|
Ðợt gió thu cuối mùa đã thả vào khu vườn
sau thêm chút tiêu điều của một mùa thu
rất ngắn. Năm nào cũng vậy, một đêm
đang ngủ chợt giựt mình thức giấc,
nghe ào ào sau vườn tiếng lá rung, không biết
gió ở đâu đổ về khu vườn lá
đã chuyển màu, chùm phong linh sau nhà vang lên
những hồi chuông leng keng như báo hiệu mùa thu
sắp ra đi rồi đó. Mùa thu ở đây
ngắn quá để lá chỉ mới chớm vàng chưa
kịp rụng, đợt gió lạnh tràn về làm
úa đi những chiếc hoa vàng trên giàn mướp
hương, những quả mướp non chưa
kịp lớn sẽ là món ăn ngon cuối mùa trên mâm
cơm gia đình bà nội Tý Anh và Tý Em.
Giàn mướp
đang độ vào hè, với những trái mướp
dài lủng lẳng treo trên giàn nhiều đến
nỗi ăn không kịp, phải đem biếu cho hàng
xóm, gọi con cái ăn hộ giờ này chỉ còn có
vài quả cuối mùa co quéo lại nằm trên
mặt giàn, không thả được mình xuống
khoe mã như dạo đang hè. Bây giờ muốn
ăn phải tìm mỏi mắt vì còn dăm quả
đèo đẹt, lấp mình trong khoảng giàn xanh
xanh, chen lấn trong đó nhiều loại rau khác nhau:
mùng tơi, lá mơ, mướp hương...
Những loại
rau này rất buồn cười, sống hồn nhiên
như những đứa bé con nhà nghèo, tự nhiên
mọc lên rồi lớn, bám vào được
chỗ nào thì cứ thế mà leo, còn nhiều khi bà
nội Tý Anh cẩn thận gieo hột trong những cái
chậu đất tốt, tưới tắm, nâng niu,
cây có đâm chồi nảy lộc nhưng chỉ
được vài hôm là ủ giột, mặt mày
cứ sa sầm xuống như bị cầm hãm tù
tội. Cái khoảng khoát khỏe mạnh của cây
cỏ là được sống tự nhiên với thiên
nhiên, hễ mọc được là sống khỏe,
rồi sau đó tự nhiên chen lấn với các
loại khác mà sống còn.
Nói đến cái
cơ duyên của giàn mướp này bà nội Tý Anh
lại buồn cười. Thực tình thì bà có
trồng đâu, cái giàn là của nhà mùng tơi tím
đó chứ, sau có người hàng xóm quảng cáo
về cái lá mơ trị kiết lỵ, đầy hơi,
trĩ nội trĩ ngoại rồi tặng cho một
cây, bà cũng dọn cho nó một chỗ mát mẻ
ngay bên vệ rào, gần đám mùng tơi. Sở dĩ đa
số dây leo được bò quanh vệ rào, vì
chỗ này ít bị nắng gắt mùa hè chiếu
cố đến, chỉ vào buổi bình minh mới lên
là còn hưởng tý ánh nắng mặt trời, nhưng
cứ càng xế trưa thì chỗ ấy mát dần lên,
dây lá không ủ rủ héo rũ xuống vì nắng hè
khắc nghiệt.
Khi đám mùng tơi
phơi phới leo lên, chị lá mơ cũng ì
ạch chạy theo kịp thì trên giàn những lá mơ
mềm mềm hai mặt xanh và nâu tím, đầy
những lông tơ cũng lẫn lộn với
chị mùng tơi tím xinh xinh vẻ hiền hậu
của cô gái quê không son phấn. Muốn có nồi
canh mùng tơi, trước hết bà nội Tý Anh
đã hái những lá nằm phía dưới của hàng
rào, sau chỗ nào cao hơn thì phải dùng cái thang
nhỏ mới hái được. Nhà ít người
thì một rổ nhỏ cũng có tô canh rồi, hai
thằng Tý Anh Tý Em khi biết ăn cơm là cũng
biết ăn canh mùng tơi, chả vì có tý rau trơn
trơn dễ nuốt. Nhưng khi nào nhà có khách, ngoài
những món thịt thà xào nấu công phu, bao giờ bà
nội Tý Anh cũng phải nấu thêm tô canh mùng tơi,
ăn với món cà muối xổi thơm mùi
tỏi ớt lúc nào cũng có sẵn trong tủ
lạnh.
