|
|
||||||||||||||||||||||||||||
|
Giám Mục NGUYỄN VĂN LONG Hành Hương ĐỨC MẸ LAVANG
|
||||||||||||||||||||||||||||
Video BÀI GIẢNG TRONG THÁNH LỄ BẾ MẠC Tại Vương Cung Thánh Đường Quốc Gia - Đức Mẹ Vô Nhiễm - Washington DC, Hoa Kỳ Sau 15 giây vẫn chưa thấy hát xin ấn vào F5 hay Refresh, Icon Play
|
||||||||||||||||||||||||||||
|
Thánh Lễ khai mạc
|
||||||||||||||||||||||||||||
|
*Sau Thánh Lễ
Khai Mạc HÀNH HƯƠNG MẸ LA VANG 2012 tại Nhà
Thờ MẸ VIỆT NAM , Silver Spring, Maryland (TGP
Washington, DC), Đức Cha Vinh Sơn Nguyễn Văn
Long đă chia sẻ chủ đề MẸ LA VANG
VỚI DÂN TỘC VIỆT NAM.
Kính thưa quư ông bà anh chị em, Hôm nay, tôi
rất hân hạnh được đến Thủ
Đô Hoa Thịnh Đốn để tham dự
cuộc Hành Hương kính Đức Mẹ La Vang do
Liên Đoàn Công Giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ
tổ chức. Lời đầu tiên, tôi xin được
gởi đến toàn thể quư vị đó là
lời chúc sức khoẻ, t́nh yêu và ân sủng
của Thiên Chúa. Xin Ngài kiện toàn thánh ư nhiệm
mầu của Ngài nơi chúng ta, những chứng nhân
của tự do, công lư và nhân bản. Tôi cũng xin
được chuyển lời chào thân thương
của đồng bào chúng ta tại Úc Đại
Lợi luôn hướng về khối người
Việt tại Hoa Kỳ như là con chim đầu
đàn của đàn chim Việt đang tản mác
khắp bốn phương trời. Dù ở đâu,
người Việt Nam chúng ta cũng cố
gắng để làm rạng danh “con
Rồng cháu Tiên”
và cùng tranh đấu cho một tương lai tươi
sáng của Quê Hương Dân Tộc. Chủ đề
mà Ban Tổ Chức đă mời tôi đến để
chia sẻ với quư vị tối nay là “MẸ LAVANG
VỚI DÂN TỘC VIỆT NAM.” Tôi phải thú
thật là khi nh́n vào một chủ đề như
thế, tôi không biết phải nói ǵ để
khỏi phụ ḷng mong đợi của quư vị.
Nhiều người nghĩ rằng, giám mục th́ có
thể nói về bất cứ vấn đề ǵ.
Thực tế th́ không như thế. Ở lứa
tuổi 50 và sống hai phần ba đời ḿnh
ở Úc, tôi cũng chỉ có một kiến thức
giới hạn – nhất là về những vấn
đề liên quan đến Việt Nam. Tôi không
thể ‘xuất khẩu thành thơ’ và càng không
thể ‘múa ŕu qua mắt thợ’ trước
một cử tọa ở cái nôi chính trị và văn
hóa của Hiệp Chủng Quốc này. Ước mong
của tôi là được chia sẻ và học
hỏi hơn là được ‘thuyết giảng’
về mối liên quan giữa tôn giáo và dân tộc –
nhất là trong hoàn cảnh đất nước chúng
ta hôm nay. Tôi cũng đại diện cho một
thế hệ trẻ được hấp thụ hai
nền văn hoá khác nhau. V́ thế, ước mơ
của tôi là làm một nhịp cầu giữa hai
thế hệ, ngơ hầu ngọn đuốc của
tự do và công lư được chuyển tiếp cho
đến ngày Quê Hương mến yêu được
phục hưng. Để t́m
hiểu về sự tương quan của “MẸ
LAVANG VỚI DÂN TỘC VIỆT NAM,” chúng
ta có thể nh́n vào một dân tộc mà lịch
sử của họ cũng có nhiều điểm tương
đồng với Việt Nam chúng ta, đó là Ba Lan,
quê hương của Đức Cố Giáo Hoàng Gioan
Phaolo II. Ba Lan, một quốc gia bị ngoại bang xâm
chiếm nhiều lần và trong lịch sử cận
đại đă chịu nhiều tang tóc hơn các dân
tộc khác, với hơn sáu triệu người
chết trong Đệ Nhị Thế Chiến. Hơn
thế nữa, Ba Lan đă sống dưới bóng
của tên khổng lồ không mấy tử tế là
Liên Bang Xô Viết và chế độ Cộng Sản
hơn bốn thập niên. Trong suốt những năm
dài tăm tối đó, người dân Ba Lan đă hướng
về một thánh địa tượng trưng cho
tinh thần dân tộc và ư chí bất khuất của
họ, đó là Jasna Gora – một địa danh có
nghĩa là Núi Sáng (Luminous Mount) hoặc có thể
tạm dịch là Minh Sơn. Nơi đây, Đức
Trinh Nữ Maria dưới danh hiệu Đức
Mẹ Czestochowa được sùng kính như là Đấng
Bảo Vệ cho dân tộc Ba Lan qua bao thăng trầm
của lịch sử. Đức
Mẹ Czestochowa có nghĩa là ‘Đức Mẹ Đồng
Đen’ Tục truyền rằng, vào năm 1655, khi quân
Thụy Điển chuẩn bị xâm chiếm Ba Lan,
những người lính trên đồi Jasna Gora đă
cầu nguyện với ảnh Đức Mẹ Đồng
Đen và họ dù yếu thế hơn đă đẩy
lui được quân Thụy Điển. Từ đó,
Đức Mẹ Czestochowa được mệnh danh là
Nữ Vương nước Ba Lan và đồi Jasna
Gora được coi như thánh đô của họ.
