|
Quốc Kỳ Việt Nam: Nguồn Gốc và
Lẽ Chính Thống
Ngày 22 Tháng 12 Năm
2003
Kỹ
Sư Nguyễn Đ́nh Sài
I.
DẪN NHẬP
"Quốc Kỳ" - The National Flag - là
lá cờ chính thức của một dân tộc
sống trên một lănh thổ do một chính quyền
quốc gia quản trị, đuợc đa số dân
chúng tín nhiệm trong nghia vụ bảo vệ sự
hiện hữu và toàn vẹn lănh thổ của
quốc gia đó.
Ngày xưa, khi tất cả các quốc
gia c̣n trong chế độ quân chủ chuyên chính, th́
"đế kỳ" (cờ của vua) cung là
biểu tuợng của quốc gia, nhung chỉ đuợc
dựng lên tại những noi có vua ngự. C̣n các thành
quách, biên ải th́ dựng cờ của các vị
thống lănh. Ư niệm dùng một lá "quốc
kỳ" để biểu tuợng chủ quyền
quốc gia trên toàn thể lănh thổ chỉ mới có
về sau này. Quốc kỳ Đan Mạch có nền
đỏ và chữ thập trắng, đuợc xem là
xua nhất trong lịch sử thế giới, khánh thành
vào năm 1219. Quốc kỳ Liên Hiệp Anh "The
Union Jack" đuợc quốc hội quân chủ
lập hiến thừa nhận năm 1707. Quốc
kỳ "Tam Tài" ba sọc đứng xanh,
trắng, đỏ của Pháp xuất hiện cùng
với cuộc cách mạng nhân dân năm 1789. Quốc
kỳ Mỹ đă đuợc công bố qua đạo
luật First Flag Act của Quốc Hội vào năm
1777, nhung khác hẳn với quốc kỳ hôm nay,
với một nền gồm 7 sọc đỏ, 6
sọc trắng, và một h́nh chữ nhật màu xanh
đậm phía trên cờ góc trái, trên đó có
một ṿng tṛn gồm 13 sao trắng tuợng trung cho
13 tiểu bang sáng lập ra quốc gia Hoa Kỳ. Qua
nhiều lần thay đổi với số luợng
tiểu bang ngày càng gia tăng, ṿng tṛn sao trắng
đuợc sắp thành nhiều hàng thẳng. Ngày 4 tháng
7, 1958 quốc kỳ Mỹ có 50 ngôi sao trắng
với sự gia nhập liên bang của
Alaska
và
Hawaii
. Đa số những lá quốc kỳ khác chỉ
mới xuất hiện trong thế kỷ 20, khi các
quốc gia bắt đầu chuyển hóa từ
chế độ quân chủ sang dân chủ, cần có
quốc kỳ tiêu biểu cho quốc gia và dân tộc
chứ không chỉ riêng cho đế chế mà thôi.
Từ khoảng hậu bán thế kỷ
19 đến nay, Việt
Nam
cung đă thay đổi khoảng một chục lá
"quốc kỳ". Đáng chú ư nhất là hai lá
cờ "nền vàng ba sọc đỏ" (gọi
tắt là Cờ Vàng) và cờ "nền đỏ
sao vàng" (gọi tắt là Cờ Đỏ) đă
có một lịch sử tuong tranh từ hon 5 thập niên
qua. Từ năm 1954 đến 1975, hai lá cờ này
đă là hai biểu tuợng của sự chia đôi
đất nuớc thành hai miền Nam, Bắc Việt
Nam, và đuợc dùng làm lá "quốc kỳ"
của mỗi miền. Ba muoi năm chiến tranh v́
nỗ lực của đảng CSVN muốn xâm
chiếm miền
Nam
đă gây nên nhiều chết chóc hơn bất
cứ giai đoạn nào trong lịch sử dân
tộc. Sau năm 1975, với sự kiện đảng
CSVN chiếm trọn vẹn miền Nam, th́ Cờ Đỏ
đă ngự trị vùng trời Việt Nam và tại
trụ sở các cơ quan quốc tế mà chế
độ Hà Nội là thành viên. Cũng từ năm
1975, với hàng triệu nguời tỵ nạn
cộng sản trên khắp thế giới, Cờ Vàng
vẫn tiếp tục tung bay tại hải ngoại,
tất cả những noi có cộng đồng
nguời Việt lưu vong t́m tự do cu ngụ. Đó
là một sự thật, không một ai có thể
biện giải khác đi đuợc.
