối cảnh của một tên trộm lẻn vào
nhà ban đêm. Nhân vật chính của biến cố là
chính ông chủ nhà, không biết giờ nào kẻ
trộm đến:
- "Nếu chủ nhà biết giờ nào kẻ
trộm đến, hẳn ông không để nó khoét
vách nhà ḿnh đâu. Anh em cũng vậy, hăy sẵn sàng,
v́ chính giờ phút anh em không ngờ, th́ Con Người
sẽ đến" ( Lc 12, 39-40)
Nói lên dụ ngôn,
Chúa Giêsu có ư cho biết ân huệ trổi vượt
hơn cả các ân huệ khác đó là cuộc
Tử Nạn và Phục Sinh của "Con Người" là ân huệ bất ngờ cho cả nhà
Israel, cũng như biến cố Ngài đến
lần thứ hai cho cả cộng đồng Ki Tô
hữu, làm thể hiện lên mầu nhiệm Tử
Nạn và Phục Sinh của Ngài.
Không cho biết
ngày giờ biến cố sẽ xảy đến, cũng
có cùng ư nghĩa nói lên ở mỗi thời điểm
cần có thái độ tỉnh thức, sẵn sàng.
5
- Dụ ngôn thứ ba.
Dụ ngôn thứ ba được
Chúa Giêsu kể ra để phán dạy, nhân câu
hỏi của Phêrô rằng các lời khuyên dạy hăy
thức t́nh sẵn sàng:
- "Lạy Chúa, Chúa nói dụ ngôn
nầy cho chúng con hay cho tất cả mọi người ?"
(Lc 12, 41).
Dĩ nhiên trong câu hỏi của Phêrô, "chúng con"
ở đây được hiểu như là "đoàn chiên nhỏ", nhóm thiểu số bé
nhỏ các môn đệ, và "tất cả mọi người" được hiểu là
cả đoàn thể dân chúng.
Hiểu được
ư nghĩa đó của câu, chúng ta hiểu được
đây là một bước tiến trên con đường
huấn dạy các môn đệ, bởi lẽ qua câu
hỏi của Phêrô, các vị ư thức được
những trách nhiệm mới thoát xuất từ
những mạc khải của Chúa Giêsu.
Trong khi ở
dụ ngôn thứ nhứt đề cập đến
"những đầy tớ" :
- "Khi chủ về mà thấy những đầy
tớ ấy đang t́nh thức, th́ thật là phúc
cho họ" ( Lc 12, 37), th́ ở đây trong
dụ ngôn thứ ba, được đề cập
đên "người được đặt lên làm
người đứng đầu (oikonómos) coi sóc
tất cả tài sản của ḿnh":
- "Thầy bảo thật anh em, ông sẽ đặt
anh ta lên làm người đứng đầu (oikonómos)
coi sóc tất cả tài sản của ḿnh"
( Lc 12, 44).
Danh từ người đứng đầu coi sóc (oikonómos)
cho thấy là người có địa vị và
nhiệm vụ đặc biệt, chăm lo cho các
phần tử trong gia đ́nh, do chức vụ cao
cả và tế nhị mà anh ta được ông
chủ dành cho.
Điều
vừa kể cho thấy rơ đây là địa
vị và phân vụ của những ai được
Chúa giao cho trách nhiệm trong Giáo Hội, ngôi nhà
của cộng đồng các môn đệ:
- "Vậy th́ ai là người quản gia trung tín,
khôn ngoan, mà ông chủ sẽ đặt lên coi sóc
kẻ ăn người ở, để cấp phát
phần thóc gạo đúng giớ đúng lúc?" (Lc 12, 42).
Bởi đó chúng
ta biết rằng trong các cộng đồng Ki Tô giáo
tiên khởi, "người đứng đầu
quản trị, oikonómos"
đă có giá trị chính xác là người có
phận vụ thừa tác viên, là người quản
trị các mầu nhiệm của Thiên Chúa:
- "Vậy, chớ ǵ thiên hạ coi chúng tôi như
những đầy tớ của Chúa Ki Tô, những người
quản lư các mầu nhiệm của Thiên Chúa"
(1 Cor 4, 1).
- "Thật vậy, giám quản, với tư cách
là quản lư của Thiên Chúa, phải là người
không chê trách được, không ngạo mạn, không
nóng tính, khôg nghiện rượu, không hiếu
chiến, không t́m kiếm lợi lộc thấp hèn"
( Tt 1, 7).
- "Ai có nói, th́ nói lời Thiên Chúa; ai phục
vụ, th́ phục vụ bằng sức mạnh Thiên
Chúa ban. Như vậy, trong mọi việc, chúng ta tôn
vinh Thiên Chúa nhờ Chúa Giêsu Ki Tô. Kính dâng Ngài vinh
quang và uy quyền đến muôn thuở muôn đời" (1 Pt 4, 11).