Vào năm 1920, khi Hồng Quân Liên Xô ồ ạt đánh
vào Warsava, một lần nữa người dân Ba Lan
lại chạy đến với Đức Mẹ
Czestochowa. Không ai có thể giải thích nổi,
với một đạo quân hùng mạnh nhất Âu
Châu thời đó, Hồng Quân Liên Xô đă bị
đánh bại ở ḍng sông Vistula – một chiến
thắng không ngờ, như Ngô Quyền đánh
bại quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng năm xưa
(938). Với
lịch sử dân tộc gắn liền với đức
tin Công Giáo và đặc biệt là ḷng sùng kính Đức
Mẹ, chúng ta không ngạc nhiên khi Jasna Gora trở thành
một biểu tượng không thuần túy về tôn
giáo mà là một biểu tượng cho tinh thần
quốc gia và niềm tự hào dân tộc. Mỗi khi
quốc gia bị mất chủ quyền và dân tộc
bị đàn áp, người dân Ba Lan đă t́m đến
Jasna Gora không phải chỉ nguyện xin mà c̣n t́m
một lối thoát cho quốc gia và một tương
lai mới cho dân tộc. Chính v́ thế, trong những
năm gọi là ‘chiến tranh lạnh,’ khi bạo
quyền Cộng Sản Ba Lan, được sự
chỉ đạo của Điện Cẩm Linh,
dập tắt tất cả các ngọn lửa đấu
tranh cho nhân quyền, Jasna Gora đă trở nên thành lũy
đối kháng và linh hồn của phong trào chống
cộng. Vào ngày 26 tháng
8 năm 1982, tức ngày Lễ Kính Đức Mẹ
Czestochowa, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolo II đă nói
những lời tâm huyết với đồng bào ḿnh
c̣n đang sống sau cái gọi là ‘bức màn
sắt’ và đang tranh đấu cho tự do. Ngài nói
như sau: “Đồng
bào thân mến. Dù đời sống
của người Ba Lan khó khăn thế
nào, xin cho chúng ta thâm tín rằng cuộc
đời của chúng ta đã thuộc về
Trái Tim Mẹ. Như Mẹ đã toàn thắng
nơi Thánh Maximiliano Kolbe, người Hiệp
sĩ của Đấng Khiết Trinh, xin Mẹ
cũng toàn thắng nơi chúng ta. Xin
Mẹ Jasna Gora toàn thắng nơi chúng ta
và qua chúng ta. Xin Mẹ toàn thắng ngay
cả qua những đau khổ và thất
bại của chúng ta. Xin Mẹ cho chúng ta
đừng nản lòng tranh đấu cho công
lý và sự thật, cho tự do và
nhân phẩm của con người. Chẳng
phải lời của Mẹ ở tiệc cưới
Cana ‘Hăy làm theo mệnh lệnh của Ngài’ có nghĩa
như vậy sao? Anh chị em hăy nhớ rằng,
sức mạnh được thể hiện qua
sự yếu đuối. Tôi ở gần anh chị
em. Tôi luôn nhớ tới anh chị em.” Đọc
những lời của Đức Thánh Cha, tôi không có
cảm tưởng là tôn giáo và chính trị là hai thái
cực mà người tín hữu không được
lẫn lộn. Ngược lại, sự nhập
thể của Thiên Chúa vào đời sống của
con người đ̣i buộc chúng ta cũng phải
‘nhập thể’ dưới ánh sáng Tin Mừng. Như
lời mở đầu Hiến chế Gaudium et Spes (Vui
mừng và Hy vọng) của Công Đồng Vaticano II
đă khẳng định “Vui mừng và hy vọng,
ưu sầu và lo lắng của con người ngày
nay, nhất là của người nghèo và những ai
đau khổ, cũng là vui mừng và hy vọng, ưu
sầu và lo lắng của các môn đệ Chúa Kitô,”
Chân phước Gioan Phaolô II đă cho chúng ta thấy
rằng, tranh đấu cho công lư và sự thật,
cho tự do và nhân phẩm không phải là việc làm
của những kẻ muốn chính trị hóa tôn giáo
mà là bổn phận ‘nhập thể hóa’ Tin
Mừng và ‘Kitô hóa’ môi trường của chúng ta.