Trong ṿng vài năm qua, có một số bài
viết về hai lá Cờ Vàng và Cờ Đỏ
xuất hiện trên các diễn đàn sách, báo, và
internet. Lịch sử về Cờ Đỏ có
thể đuợc dễ dàng t́m thấy trên các
websites của đảng Cộng Sản Việt
Nam
và của chế độ Cộng Ḥa Xă Hội
Chủ Nghia Việt
Nam
. Các bài viết về lịch sử Cờ Vàng có
thể đuợc t́m thấy qua các sách báo xuất
bản truớc năm 1975 và một số bài viết
đuợc phổ biến rộng răi tại hải
ngoại trong vài năm qua.
Tất cả các tài liệu đuợc
trích dẫn ở cuối bài đều có những
chi tiết khác nhau về nguồn gốc cũng như
ư nghĩa của lá Cờ Vàng và Cờ Đỏ. Ngoài
ra, lại có một số tài liệu của nguời
ngoại quốc cho thấy Cờ Vàng đă hiện
hữu từ cuối thế kỷ 19. Các tài liệu
này đuợc tŕnh bày khá công phu và khoa học, nhưng
lại không nêu xuất xứ để kiểm
chứng thêm. Đă thế, chế độ cầm
quyền hiện hữu luôn luôn muốn vinh danh thành
quả của chế độ và nỗ lực
khỏa lấp hay hủy hoại những ǵ liên
hệ đến phe chiến bại, đưa đến
t́nh trạng đáng buồn là các sử sách trong và
ngoài nuớc mâu thuẫn nhau về các dữ kiện
trong các thập niên từ 1930 trở về sau.
Chính v́ thế, nhu cầu tổng
luợc, thống nhất hóa sử liệu về
quốc kỳ Việt
Nam
đang trở thành cần thiết. Với định
huớng đó, trong bài suu khảo này, nguời
viết có tâm nguyện tŕnh bày những dữ
kiện khách quan về lịch sử những lá
cờ từng đuợc toàn thể hay một
phần dân Việt sử dụng làm "quốc
kỳ". Những tài liệu góp
nhặt sau đây, tuy dựa vào các sử liệu
đă hiện hữu, nhưng đuợc kèm theo
những đối chiếu, phân tích, giải thích, và
chọn lọc, để mỗi dữ kiện có
đuợc căn nguyên trung thực của nó. Ước
mong rằng đóng góp nhỏ mọn này sẽ
phần nào đuợc hữu dụng cho các thế
hệ mai sau.
II.
NHỮNG LÁ QUỐC KỲ TỪ ĐẦU THẾ
KỶ 19 ĐẾN NAY
Thế hệ trẻ Việt Nam ngày hôm
nay muốn t́m hiểu về lá quốc kỳ chính
thống của dân tộc Việt Nam trong hơn 100 năm
qua đă và đang bối rối v́ sự tương
phản cũng như nguồn gốc và ư nghĩa
của mỗi lá cờ. V́ vậy, đi t́m nguyên
khởi của mỗi lá cờ đó là t́m về
lịch sử biến thiên của dân tộc. Sau đây
là tóm luợc bối cảnh lịch sử cấu thành
và ư nghĩa của mỗi lá cờ đuợc t́m
thấy trong một hay nhiều tài liệu trích
dẫn ở cuối bài.
1. Long Tinh Kỳ:
Quốc Kỳ nguyên thủy của triều đ́nh Nhà
Nguyễn.
Long Tinh Kỳ (1802-1885)
* Nền vàng biểu
hiệu hoàng đế và sắc tộc dân Việt
* Chấm đỏ
biểu hiệu phuong nam
* Tua xanh biểu
hiệu đại duong, vẩy rồng
Đối chiếu với các tài
liệu đuợc tham khảo th́ lá quốc kỳ
đầu tiên trong thời nhà Nguyễn đă đuợc
đặt tên bằng tiếng Hán là "Long Tinh
Kỳ". (Ghi chú cho tuổi trẻ Việt
Nam
: Ư nghia của các chữ Hán như sau: Kỳ là
cờ. Long là Rồng, biểu tuợng cho hoàng đế,
có màu vàng. Râu tua màu xanh duong chung quanh tuợng trung cho
Tiên và cung là màu đại duong, noi Rồng cu ngụ.