Không biết sao
chứ nồi canh mùng tơi ăn với cà lại
được khách chiếu cố tận tình,
chẳng phải dài hơi mời mọc. Hôm nào đi
chợ thấy bán cua biển còn tươi, bà
nội Tý Anh đã chịu khó mua về làm sạch
sẽ, rồi nhờ ông xay giùm để dành
từng bọc trong tủ đá. Khi muốn ăn,
bỏ ra ngoài chờ hết lạnh lọc lại là
có món canh cua nấu rau gì cũng ngọt. Nó hợp
lạ lùng với rau đay, nhưng có đem nấu
với mùng tơi và mướp hương thì cũng
chẳng chê vào đâu được.
Hồi xưa
đến giờ người ta hay nói đến cái
duyên của mùng tơi với quả mướp, hai
thứ này đi với nhau như bóng với hình. Người
nội trợ khi mua rau mùng tơi nấu canh, bao
giờ cũng hay nghĩ đến quả mướp,
thấp thoáng trong nồi canh là những miếng mướp
mong mỏng xanh xanh màu ngọc thạch, thì lại
phải điểm lên những lá mùng tơi xanh tím làm
nền cho tô canh quyến rũ hơn, mùi vị hòa
hợp lạ lùng. Thế mà khi không cái duyên quả mướp
với mùng tơi lại đến với mảnh vườn
của bà nội Tý Anh. Nhà hàng xóm mùa thu năm trước
dọn dẹp giàn mướp tàn, lẫn lộn
những hột mướp giống với cỏ khô,
dồn hết vào hông nhà ở vệ rào, năm nay
khi mùa Xuân sang tự nhiên mọc lên những dây mướp
thật khỏe, rồi vì nhu cầu sống cứ
thế vươn lên, tìm đất đứng và
tự nhiên bò qua cái hàng rào nhà hàng xóm.
Cuộc xâm lăng
này không biết đối với chị mùng tơi và
chị rau mơ có dễ chịu không thì chủ nhà
không biết, nhưng cứ nhìn những dây mướp
to khỏe, thay đổi từng ngày, lá xanh rờn to
bằng hai bàn tay xoè ra, "tự nhiên như người Hà Nội" che kín cái giàn còn
trống trải, tạo bóng mát cho cái hàng ba nắng
mùa hè chênh chếch soi vào thì tiện lợi biết
mấy. Nhất là trên cái giàn ấy đã xuất
hiện những bông hoa vàng, rủ rê con ong cái bướm
ở khắp nơi bay về dập dìu trên giàn mướp
hương, đem đến những mảnh tình con
con cho hoa lá cũng tưng bừng mở hội.
Ðó là cái tình
của cây cỏ, còn cái lợi trước mắt thì
nhà có thêm mướp để nấu canh mùng tơi,
món canh quê mùa quốc hồn quốc túy mà chan vào bát
cơm, rồi cắn thêm quả cà ròn tan trong
miệng, chẳng thích lắm sao! Chủ nhân thuộc
loại nhàng nhàng đủ ăn, chả có danh gì
với núi sông ngoài cái giàn mướp và mùng tơi
che kín cái hiên sau nhà, nên gọi cái giang sơn của
mình là vườn rau quê hương, để gợi nhớ cái
vườn rau quê nhà, và cũng vợi đi chút
buồn xa xứ, hễ khách đến nhà thế nào
cũng nấu cho được tô canh mướp, mùng
tơi để đãi khách.
Bây giờ
trời đã cuối thu, chỉ còn thưa thớt vài
quả mướp đèo trốn tít ở trên cao, rình
mãi bà nội Tý Anh mới gom được ba quả
mướp đèo để nấu tô canh cuối mùa.
Ngó quanh cái giậu mùng tơi lá đã úa vàng, bé
tẻo teo bám trên sợi dây màu tím lịm, vặt
trụi đi thấy cũng tội nghiệp, chỉ
còn những chùm hột màu tím khô đong đưa dưới
mặt giàn. Rau
ăn đúng mùa, trái ăn đúng kỳ mới ngon, thôi thì làm một nồi canh mướp
với nhúm tôm tươi bóc vỏ, thêm vào tý
thịt nạc, vài tai nấm, một nắm bún tàu
rồi nêm vào một chút hành ngò chẳng ngon lắm
sao!
Nhà hôm ấy có
khách. Khách từ phương Bắc mới đầu
đông mà đã giá rét, trốn lạnh đi về
phương Nam chơi ít lâu nên khi nhìn thấy cái
vườn phương Nam, tuy đã xơ xác tiêu
điều nhưng vẫn thấy lòng ấm lại.
Chẳng vì mùa đông phương Bắc đến
sớm từ cuối tháng chín, chưa gì vườn
tược hoa cỏ đã úa màu rơi rụng
hết, nay về phương Nam người xa quê như
bắt gặp được một khoảnh quê hương
xa tít tắp bên kia bờ đại dương.