Nếu chúng ta chỉ giữ đạo trong nhà
thờ, nếu chúng ta chỉ đóng khung tôn giáo trong
những vấn đề siêu nhiên mà hoàn toàn vô
cảm với những vui mừng và hy vọng,
những sợ hăi và lo âu của đồng loại,
th́ phải chăng tôn giáo chỉ là thứ thuốc
phiện ru ngủ chúng ta như lời Karl Marx? Đây
cũng là chiêu bài của cộng sản. Họ
muốn tôn giáo chỉ là thứ thuốc phiện ru
ngủ dân chúng. Họ muốn biến tôn giáo trở
thành một công cụ của chế độ. Cách đây
không lâu, tôi có nghe một câu nói rất hùng hồn:
“Nếu ai không thích cộng sản, người
ấy không nên yêu cầu chúng tôi khích bác họ.”
Đằng sau câu nói này là một khó khăn thực
tế cho những ai phải sống dưới
chế độ cộng sản. Trong bối cảnh
đất nước và Giáo Hội Việt Nam hôm
nay, sự liên quan giữa chính trị và tôn giáo
quả thật là một đề tài hết sức
tế nhị cho người tín hữu, nhất là các
vị lănh đạo. Làm sao để giữ
được một lợi thế thực
dụng cho Giáo Hội mà không thỏa hiệp các giá
trị cơ bản của Phúc Âm? Làm sao thăng
tiến đời sống đạo và lo cho các nhu
cầu của các giáo xứ, các ḍng tu, các chủng
viện v.v... và đồng thời làm trách nhiệm
ngôn sứ trong một xă hội độc tài đảng
trị? Đó là một số những mệnh đề
nan giải mà những ai sống với cộng
sản mới biết những phức tạp của
nó. Ở đây, tôi không có ư phê b́nh câu nói hùng
hồn trên kia hay một thái độ nào đó
của các vị lănh đạo giáo hội trước
t́nh h́nh chính trị của đất nước. Tuy
nhiên, như Đức Cố Giáo Hoàng Phaolo II đă
quảng diễn qua lời giảng dạy, thái độ
và đời sống của ngài, Kitô hóa môi trường
theo tôn chỉ Phúc Âm là nhiệm vụ của mọi
tín hữu. Tranh đấu cho công lư và sự thật,
tự do và nhân phẩm là con đường tất
yếu của những ai theo Đấng là Đường,
là Sự Thật và là Sự Sống. V́ thế,
vấn đề ở đây không phải là chúng ta
‘không thích cộng sản’ hay ‘khích bác họ.’
Vấn đề ở đây là chọn lựa
của chúng ta giữa hai thế lực tương
phản: sự thật và sự giả dối, sự
thánh thiện và sự gian ác, ánh sáng và bóng tối.
Vâng, người tín hữu phải yêu thương
cả kẻ thù, kể cả người cộng
sản. Nhưng chúng ta không thể đồng lơa và
vô cảm với sự giả dối, gian ác và phi nhân
của họ. Chính t́nh yêu đối với Thiên Chúa
và nhiệt tâm cho Vương Quốc của Ngài đ̣i
hỏi thôi thúc chúng ta trong cuộc chiến cho công lư
và sự thật, ánh sáng và sự sống – cuộc
chiến mà chính Đức Kitô đă tranh đấu
và khải hoàn qua sự chết và phục sinh của
Ngài. Quư vị thân
mến, Nếu người dân Ba Lan đă coi
Đức Mẹ Czestochowa như là biểu tượng
niềm tin của họ, th́ người Việt Nam chúng
ta có thể coi Đức Mẹ La Vang như là
biểu tượng niềm tin của chúng ta hay không?
Hơn thế nữa, nếu Jasna Gora đă hun đúc
tinh thần đấu tranh cho quê hương và cho giáo
hội Ba Lan trong những chặng đường cam
go nhất của lịch sử dân tộc Ba Lan, người
Việt Nam Công Giáo chúng ta có thể đến
với Mẹ La Vang trong nỗ lực t́m kiếm
một tương lai tươi sáng cho đất nước
và giáo hội hay không? Đối với tôi, những
câu hỏi này thật thiết thực với bối
cảnh của quê hương chúng ta hôm nay. Đối
với tôi, đây không phải là ‘chính trị hóa’
La Vang mà là đem Phúc Âm vào ḷng dân tộc và là
thực thi vai tṛ ngôn sứ của chúng ta trong một
xă hội đang mất căn tính nhân bản. Nói
một cách khác, nếu người tín hữu chúng ta
phải như ‘thành phố xây trên núi’ hay như
‘muối men cho đời,’ th́ vai tṛ phục
hồi cho xă hội một căn tính nhân bản trên
những giá trị Phúc Âm là vai tṛ thiết yếu
của chúng ta. Câu Kinh Đức Mẹ La Vang “Xin cho
chúng con tấm ḷng từ bi nhân hậu, đại lượng
bao dung, cùng nhau bồi đắp nền văn minh t́nh
thương và sự sống” sẽ không có ư nghĩa
khi người tín hữu chúng ta vô cảm trước
hiện t́nh một xă hội băng hoại toàn
diện đang diễn ra trên quê hương chúng ta. Như quư
vị đă biết, trong những ngày gần đây,
giáo hội tại Hoa Kỳ đang tranh đấu cho
quyền tự do tôn giáo qua những cuộc biểu t́nh
rầm rộ, những kháng cáo trước ṭa án cũng
như qua các phương tiện truyền thông. Lư do
là gi? Đó là việc chính phủ của Tổng
thống Obama đă đề xướng ra một
đạo luật về y tế mà theo đó, tất
cả các tổ chức kể cả tổ chức Công
Giáo phải cung cấp bảo hiểm phổ quát bao