Tinh có nghia là ngôi sao trên trời, mà cung có nghia là màu
đỏ. Màu đỏ c̣n biểu tuợng cho phuong
Nam
và cho ḷng nhiệt thành. Long Tinh Kỳ là Cờ
Rồng có chấm Đỏ viền tua xanh, biểu
hiệu cho một dân tộc có nguồn gốc
Rồng Tiên ở phuong Nam vùng nhiệt đới.)
Cờ Long Tinh đă có từ thời vua
Gia Long khi mới thống nhất son hà và lên ngôi hoàng
đế vào năm 1802. Tuy nhiên, vào đầu
thế kỷ 19, nhà Nguyễn chưa có bang giao
quốc tế với các nuớc Tây phương, nên
Long Tinh Kỳ đuợc xem là "Đế Kỳ".
Đế kỳ khác quốc kỳ ở chỗ:
- Đế kỳ là
cờ của nhà vua, vua ở đâu th́ đế
kỳ treo hay dựng nơi đó.
- Quốc kỳ là
biểu tuợng của quốc gia, treo tại các nơi
có cơ quan công quyền chứ không chỉ ở
chốn hoàng triều.
Năm 1863, sau khi Kinh Lược Sứ
Phan Thanh Giản thụ mệnh vua Tự Đức
đi sứ sang Pháp trở về, thấy Pháp chào
quốc kỳ Tam Tài trong các buổi lễ, nên ư
niệm dùng Long Tinh Kỳ làm "quốc kỳ"
mới khởi đầu.
Năm 1885, truớc âm muu đô hộ
của thực dân Pháp đă lộ liễu quá rơ,
triều đ́nh nhà Nguyễn không c̣n chịu nổi
áp lực ngoại xâm, Phụ Chính Đại Thần
Tôn Thất Thuyết ra lệnh tấn công quân Pháp.
Cuộc tấn công bị thất bại, thủ đô
Huế bị thất thủ. Ông pḥ vua Hàm Nghi
trốn chạy khỏi hoàng thành, ra Quảng Trị,
rồi sau đó lên căn cứ Tân Sở, miền núi
Truờng Sơn, giáp biên giới Lào-Việt, để
tiếp tục chống Pháp. Triều đ́nh mang theo lá
cờ Long Tinh để thể hiện sự hiện
diện của vua Hàm Nghi và cũng để hiệu
triệu quốc dân huởng ứng phong trào "Cần
Vương" (Cần Vương nghĩa là cứu
viện vua). Nhiều nhà ái quốc đă huởng
ứng phong trào Cần Vương, và nổi lên
chống Pháp khắp nơi từ nam chí bắc, mà
lịch sử cận đại c̣n ghi rơ như các
cuộc khởi nghĩa của các anh hùng Phan Đ́nh
Phùng, Hoàng Hoa Thám, Cao Thắng, Nguyễn Thiện
Thuật, v.v... Họ dựng lên những lá "Long
Tinh Kỳ" tại bộ chỉ huy cũng như
tiền đồn, để xác quyết sự hưởng
ứng của họ đối với hịch Cần
Vuong. (Ghi chú Việt Sử Toàn Thư Trang 467: "Từ
Trung ra Bắc, cờ khởi nghĩa bay khắp nơi").
Chính v́ vậy mà sử sách thế giới mới ghi
nhận sự hiện hữu của lá Cờ Long Tinh
vào năm 1885, mặc dù nó đă đuợc dùng làm
đế kỳ từ đầu thế kỷ 19.