Nhất là bụi mía ven bờ rào bên khung cửa
sổ thì ôi chao sao nó nhớ chi là nhớ, một cơn
gió thổi qua để tất cả những thứ
lá cây trong vườn rung lên xào xạc, bụi mía xào
xạc, những lá mướp già vừa chớm khô
cũng xào xạc, trời lại hanh hanh nắng mà
vẫn hơi se lạnh, tý nữa trên mâm cơm
lại có thêm tô canh mướp cuối mùa, còn
giữ nguyên cái tình quê trong đó.
Không cần
mời chào nài ép nhiều nhặn gì, đến
bữa cơm ngoài món thịt kho trứng, đĩa
cá chiên ròn chan nước mắm chua ngọt, tô canh mướp
cuối mùa múc lên chỉ loáng mà đã hết. Khách
vừa ăn vừa khen rối rít: "Chả nói dấu gì, cao lương mỹ
vị chúng tôi không thiếu, có tiền mua tiên cũng
được, nhưng không tìm ra được hương
vị thanh thanh ngọt ngào như cái tô canh mướp
nhà bác. Ngày xưa hồi còn ở quê nhà...."
Thế là bao nhiêu
kỷ niệm ở đâu tuôn ra như nước
vỡ bờ: "Bà cụ tôi hồi sinh tiền chỉ thích
mỗi món canh mướp nấu lòng gà, ngày giỗ
kỵ cũng phải để bộ đồ lòng
cho cụ nấu canh mướp. Còn ngày thường
thì chỉ nhúm tôm khô cũng xong, nhưng quả
thật những thứ này đi với nhau lại hòa
hợp một cách lạ lùng. Cái màu xanh xanh biêng
biếc của lá mùng tơi, rồi điểm vào
đó những lát mướp mong mỏng như
ngọc thạch, úi chao, cả một nghệ
thuật ẩm thực của tiền nhân trong ấy..."
Khách đúng là xính
thơ văn nên khi tả món ăn cũng phải
cầu kỳ hoa mỹ, chứ cứ như bà nội
Tý Anh, cả đời dân giả chỉ biết
nồi niêu xoong chảo, cách nấu nướng cũng
chỉ đơn giản miễn sao có chút thức
ăn đưa cơm cho no bụng: "Chắc các bác chưa từng
được ăn đọt mướp xào tỏi
bao giờ nhỉ?"
Khách ngưng húp
canh, ngẩn ngơ nghĩ chưa ra là trên đời
lại còn món đọt mướp xào tỏi: "Vâng,
món ấy thì chưa được ăn qua, nhưng
đào đâu ra cho đủ để xào?"
Bà nội Tý Anh hãnh
diện khoe: "Từ
ngày sang đây đến nay, tôi cũng chửa
thấy chợ nào có bán đọt mướp. Bí
rợ, đậu hòa lan thì thiếu gì, nhưng tìm
được đọt mướp để xào thì
hiếm còn hơn cao lương mỹ vị. Gặp
năm giàn xum xuê quá mà quả ăn mãi cũng chán,
nhà chỉ hay hái đọt mướp để xào
thôi. Ðúng là quý thật, vì mỗi lần hái chỉ
được một rổ nhỏ, lấy cả lá
non tước đi cái vỏ ngoài cũng chỉ
được đúng một đĩa, hôm ấy nhà
tôi gọi là có đại tiệc đấy, mỗi
người được đúng hai gắp..."
Khách xuýt xoa:
"Tiếc
nhỉ, giá đến chơi sớm vào độ hè
chắc tôi đã được ăn món ấy. Ðâu
chủ nhà diễn tả xem cái đọt mướp
xào tỏi nó thi vị ở chỗ nào, có bằng món
đọt đậu Hòa Lan trong nhà hàng Tàu không?"
Xem ra khách có
vẻ chưa tin vào cái món đọt mướp
"cây nhà lá vườn" này lắm, bà nội Tý
Anh phải vận dụng hết khả năng văn
chương để cho khách phương xa thèm
thuồng món ăn dân giả này, bởi chưa
chắc có tiền đã mua được: "Ấy,
bác vào bất cứ nhà hàng nào ở đây không bao
giờ tìm được trong "Menu" món này
đâu đấy! Còn so sánh với đọt đậu
xào thịt bò thì hai cái khác nhau một trời
một vực, hương vị mỗi thứ
mỗi khác, tuy đã xào nhưng mùi hương
của cái nhụy hoa vàng kia nó vẫn phảng
phất trong cái miếng rau mình nhai trong miệng, bùi bùi,
hơi nhân nhẩn mà không đắng, thơm thơm
mà lại thanh thanh, cứ chầm chậm nhai thì
mới thấy cái ngon nó thấm vào lục phủ ngũ
tạng. Rau bí rợ thì dễ kiếm, nhung khi
luộc hay xào, ăn nó nhàn nhạt không bao giờ có
được cái vị thơm của lá mướp."