gồm ngừa thai cho các nhân viên của ḿnh. Các giám
mục Hoa Kỳ đă không ngần ngại
đương đầu với chính sách ‘Obamacare’
mà họ cho rằng đi ngược lại với
luân lư Công Giáo và hơn thế nữa giới
hạn quyền tự do của giáo hội trong
việc hành xử theo giáo luật. Giáo hội không
thể làm ngược lại tôn chỉ của Phúc
Âm nếu bị bắt buộc phải cung cấp
dịch vụ phá thai hay ngừa thai – dù chỉ là gián
tiếp – trong các bệnh viện của ḿnh hay tài
trợ các dịch vụ này cho các nhân viên của ḿnh
như tại trường học, giáo xứ, cơ
sở xă hội v.v... Chính v́ thế, các giám muc Hoa
Kỳ đă không ngần ngại đứng lên
bảo vệ những giá trị mà họ cho là không
thể nhượng bộ dù là trong một xă hội
đa nguyên. Nhiều giáo dân và ngay cả một
số giáo sĩ Hoa Kỳ không đồng quan điểm
với Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ. Nhưng
ít ra, không ai có thể chỉ trích là họ đă can
thiệp vào chính sách của nhà nước hay là
họ đă vượt qua giới hạn tôn giáo
thuần túy. Phúc Âm và đời sống không thể
tách ĺa nhau; tôn giáo và chính trị không thể không
liên hệ với nhau. Vai tṛ ngôn sứ của Giáo
hội đ̣i buộc người tín hữu ở
mỗi bậc và mỗi hoàn cảnh phải tranh đấu
cho một xă hội phản ảnh Vương
Quốc của Thiên Chúa, hay như Kinh Đức
Mẹ La Vang, là xây dựng một ‘nền văn minh
t́nh thương và sự sống.’ Thực
thế, truyền thống công lư xă hội trong Kinh Thánh
là bằng chứng hùng hồn về sự nhập
thế của các giá trị siêu nhiên vào đời
sống tự nhiên của con người. Ơn
cứu độ không chỉ có nghĩa là một
sự giải thoát của linh hồn và đời
sống vĩnh hằng trên Thiên Quốc mà là sự
giải thoát con người toàn diện. Ngay trên cơi
đời này và ngay trong xă hội này, con người
được mời gọi để sống
cuộc sống sung măn với Thiên Chúa và tha nhân. Do
đó, sống đức tin và sống thánh thiện
không chỉ có một chiều dọc, tức là
thờ phượng kính mến Chúa được
quảng diễn qua xây nhà thờ, tu viện, trung tâm,
lễ nghi, kinh kệ, rước sách, đ́nh đám,
hành hương, ăn chay hăm minh v.v... Sống đức
tin và sống thánh thiện không thể tách ĺa
khỏi tiến tŕnh công lư hóa xă hội và phong phú hóa
đời sống con người. Tiên tri Isaiah đă
định nghĩa cho chúng ta thế nào là giữ
đạo, đó là “phá
vỡ xiềng xích của bọn ác nhân, cất đi
gánh nặng của kẻ lầm than, giải thoát cho
kẻ bị áp bức và phá tan mọi gông xiềng” (Isaiah 58:6). Đức Kitô cũng đă
đúc kết sứ mạng của Ngài trong câu nói
đầy ư nghĩa và súc tích: “Ta đến để mọi người
được sự sống và sự sống viên măn”
(Gioan 10:10). Sự sống viên măn không phải chỉ
là ở đời sau. Nó là sự sống toàn
thể trọn vẹn. Nó là sự sống trong yêu thương,
trong công lư, trong t́nh người từ bây giờ và
măi măi. Ở bên Úc,
có rất nhiều người hỏi tôi là họ
phải làm ǵ khi nhận những lá thư hay
những lời kêu gọi giúp đỡ giáo hội
quê nhà. Nào là xây nhà thờ, sửa tu viện, tu
bổ trung tâm hành hương, nâng cấp địa
điểm truyền giáo.... rồi nào là giúp cô nhi,
người tàn tật, các chị em lầm lỡ [tôi
không mấy ưa cụm từ này v́ nó có vẻ
kỳ thị giới tính quá. C̣n các anh lầm lỡ
đâu?] Có nhiều người c̣n nói là họ
rất sợ vô đoàn thể v́ đó là những nơi
bị xin tiền! Tôi trả lời với họ
rằng chúng ta không nên vô cảm nhưng cũng không
nên tạo một gánh nặng cho ḿnh hay cho người
khác. Tôi cũng nói thêm là trên hết mọi sự giúp
đỡ, anh chị em hăy tham dự vào tiến tŕnh
công lư hóa cho dân tộc. V́ sao? V́ căn nguyên của
sự nghèo đói và của những nỗi nhục
quốc thể ở trong nước cũng như
ở ngoài nước là hệ thống chính trị
lỗi thời, là chế độ cộng sản
tham nhũng, bất công và phi nhân. Tôi sẽ không bao
giờ ngần ngại để nói lên sự
thật phũ phàng đó. Tôi sẽ không bao giờ tách
ĺa lư tưởng một Việt Nam phi cộng
sản và một Việt Nam nhân bản ra khỏi
sứ mạng giám mục của tôi. Nhiều người
Công Giáo quan niệm rằng, đạo và đời
là hai thực thể riêng biệt. Chính v́ thế, câu
nói “người Công Giáo không làm chính trị”
đối với họ đă trở thành sự
biện minh cho thái độ vô cảm hay chủ trương
không tham dự vào những vấn đề xă
hội và đất nước. Một số quư
vị lớn tuổi ở đây chắc đă
từng trải qua thời kỳ Việt Minh vào
những năm sau Đệ Nhị Thế Chiến.