2. Đại
Nam
Quốc Kỳ
Nuớc Việt ta từ thời lập quốc đến
đầu triều Nguyễn đă có nhiều
quốc hiệu. Từ năm 1010, vua Lư Thái Tổ khai
sáng triều đại nhà Lư th́ đổi quốc
hiệu Đại Cồ Việt thời Đinh
Bộ Linh thành ra Đại Việt. Quốc hiệu này
vẫn đuợc giữ nguyên qua nhiều triều
đại Trần, Hồ, Lê, cho đến cuối
triều đại Tây Sơn vào đầu thế
kỷ 19. Tuy vậy, các triều đại Trung Hoa không
hề chấp nhận quốc hiệu Đại
Việt mà vẫn gọi nuớc ta là "An Nam",
ngụ ư một nuớc
Nam
đuợc trị cho yên và tùng phục nguời Hán,
không c̣n quật cuờng nữa. Khi vua Gia Long lên ngôi
vào năm 1802, nhà vua sai sứ sang Tàu cầu phong và
xin lấy quốc hiệu là Nam Việt. Tuy nhiên, Thanh
triều nghi đến tên Nam Việt vốn là
quốc hiệu từ thời vua Triệu Đà vào năm
207 truớc Công Nguyên (BC). Lúc bấy giờ, Nam
Việt c̣n bao gồm hai tỉnh lớn Quảng Đông,
Quảng Tây, và đảo Hải
Nam
. Sau Công Nguyên (AD) th́ các đất ấy đă
bị nguời Hán chiếm mất. Đến thế
kỷ 18, Quang Trung Hoàng Đế, một anh hùng bách
chiến bách thắng của dân tộc Việt đă
định đ̣i nhà Thanh trả lại các vùng này,
song chưa thành công th́ ông đă tạ thế lúc
mới 40 tuổi.
Khi vua Gia Long thống nhất son hà,
muốn đổi quốc hiệu thành Nam Việt,
Thanh triều nhớ lại lời yêu sách của vua
Quang Trung, nên lo ngại và không chấp thuận. Để
giữ ḥa khí, Thanh triều mới tráo đổi
chữ Việt ra truớc chữ
Nam
để cho khỏi lầm với tên cũ. V́
thế, nuớc ta có quốc hiệu là Việt
Nam
kể từ năm 1804.
Năm 1820, vua Minh Mạng nối ngôi cha,
mở mang bờ cơi rộng lớn về phía tây và
phía nam. Minh Mạng cũng sai sứ sang Tàu xin tấn
phong và xin đổi quốc hiệu Việt
Nam
thành Đại
Nam
, ngụ ư một nuớc
Nam
rộng lớn.
Tuy nhiên Thanh triều đă không chính
thức chấp thuận cho vua Minh Mạng đổi
quốc hiệu mới thành Đại Nam Quốc. Măi
đến gần hai thập niên sau, nhân nhà Thanh
bắt đầu suy yếu, vua Minh Mạng đă
quyết định đơn phuương đổi
tên nuớc thành Đại Nam và chính thức công
bố tên mới vào ngày 15 tháng 2, 1839. Quốc
hiệu này đă đuợc dùng trong đời vua
Tự Đức và các đời vua kế tiếp.
Một số tác phẩm nổi tiếng vào thời
đó đă mang tên Đại
Nam
. Điển h́nh là bộ sách "Đại Nam
Thực Lục Chính Biên" và bộ "Đại
Nam Nhất Thống Chí" do Quốc Sử Quán
triều vua Tự Đức soạn ra, tổng
hợp các công tŕnh sử sách từ các đời
vua truớc.
Trong lúc đó, th́ nguời Pháp cung theo
sử sách của Tàu, vẫn gọi nuớc ta là
"
Annam
", và cũng cùng ngụ ư tương tự như
nguời Tàu, để "yên trị" nguời
Việt.
Năm 1885, v́ cờ Long Tinh theo vua Hàm
Nghi vào bưng kháng Pháp, nên nguời Pháp không chấp
thuận cho vua Đồng Khánh dùng Long Tinh Kỳ làm
quốc kỳ nữa. Triều đ́nh Đồng Khánh
phải chế ra lá cờ mới. Lá cờ mới
cung có nền vàng, nhưng màu đỏ th́ gồm hai
chữ Hán "Đại
Nam
" mang tên quốc hiệu nuớc ta lúc bấy
giờ, tức là "Đại Nam Kỳ". Tuy nhiên,
những nguời tinh thông chữ Hán, khi nh́n thoáng qua
lá cờ mới đều nhận thấy không hoàn
toàn giống các nét chữ "Đại" và
"Nam", nên không ai có thể quả quyết
rằng lá cờ ấy liên hệ với quốc
hiệu Đại Nam.