Đáp ứng
lại ḷng tin tưởng không biên giới được
ông chủ hay Chúa " kưrios " ban cho là trách
nhiệm không biên giới của người quản
gia thừa tác viên, mà do cách hành xử " trung
tín và khôn ngoan ", được trở thành người
được chúc phúc:
- "Khi chủ về mà thấy đầy tớ
đang làm như vậy, th́ thật là phúc cho anh ta" ( Lc 12, 43), người được
giao phó cho trách nhiệm phục vụ cho "kẻ ăn người ở trong nhà" ông chủ, cho đời
sống mọi thành phần trong cộng đồng Giáo
Hội.
Tuy vậy, không có
một người
quản trị (oikonómos) nào có thể được miễn nhiễm,
chuẩn thoát cho khỏi được mối nguy
hiểm bất trung, nghĩa là mối nguy hiểm
tự coi ḿnh là chủ nhân của nền phục
vụ mà ḿnh phải cung cấp cho cả nhà. Và đó
là những ǵ được phần hai của dụ
ngôn đề cập đến, chuyển hoá từ t́nh
trạng quản trị tự nhiên phải có đến
thảm trạng thất sủng đối với
chủ nhân:
- “Nhưng nếu người ấy nghĩ
bụng: Chủ ta c̣n lâu mới về, và bắt
đầu đánh đập tôi trái tớ gái và chè
chén say sưa, chủ của tên đầy tớ
ấy đến vào ngày hắn không ngờ, vào
giờ hắn không biết, và ông sẽ loại
hắn ra, bắt phải chung số phận với
những tên thất tín” (Lc 12, 45).
Đó là trường
hợp v́ ông chủ trở về trễ, người
đầy tớ làm mất đi ư nghĩa của
thời gian chờ đợi và từ đó không c̣n
tự chủ và cũng không kiểm soát được
t́nh trạng của ḿnh.
Như vậy sự chậm trể trở về cùa
ông chủ, thay v́ làm cho anh quản gia tăng thêm ḷng
chờ đợi và lo lắng chu toàn cho mọi người
trong nhà, anh ta lại có thái độ sai trái, hống
hách ỷ lại đối với các đầy
tớ khác, mà ông chủ đă giao phó cho anh ta.
Hiểu như
vậy một lần nữa tư tưởng
thời cánh chung chậm đến, là tư tưởng
làm giao động trong cộng đồng Ki Tô
hữu thời Thánh Luca. Thời cánh chung chậm đến,
viễn ảnh thái độ lạnh nhạt và
dững dưng cũng có thể xảy đến
cả đối với những vị thừa tác viên,
quản trị và hướng dẫn Giáo Hội.
Tư tưởng
vừa kể được nhấn mạnh trong
phần phụ lục của các bài dụ ngôn, liên
quan đến các vị lănh đạo của các
cộng đồng Ki Tô hữu, tức là những người
hiểu biết thánh ư Thiên Chúa hơn ai hết:
- "Đầy tớ nào đă biết ư chủ,
mà không chuẩn bị sẵn sáng, hoặc không làm
theo ư chủ, th́ sẽ bị đ̣n nhiều. C̣n
kẻ nào không biết ư chủ mà làm những
chuyện đáng phạt, th́ sẽ bị đ̣n ít.
Hễ ai đă được cho nhiều, th́ sẽ
bị đ̣i nhiều; và ai được giao phó
nhiều, th́ sẽ bị đ̣i nhiều hơn"
(Lc 12, 47-48).
Đối
với Thánh Luca cuộc sống Ki Tô hữu giáo dân và
cuộc sống giáo phẩm, chúng ta không thể quan
niệm được, nếu không lưu ư đến
trách nhiệm mà chúng ta tất cả phải trả
lẽ trước mặt Thiên Chúa.
Bài Phúc Âm hôm nay
nói lên tính cách trách nhiệm đ̣i buộc khắc
khe đó bằng các từ ngữ "được
cho nhiều", "được giao phó nhiều",
sẽ bị đ̣i nhiều"
đối với những ai có trách nhiệm lớn hơn.
Ḷng tốt lành yêu thương
của Thiên Chúa đặt kỳ vọng rất
nhiều vào người được yêu thương,
được tin cậy và được ủy thác
cho trách nhiệm.
Bởi lẽ ḷng
yêu thương đă tạo nên một h́nh ảnh
rất cao cả về người được thương
yêu và kỳ vọng, bởi đó Ngài ao ước
người được tin tưởng, thương
yêu không được làm cho anh em và Người là
Cha phải thất vọng.
Dĩ nhiên Thiên
Chúa biết lằn mức giới hạn của
mỗi người chúng ta, nhưng không phải v́
đó mà chúng ta có được cuộc sống buôn
thả làm cho Người và anh em phải thất
vọng.
NGUYỄN HỌC TẬP
|