Ở Bắc Việt, Đức Giám Mục Lê Hữu
Từ, là một vị tiền nhiệm của Đức
Giám Mục Nguyễn Năng hiện nay, đă có
thời lập ra khu Bùi Chu - Phát Diệm tự trị
với cả những đội vũ trang Tự
vệ Công giáo, chống lại chính quyền Việt
Minh do ông Hồ Chí Minh lănh đạo. Đối
với ngài cũng như rất nhiều giám mục
miền Bắc trong thời kỳ đó đă không
ngần ngại dấn thân cho quê hương và có
thể nói vượt qua cái ranh giới thông thường
của đạo và đời, tôn giáo và chính
trị. Hôm nay, tôi không có ư hoài niệm về
một quá khứ mà nhiều người trong thế
hệ cha anh rất tự hào về giáo hội
Việt Nam; tôi càng không có ư cổ vơ một con
đường chống đối bạo động
dù đối với chế độ vong bản phi nhân. Tuy nhiên, khi
lấy cuộc sống sung măn làm mục đích, chúng
ta không thể mặc nhiên để sự ác hoành hành
khống chế xă hội. Sự ác này không những
thể hiện nơi cá nhân hay đoàn thể. Tôi cho
rằng sự ác lớn nhất đang hoành hành trên
đất nước chúng ta hôm nay chính là tà
quyền và hệ thống chính trị đưa con người
vào chỗ bế tắc. Có nhiều
người sẽ không đồng thuận với
nhận xét và quan điểm ở trên của tôi.
Họ dẫn chứng rằng: Việt Nam đă có ít
nhiều tự do tôn giáo. Nhà thờ, ḍng tu, chủng
viện v.v... được xây cất tu bổ
một cách rầm rộ. Giáo dân đi lễ không c̣n
chỗ ngồi. Ơn gọi không c̣n chỗ chứa.
Bây giờ, cái khó không phải là do chính phủ hay công
cụ của họ như công an cảnh sát gây nên. Cái
khó là do đời sống luân lư đạo đức
suy đồi của người dân, đặc
biệt là giới trẻ... Tôi không phủ nhận
những thử thách đến từ sự mất hướng
đi, lối sống buông thả và hưởng
thụ vô trách nhiệm của thế hệ hôm nay cũng
như đă xảy ra cho thế hệ hôm qua. Nhưng
tôi cho rằng những thử thách về đời
sống luân lư vẫn ở măi với chúng ta từ
đời này qua đời khác. Cái khác là trong
một xă hội bị cai trị bởi một tà
quyền và hệ thống chính trị gian dối ác
độc, những thử thách ấy mang một
sắc thái tiêu cực và bi đát hơn. Khi một
chế độ không cho giới trẻ một tương
lai, không tạo cho họ một niềm tự hào, không
cho họ cơ hội phát huy tài năng; khi một
chế độ chỉ cho họ tiến thân qua
thẻ đảng, khi chỉ có ‘c̣n đảng
mới c̣n ta’ th́ làm sao tránh được sự
tuyệt vọng, sự mất hướng đi và
sự bất cần của giới trẻ. Hăy cứ
hỏi những cô dâu đi lấy chồng Đài
Loan, Nam Hàn, những người lao động hợp
tác ở Mă Lai, ở Arab Saudi và thậm chí ở
cả Phi Châu, những người di dân bất
hợp pháp ở Đông Âu, những em bị bán làm
nô lệ t́nh dục ở Thái Lan, những người
dân oan bị cướp đất, các công nhân
bị bóc lột ở các hăng xưởng, những
người trẻ trong các ‘chat-room’ v.v... Có lần
đi Macau, tôi gặp một số bạn trẻ
Việt Nam lao động bất hợp pháp. Họ
bị đối xử tàn tệ mà ṭa đại
sứ Việt Nam hoàn toàn không can thiệp. Tôi không
nghĩ là trong các nước không cộng sản không
có những vấn nạn xă hội của họ –
ngay cả trên đất nước Hoa Kỳ này. Nhưng
một điều không thể chối căi được
là trong nước ta hôm nay, nhiều những hiện
tượng tôi đan cử trên là vô tiền khoáng
hậu trong lịch sử oai hùng của nước ta
và là những nỗi nhục quốc thể cho
những ai mang ḍng máu Việt. Những hiện tượng
này là triệu chứng của một cơn bệnh