Sau đây là h́nh lá cờ Đại
Nam
, đuợc t́m thấy qua tài liệu của
nguời Tây phương.
Đại Nam Kỳ (1885-1890)
* Nền vàng
* Hai chữ Đại
Nam
màu đỏ & xoay 90o ngược vị trí đối
diện
Chúng ta hăy nh́n lại hai chữ Đại
Nam
viết bằng Hán tự sau đây:
Bây giờ, chúng ta mới nhận thấy hai chữ
Đại và
Nam
xoay chiều theo kiểu trên khá giống lá quốc
kỳ nuớc ta vào năm 1885-1890. Tuy vậy, chữ bên
trái trên lá cờ khá giống chữ Đại, trong
khi chữ bên phải trên lá cờ không hoàn toàn
giống chữ
Nam
. Nguyên do có thể là v́ nguời ngoại quốc
đă không rành thuật viết chữ Hán, nên đă
thiếu sót vài nét khi chuyển thành h́nh vẽ
của chữ
Nam
trên các websites của họ. Cũng có thể đó
chỉ là sự cố ư của triều đ́nh Đồng
Khánh khi thực hiện lá cờ, v́ vua Đồng Khánh
do Pháp đưa lên ngôi, là một ông vua bù nh́n,
thể chất yếu đuối, thiếu tinh
thần tự chủ, nên không dám làm mất ḷng nhà
Thanh cũng như chính phủ bảo hộ Pháp. V́
thế triều đ́nh đành phải xoay đổi
đi một chút.
3.
Quốc kỳ Nền Vàng Ba Sọc Đỏ duới hai triều đại Kháng
Pháp 1890 - 1920
Vua Đồng Khánh ở ngôi đuợc
3 năm th́ băng hà v́ bạo bệnh vào ngày 25 tháng
12, 1888, lúc mới 25 tuổi. V́ các con của ông c̣n
nhỏ nên triều đ́nh lập hoàng tử Bửu
Lân, con vua Dục Đức lên ngôi năm 1889, lấy
hiệu là Thành Thái. Vua Thành Thái là một vị vua
thông minh, hiếu học, c̣n nhỏ tuổi mà sớm
có ư chí tự cuờng dân tộc và có tinh thần
canh tân đất nuớc. Ông thích t́m cơ hội
sống gần dân, thuờng ra khỏi hoàng thành
giả dạng đi chơi hay săn bắn, thậm
chí về sau c̣n giả điên, nhưng thật ra là
để tiếp xúc với các nhà chí si cách mạng.
Truớc đó, vào tháng 8 năm 1883
đời vua Hiệp Ḥa, Pháp tấn công vào cửa
Thuận An, gởi tối hậu thư bắt ép
triều đ́nh phải kư hoà uớc Quư Mùi 1883, công
nhận Nam Kỳ là thuộc địa của Pháp, c̣n
Trung và Bắc Kỳ thuộc quyền bảo hộ
của Pháp (có nghĩa là mất tư cách độc
lập về ngoại giao và quốc pḥng). Từ
đó cho đến năm 1945, nuớc ta không c̣n là
một lănh thổ nguyên vẹn từ Nam chí Bắc.
Cảm thông tâm trạng bất măn
của nhân dân thể hiện qua những tiếp xúc
với các sĩ phu ngoài hoàng thành, vua Thành Thái đă
không những không thỏa măn các đ̣i hỏi
của chính quyền bảo hộ, mà c̣n trọng
dụng nhiều nhân tài thanh liêm và đức độ
như các ông Ngô Đ́nh Khả, Nguyễn Hữu Bài,
với hy vọng khôi phục và canh tân đất
nuớc. Năm 1890, nhà vua xuống chiếu thay đổi
quốc kỳ chữ Hán bằng quốc kỳ
mới. Lá cờ nền Vàng Ba Sọc Đỏ
lần đầu tiên đuợc cấu tạo và
được dùng làm quốc kỳ.