Khách cười
xòa lên: "Ui
chao! Nghe tả sơ sơ thôi mà đã thấy thèm
ứa nước miếng ra rồi. Xem ra chả có cái
gì bỏ phí, vì lá mướp nghe nói cũng là dược
thảo chữa cái bệnh gì đó..."
Chủ khách cùng
cười, giá cây mướp đang bò trên giàn kia
nghe được chắc cũng phổng mũi ra vì
sung sướng: "Nghiên
cứu về dược thảo của rau cỏ thì
nhiều, nhưng chính lá mướp cũng là một
thứ thuốc chữa bịnh ngoài da hay lắm. Nó còn
chữa được cả bệnh Giời ăn,
mọc thành giề mà hễ nước vỡ ra đến
đâu thì lan ra tới đó, cái lạ rằng
chỉ nổi một nửa thôi, hễ ở lưng
thì mọc một bên không bao giờ qua phía bên kia, nhưng
để giáp vòng thì hết thuốc chữa. Vậy
mà ngày xưa ở nhà quê người ta cứ
lấy lá mướp giã nát ra đắp lên cũng
khỏi. Thế tôi đố chị chỉ có người
Việt mình mới biết ăn đọt mướp,
hay là các dân xứ khác họ cũng biết ăn như
mình?"
Khách lắc đầu:
"Ngay
tôi là người Việt thế nhưng hồi
ở bên nhà, cũng chưa bao giờ biết là đọt
mướp ăn được."
Bà nội Tý Anh
tiếp lời khách: "Chính
tôi thì cũng không nghĩ rằng đọt mướp
ăn được, vì khi các cụ mình trồng cho
mướp ra hoa nhiều mới có quả, bất
cứ giống gì hái đọt ăn lá đều không
kết quả được bao nhiêu. Thế nhưng
cái hôm bà hàng xóm người Phi Châu sang chơi,
thấy cây mướp có nhiều đọt non, bà
ấy mới bảo rằng lá mướp non ăn
ngon lắm. Tôi không tin như thế, nhưng nghe
vậy cũng ăn thử một bữa xem sao,
mới biết người ta nói đúng."
Chỉ tiếc
rằng giàn mướp vào cuối thu đã tàn, nên
không thể hái được nắm đọt mơn
mởn để đãi khách như độ đang
hè, nhưng câu chuyện kể về quả mướp
hương nó lại lan man sang vấn đề khác:
"Mình
thì cứ tưởng chỉ có mỗi mình mình
mặn nồng nỗi nhớ quê cha đất tổ,
hóa ra dân tộc khác cũng vậy. Món ngon không
phải ở chỗ đắt tiền, nhưng chính
là nó hợp với cái nỗi nhớ trong lòng mình mà
bỗng hóa nên ngon, nên hiếm. Ôi cái thuở còn thơ,
hễ buồn buồn thì vác con dao ra vườn đốn
một cây mía xuân diệu, rồi cứ thế
ngồi dưới gốc mía mà gặm, sao nó
ngọt nó ngon đến thế. Bây giờ nói xin
lỗi bác, khéo không lại đi tuốt hết cái hàm
răng..."
Hai người
cứ thế rũ ra cười với nhau, hai
thằng Tý Anh Tý Em cùng cười góp vào mà chẳng
hiểu gì. Bà nội Tý Anh bảo: "Mùa này cá nục ngon và béo lắm, mai tôi đãi
chị món lá mướp cuốn cá nục, nuớng
lửa than rồi cuộn với bánh tráng, rau sống
tuyệt trần đời. Trải ba lớp lá mướp,
để cá lên rồi cuộn chặt vào mà nướng,
thịt cá không tanh mà lại còn thơm cái mùi khói
đồng nhờ lá mướp bao xung quanh. Muốn tìm
ra cái hương quê cũng chẳng khó gì chị
ạ."
Cơm nước
xong, ấm trà cúc pha vừa phải đủ làm thơm
miệng và mát bụng. Hình như chợt nhớ ra, bà
nội Tý Anh lại nói với khách: "Xem thế nhưng không phải lúc nào cũng
ăn được mướp. Người yếu
tỳ yếu vị, bị cảm lạnh thì không nên
ăn, mướp thuộc loại hàn ăn vào cũng
khó tiêu. Nhưng hề gì, nhà tôi có một giàn lá mơ
đấy, bứt vài lá dằn bụng thì ăn gì cũng
chả lo!"
Nguyên Nhung
|