trầm kha: một thể chế hoàn toàn băng
hoại và dẫn cả dân tộc vào chỗ bế
tắc. Đức
Giáo Hoàng Benedicto XVI có nhắc nhở cho người Công
Giáo là “Giáo Hội không làm chính trị nhưng cũng
không đứng bên lề xă hội.” Lịch sử
Việt Nam qua nhiều thời đại đă minh
chứng được sự dấn thân của người
tín hữu thuộc mọi thành phần giáo hội vào
sự nghiệp bảo vệ và phát triển đất
nước. Thế nhưng trong những năm gần
đây, sự ru ngủ lương tri của giáo
hội đă trở thành một hiện tượng
phổ biến nằm trong chính sách công cụ hóa tôn
giáo của chính quyền cộng sản. Các cụm
từ như ‘tôn giáo và dân tộc,’ ‘tốt đời
đẹp đạo,’ ‘giáo dân tốt công dân
tốt,’ ‘kính Chúa yêu nước’ và ‘đồng
hành cùng dân tộc’ đă trở thành những viên
thuốc an thần để ru ngủ lương tri và
vô hiệu hóa vai tṛ ngôn sứ của giáo hội. Khi
“đồng chí” Lê Hồng Anh, thường
trực Ban Bí Thư, đi thăm Đức Cha Bùi
Tuần nhân dịp Giáng sinh 2011, “ông bày tỏ tin tưởng
đồng bào có đạo tiếp tục phát huy
truyền thống kính Chúa yêu nước” (nguyên văn
của báo Sàig̣n Giải Phóng). Rồi sống sượng
hơn nữa, “đồng chí” Nguyễn Thiện Nhân,
Phó Thủ Tướng, tại La Vang năm 2010 đă
ban huấn từ cho cả các giám mục Việt Nam
về việc mà ông gọi là “đồng hành cùng
dân tộc.” Cái điều mà người Tây phương
gọi là ‘elephant in the room’ tức là điều ai
cũng nhận ra là đảng đă tự tôn ḿnh
ngang hàng với dân tộc thay v́ là ‘đầy
tớ của nhân dân’ như họ vẫn rêu rao.
Bằng chiêu bài đồng hóa đảng với dân
tộc họ biến ḷng yêu nước thành yêu
đảng và chống đảng là chống lại
dân tộc. Điều đáng buồn là liều
thuốc an thần này đang làm ru ngủ và làm vô
cảm lương tri của nhiều người
Việt Nam, kể cả người tín hữu. Đồng
hành cùng dân tộc không thể là đồng hành cùng
chế độ, nhất là khi chế độ đó
đang đưa dân tộc vào chỗ diệt vong. Quư vị thân mến, Trở
lại câu hỏi là chúng ta có thể đến
với Mẹ La Vang trong nỗ lực t́m kiếm
một tương lai tươi sáng cho đất nước
và giáo hội hay không, niềm xác tín của tôi là
đây là bổn phận của người tín
hữu. Như người Công Giáo Ba Lan, cũng như
ở khắp mọi nơi, chúng ta người tín
hữu Việt Nam cũng cùng Mẹ để hành tŕnh
tiến về sự sống sung măn cho đất nước
và cho dân tộc. Ở trên, tôi đă chứng minh là
đây là sự nhập thể hóa đức tin và là
bổn phận Phúc Âm hóa môi trường xă hội
của người môn đệ Chúa Giêsu. Bây giờ,
tôi xin được hướng về chính Đức
Trinh Nữ Maria như là một ‘mẫu người
lữ hành trong đức tin’ và là một ‘đầy
tớ can trường của công lư.’ Có lẽ
đối với nhiều người Công Giáo
Việt Nam, họ ít khi nào dùng hai cụm từ này
để diễn tả hay suy niệm về Đức
Mẹ. Trong gần 20 năm ở trong nước,
kể cả những năm ở tiểu chủng
viện Phaolô Xuân Lộc, tôi chưa một lần
nghe các cha giảng về Đức Mẹ dưới
hai danh hiệu nói trên. Thế nhưng tôi cho rằng
đây là một kho tàng về Thánh Mẫu học mà
chúng ta cần khai phá, nhất là cho những tín
hữu Việt Nam trong bối cảnh của đất
nước chúng ta hôm nay. Phúc Âm thánh
Luca đă mô tả là khi Maria bước vào nhà ḿnh,
bà Elisabeth được đầy ơn Chúa Thánh
Thần đă thốt lên: “Bởi đâu tôi
được Mẹ Thiên Chúa đến thăm tôi...