Đại Nam Quốc Kỳ (1890-1920)
* Nền vàng
* Ba sọc đỏ
bằng nhau biểu hiệu bắc nam trung bất
khả phân
Có thể nói Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ - gọi
tắt là "Cờ Vàng" - là lá "quốc
kỳ" đúng nghĩa đầu tiên của dân
tộc Việt, v́ nó hàm chứa nguyện vọng
độc lập và thống nhất của lănh
thổ Việt.
Sự kiến tạo lá quốc kỳ
mới ấy có nhiều ư nghĩa vô cùng quan
trọng:
- Thể hiện ư chí
đấu tranh, bác bỏ hiệp uớc Quư Mùi, "chia
để trị" của thực dân Pháp, đă
tao ra t́nh trạng Nam Kỳ thuộc địa, Trung
Bắc kỳ bảo hộ.
- Xác quyết sự toàn
vẹn lănh thổ của Đại Nam Quốc, ba
miền đều có tư thế chính trị
giống nhau và bất khả phân trong nền tảng
màu Vàng của dân tộc Việt ở phuong
Nam
.
- Nêu cao tinh thần
"quốc gia dân tộc", bằng cách đoạn
tuyệt với sự liên hệ của chữ Hán, cũng
như thoát ly ra khỏi nền bảo hộ Pháp và
triều cống Tàu.
Chính v́ các ư nghĩa trên mà lá cờ Vàng
c̣n đuợc mệnh danh là cờ "Quốc Gia".
Như vậy, từ ngữ "quốc gia" có
từ cuối thế kỷ 19, đối nghịch
với "thuộc địa", chớ không
chỉ mới có vào bán thế kỷ 20 khi từ
ngữ "cộng sản" xuất hiện.
Lá cờ Quốc Gia đă đuợc
tồn tại suốt triều vua Thành Thái. Năm
1907, v́ tánh khí quật cuờng, không chịu làm
một ông vua bù nh́n và không nghe theo các đề
nghị của Pháp, vua Thành Thái bị Pháp biếm
nhục là ông mắc bệnh "điên" và
truất phế ông, rồi đưa ông đi
quản thúc ở Vũng Tàu. Con vua Thành Thái là hoàng
tử Vĩnh San đuợc triều đ́nh pḥ lên ngôi,
lấy hiệu là Duy Tân. Cũng như vua cha, vua Duy Tân
tuy c̣n nhỏ tuổi mà đă tỏ ra là một
nguời ái quốc can đảm. V́ thế, lá cờ
Quốc Gia vẫn c̣n tồn tại cho đến khi
chính vua Duy Tân cũng bị bắt v́ tội tham gia
cuộc kháng chiến chống Pháp rồi bị đày
sang đảo Réunion ở Phi Châu cùng với vua cha vào
năm 1916.
Ghi chú: Dữ kiện là Cờ Vàng hiện hữu
từ 1890-1920 đuợc t́m thấy trên website của
World Statemen. Chủ website này là Ben Cahoon, một chuyên
gia Mỹ, tốt nghiệp đại học
University
of
Connecticut
. Muốn biết thêm về ông, xin vào đây:
<http://www.worldstatesmen.org/AUTHOR.html>
World Statemen là một website khổng
lồ, chứa các lịch sử chính trị của
hầu hết quốc gia trên thế giới, trong
đó có VN. Tài liệu trong website này vô cùng phong phú,
khá chính xác về các phần khác của VN, như các
triều vua, các đời quan toàn quyền Pháp, v.v..,
với sự đóng góp của nhiều giáo sư
danh tiếng.
Người viết nghĩ rằng ngoài
sự căn cứ vào các tài liệu, các sử gia c̣n
cần phải cân nhắc, phân tích các sự
tuờng thuật có khi mâu thuẫn, đối
chiếu các biến cố thời sự để t́m
ra các dữ kiện hợp lư nhất, với ư
huớng rằng việc ǵ cũng có cái nguyên ủy
của nó chứ không phải tự nhiên mà có.
Lịch sử VN từ ngàn năm trước
được viết bởi các sử gia thời
hiện đại, mỗi nguời mỗi khác, và cung
khác với sử kư do nguời Hoa viết (như
bộ Sử Kư Tư Mă Thiên chẳng hạn).
Những sử gia thời sau dùng các sử liệu
của nguời thời truớc cho công tŕnh nghiên
cứu của ḿnh, có khi lại thêm những khám phá
mới. Đó là sự phát kiến về lịch
sử vậy. Phát kiến (innovation) là t́m ra sự
kiện mới dựa trên tài liệu cũ, chứ không
phải phát minh (invention), hay bịa đặt sự
kiện (fabrication). Các bộ sử của Sử Gia
Phạm Văn Sơn viết gần đây nhất,
rất dày, có nhiều chi tiết khá lư thú và mới
lạ, không hề t́m thấy nơi sách khác, có
lẽ đă được viết theo phương pháp
"phát kiến" ấy.
Sau khi đối chiếu với các
sử sách, bằng vào trí thức và sự chân thành
của Ben Cahoon, người viết không nghĩ tác
giả website đă bịa đặt ra sự kiện
Cờ Vàng đă hiện hữu năm 1890-1920, cũng
như Cờ Đại Nam bằng chữ Hán xoay 90
độ nghịch chiều. Hiển nhiên Cahoon đă
t́m thấy trong hàng đống tài liệu hay thư
khố Pháp và Mỹ hoặc các đại học, nhưng
lại không trích dẫn rơ ràng tài liệu nào. Riêng
cờ chữ Hán "Đại
Nam
" th́ ông cung không trích dẫn xuất xứ và
diễn tả là ǵ (có lẽ v́ không hiểu chữ
Hán), nên lúc nh́n qua không ai hiểu đuợc là ǵ.
Về sau, loay hoay xoay chuyển các chữ Đại và
Nam
, nguời viết mới khám phá ra cái thâm ư của
tiền nhân triều Nguyễn.
Trong tinh thần tôn trọng các sách
sử và các bài viết của các bậc trưởng
thượng, mới đầu nguời viết cũng
có sự nghi hoặc về dữ kiện Cờ Vàng
hiện hữu từ 1890, v́ không thấy sách Việt
sử nào ghi lại chi tiết này. Nhưng về sau
th́ nguời viết thấy dữ kiện ấy
rất hữu lư khi đối chiếu với
lịch sử vào thời điểm nuớc ta
mới bị Pháp ép kư các Hiệp Uớc 1883 và 1884,
cắt miền
Nam
cho Pháp làm thuộc địa. Tiếp theo, Pháp đày
ải các vua Thành Thái và Duy Tân, v́ hai vua này chủ
truong toàn vẹn lănh thổ. Các sự kiện này
rất phù hợp với ư nghĩa của Cờ Vàng.
Trên đây là sự đối chiếu
và chọn lọc của nguời viết để
đi đến kết luận là tài liệu của
World Statemen có tính xác thực và khả tín. Tuy nhiên,
nếu độc giả không thỏa măn với tài
liệu của World Statemen th́ nên trích dẫn tài
liệu phản bác lại.
4. Cờ Bắc Trung
Kỳ trong thời miền
Nam
thành thuộc địa Pháp
Long Tinh Kỳ (1920 - 10 Mar, 1945)
* Nền vàng một sọc đỏ lớn
* Biểu tượng
cho Bắc và Trung kỳ mà thôi.
* 10-3-45 là ngày cáo chung
của chế độ bảo hộ Pháp
Sau khi hai vua Thành Thái và Duy Tân bị Pháp
bắt đày đi Phi Châu, con của vua Đồng
Khánh là Khải Định lên ngôi. Giống như
cha, Khải Định cũng là một vua bù nh́n và
nổi tiếng nịnh Tây. V́ vậy, đến năm
1920 th́ Khải Định tuân lời quan bảo
hộ Pháp, xuống chiếu thay đổi Cờ Vàng
Quốc Gia tượng trưng cho ba miền thống
nhất, thành Cờ Vàng Một Sọc Đỏ,
chỉ tuợng trung cho hai miền Bắc và Trung
của triều đ́nh Huế mà thôi (c̣n miền Nam
th́ trở thành thuộc địa và có "quốc
kỳ" riêng).
Lá cờ Vàng Một Sọc Đỏ, cũng
đuợc gọi là cờ "Long Tinh", v́ nó
biến thể từ Long Tinh Kỳ nguyên thủy trong
mấy chục năm đầu của nhà Nguyễn.