Phúc cho em là kẻ đă tin lời Chúa phán cùng em
sẽ được thực hiện”
(Luca 1:43,45). Maria được đầy ơn phúc không
những v́ là người được những
đặc ân Thiên Chúa ban tặng. Bà là một người
đă tín thác tuyệt đối. Bà là mẫu người
lữ hành trong đức tin vượt trội hơn
mọi người lữ hành khác. Abraham đă tin vào
lời Chúa hứa khi ông bỏ tất cả để
tiến về vùng đất hứa. Ông đă tin dù
chẳng được thấy bằng chứng
của lời hứa ấy. Abraham chẳng hề nh́n
thấy con đàn cháu đống và cũng chẳng
hề được bước chân vào vùng đất
đầy sữa và mật ong. Ông tin khi không c̣n ǵ
để tin và hy vọng khi không c̣n ǵ để hy
vọng. Maria cũng thế. Bà cũng tin khi không c̣n ǵ
để tin và hy vọng khi không c̣n ǵ để hy
vọng. Ít ra ông Abraham khi phải chịu thử thách
là đem con đi sát tế, Chúa đă nhận ḷng
tin và cứu con ông khỏi chết. C̣n ḷng tin của
Maria th́ bị thúc đẩy đến đường
cùng. Bà phải chứng kiến con một ḿnh bị
sát tế trên bàn thờ thập giá. Đức tin
của bà được chứng minh một cách
tuyệt đối. Maria trên Núi Sọ đă trở
thành một người lữ hành trọn hảo
trong đức tin. Bà cũng là môn đệ trọn
hảo v́ đă bước theo con đường chân
thiện mỹ của Đức Kitô cho đến cùng. C̣n Maria là
‘đầy tớ can trường của công lư’ như
thế nào? Kinh Magnificat (Luca 1:46-55) cho chúng ta câu
trả lời khi Maria ca ngợi Đấng đoái thương
tới người nữ t́ hèn mọn như Ngài
đă luôn chúc phúc cho những kẻ khiêm nhường
và đói nghèo nhưng luôn kính sợ Ngài. Những
lời nói này đối với những người
không hiểu lịch sử cứu độ th́ có
vẻ tổng quát và mơ hồ. Kẻ khiêm nhường
và người nghèo đói theo truyền thống Kinh
Thánh là những người trung tín với giao ước
bất chấp những thử thách. Họ không
chỉ là những người mà nói theo tục
ngữ Việt Nam là “ở hiền gặp lành”. Khi người
Do Thái bị lưu đày hơn 60 năm ở Babylon,
rất nhiều tín hữu mất niềm tin trong tâm
trạng tuyệt vọng hoàn toàn. Họ mất quê hương,
mất đền thánh Jerusalem, mất ḥm bia, mất
chính quyền, mất quân đội và mất tất
cả. Họ bỏ giao ước v́ nghĩ rằng
chính Thiên Chúa đă bỏ họ. Chỉ có một
thiểu số giữ vững niềm tin và tiếp
tục duy tŕ giao ước. Trong Kinh Thánh họ
được gọi là ‘Anawim’ mà có thể
gọi nôm na là ‘tàn dư c̣n sống sót’ [danh
từ này rất phổ thông trong những năm sau ngày
30 tháng 4 năm 1975; chính quyền cộng sản dùng
để miệt thị những ai dính líu tới
chế độ cũ.] Chính từ những ‘tàn dư’
này hay h́nh ảnh ‘gốc chồi Jesse’ mà Thiên Chúa
đă tái tạo một Do Thái mới sau khi họ
trở về đất hứa. Họ là những người
sống theo sự công chính của giao ước.
Họ là những người trung tín với
đường lối Thiên Chúa ngay cả khi lộ tŕnh
này tưởng như chỉ dẫn đến sự
thất bại, tủi nhục và tuyệt vọng. Maria là
nữ t́ hèn mọn theo bước chân của
những ‘tàn dư’ trung tín. Đức Thánh Cha Gioan
Phaolo II đă viết là “Anawim không phải một
giai cấp xă hội mà là một sự chọn
lựa của kẻ công chính.” Họ chọn con
đường công lư và sự thật mặc dù
bị thiệt tḥi và bắt bớ. Họ trung kiên
theo giao ước dù bị kẻ có quyền bính
ức hiếp. Như thế kẻ ‘tàn dư’ trung
tín cũng là những ai sống tám mối phúc
thật. Maria đầy ơn phúc v́ Ngài là người
nghèo khó, người hiền lành, người có ḷng
thương xót, người khóc lóc và khao khát chân lư...
Maria đầy ơn phúc v́ Bà trung kiên bước
theo con đường của người Tôi Tớ
Đau Khổ của Thiên Chúa. Đức Gioan Phaolô II
kết luận là “Bài ngợi ca Magnificat đă nói lên
vai tṛ của Mẹ trong cuộc chiến chống
lại sự dữ và tà quyền.” Mẹ là người
đồng hành và liên đới với tất
cả những ai đứng về phía công lư và
sự thật.
Chúa
giơ tay biểu dương sức mạnh, Dẹp
tan phường ḷng trí kiêu căng. Những
lời này cho chúng ta thấy Thiên Chúa luôn đứng
về phía ‘anawim’ của Ngài, tức là những người
dù thiểu số và yếu hèn nhưng luôn kiên cường
trong công lư và sự thật. Ngài sẽ chiến
thắng trên những kẻ gian tà và phục hồi
danh dự những ‘anawim’ của Ngài. Thiên Chúa
đă thực hiện chiến thắng này nơi
Đức Kitô, “phiến đá mà người
thợ xây loại bỏ đă trở nên tảng
đá góc tường”. Ngài đă thực hiện nơi
Maria nữ t́ hèn mọn cũng như tất cả
những ‘anawim’ trung tín của Ngài. Quư vị thân mến, Đức
Mẹ La Vang đă đi vào tâm hồn của người
Công Giáo Việt Nam và Ngài cũng đă đi vào ḷng
dân tộc chúng ta. Dù không phải như là người
Ba Lan đă gắn bó với thánh địa Minh Sơn
như là linh hồn của cả dân tộc, người
Việt Công Giáo ở khắp mọi nơi hướng
về Mẹ La Vang như là người đồng hành
trong thăng trầm của lịch sử và là đấng
phù hộ trong cơn thử thách. Ḷng sùng kính Đức
Mẹ không chỉ đưa chúng ta tới những hành
động thuần túy tôn giáo và lễ nghi như
đi hành hương, dâng hoa, rước kiệu, cung
nghinh v.v... Với bổn phận ‘nhập thể hóa’
Tin Mừng và ‘Kitô hóa’ môi trường, ḷng sùng kính
Đức Mẹ cũng như ḷng yêu mến Chúa thôi
thúc chúng ta t́m cuộc sống sung măn cho tha nhân. Chính
v́ thế, chúng ta không thể chỉ đến
với Mẹ qua những hành động thuần túy
tôn giáo mà không noi gương đấng là ‘anawim’
của Thiên Chúa. Maria là người lữ hành trong
đức tin và là nữ t́ trung tín của triều
đại chính trực. Ḷng sùng kính Mẹ thách
thức chúng ta cũng phải làm đầy tớ và
là chiến sĩ của công lư và sự thật trong
cuộc chiến muôn thuở chống lại sự
dữ và tà quyền. Vào ngày 15 tháng
8 tới đây, theo như tin tức của Hội
Đồng Giám Mục Việt Nam th́ sẽ có nghi
lễ đặt viên đá đầu tiên để
xây Vương Cung Thánh Đường tại La Vang.
Đây là một biến cố quan trọng thể
hiện ḷng sùng kính Đức Mẹ và là một
biểu hiện đặc thù của đức tin Công
Giáo Việt Nam. Nhưng tôi nghĩ rằng chúng ta không
dừng lại ở một h́nh thức bên ngoài và
nhất là tạo nên một biến cố để
trang điểm cho chế độ. Nếu Kitô Giáo mà
mất vai tṛ ngôn sứ th́ nó bị thuần hóa và
trở thành công cụ của chế độ. Lúc
đó, chúng ta không c̣n là tiếng kêu trong hoang địa
nữa mà sẽ là tiếng chũm chọe kêu inh
ỏi (1Cor 13:1); lúc đó chúng ta sẽ như muối
không c̣n mặn nữa mà chỉ c̣n chờ ném ra ngoài
đường cho người ta đạp lên nó (Mat
5:13). Nói tóm
lại, ḷng sùng kính Đức Mẹ La Vang không
thể tách ĺa với bổn phận xây dựng
một xă hội theo giá trị của Phúc Âm. Sứ
mạng của Đức Kitô là đem sự sống
sung măn cho con người. Người Kitô hữu chúng
ta không thể chỉ dừng lại trong những hành
động tôn giáo mà không kiếm t́m sự sung măn
của đồng loại và nhất là của đồng
bào. Như Mẹ Maria là nữ t́ trung tín, xin cho
mọi người Công Giáo Việt Nam trong và ngoài nước
cũng trở nên đầy tớ của Tin Mừng,
của công lư, của sự thật trong cuộc
chiến chống lại sự dữ và tà quyền. Tôi
xin phỏng theo lời của Đức Cố Giáo Hoàng
Gioan Phaolo II để kết thúc buổi chia sẻ hôm
nay: Xin Mẹ La
Vang toàn thắng nơi quê hương chúng
ta.
Cùng
Mẹ La Vang, chúng ta hăy tiến bước về tương
lai tươi sáng cho dân tộc và cho đất nước.
Giám Mục
NGUYỄN VĂN LONG |
||||||||||||||||||||||||||||
|
Thánh Lễ bế mạc: Xem Video trên BÀI GIẢNG TRONG THÁNH LỄ BẾ MẠC Tại Vương Cung Thánh Đường Quốc Gia - Đức Mẹ Vô Nhiễm - Washington DC, Hoa Kỳ
|
||||||||||||||||||||||||||||
|
Sau 3 ngày Hành Hương Đức Mẹ LaVang @ Washington DC, HOA KỲ |
||||||||||||||||||||||||||||
|
Đức Cha LONG đến thăm DĐGD (tại Ṭa Soạn: 32 h́nh) và các người thân ở California, USA |
||||||||||||||||||||||||||||
|
||||||||||||||||||||||||||||
|
|
||||||||||||||||||||||||||||
|
|
||||||||||||||||||||||||||||
|
|
||||||||||||||||||||||||||||
|
|
||||||||||||||||||||||||||||
|
Cám ơn quí vị đă theo dơi chương tŕnh của Diễn Đàn Giáo Dân Xin Thiên Chúa chúc phúc lành đến quí vị.
|