Nền vàng có h́nh chữ nhật tương tự như
quốc kỳ của các quốc gia khác. Chấm đỏ
đuợc kéo dài ra thành sọc đỏ ở
giữa. Tua xanh không c̣n nữa. Đây là lá cờ
biểu hiệu cho một quốc gia chỉ c̣n hai
miền Bắc và Trung, thuộc quyền bảo hộ
Pháp. Lá cờ này trải qua đời vua Khải
Định và tồn tại trong đời vua Bảo
Đại, sau khi vua Khải Định băng hà vào
năm 1925. Sau khi lên ngôi vào đầu năm
1926 lúc mới 12 tuổi, vua Bảo Đại trao
hết quyền cho "Hội Đồng Phụ Chính"
với sự chỉ đạo của Toàn Quyền Pháp
rồi trở sang
Paris
tiếp tục học cho đến 1932 mới trở
về chấp chính. Lá cờ Long Tinh vẫn đuợc
tiếp tục dùng làm biểu tượng của
triều đ́nh Huế, lúc bấy giờ chỉ c̣n
thẩm quyền cai trị hai miền Bắc và Trung
duới sự bảo hộ của Pháp.
5. Cờ Nam Kỳ
Thuộc Địa (miền
Nam
thuộc địa Pháp)
Trong khi đó, từ năm 1923, Nam Kỳ đă chính
thức thành thuộc địa Pháp "Nam Kỳ
Quốc", có chính phủ riêng, quân đội riêng
và đă có "quốc kỳ" khác với Long Tinh
Kỳ. Cờ Nam Kỳ Thuộc Địa có nền vàng,
với h́nh cờ Tam Tài của "mẫu quốc"
Pháp nằm trên góc trái, như h́nh ảnh duới
đây.
Cờ Nam Kỳ Thuộc Địa
(1923 – 10/03/45)
* Nền vàng
* Cờ Tam Tài, màu Xanh
Trắng Đỏ nằm trên góc trái.
* 10-3-45: Nhật đảo
chính Pháp
Cờ này tồn tại đến
10-3-45 th́ cáo chung sau khi Nhật đảo chính Pháp
tại Đông Dương.
6. Long Tinh Kỳ
trong thời Nhật chiếm Đông Duong, 11/3/1945 - Aug
1945
Một ngày sau khi Nhật đảo chánh
Pháp, vua Bảo Đại đăng đàn tại
Huế vào ngày 11-3-45, tuyên bố hủy bỏ ḥa
uớc Quư Mùi 1883 và Giáp Thân 1884, Việt Nam thống
nhất và độc lập, theo chế độ Quân
Chủ tân thời nhu một số quốc gia Tây
Phuong, và ủy nhiệm cho học giả Trần
Trọng Kim thành lập chính phủ. Sau đó, vua
Bảo Đại phân định cho Long Tinh Kỳ
trở lại cuong vị của Đế Kỳ,
chỉ treo noi Hoàng Thành Huế hoặc mang theo
những noi vua tuần du. Long Tinh Đế Kỳ cung
tuong tự nhu Long Tinh Quốc Kỳ trong thời Pháp
bảo hộ, nhung nền vàng đậm hon và sọc
đỏ thu hẹp lại bằng 1/3 chiều cao lá
cờ, để tuong xứng với cờ Quẻ Ly
của chính phủ Trần Trọng Kim.
Long Tinh
Đế Kỳ (11 Mar - 30 Aug, 1945)
* Nền vàng, một sọc đỏ ở giữa
bằng 1/3 cờ.
* 11-3-45: Bảo Đại
tuyên bố VN độc lập, Long Tinh Kỳ trở
thành Đế Kỳ
* 30-8-45: Bảo Đại
thoái vị, Đế Kỳ cáo chung
7. Cờ Quẻ Ly
của quốc gia Việt Nam trong thời Nhật
chiếm Đông Duong
Để biểu trung cho Quốc Gia trong
chế độ Quân Chủ, Bảo Đại kư
sắc lệnh chấp thuận đề nghị
của Thủ Tuớng Trần Trọng Kim, lấy
lại quốc hiệu Việt Nam mà nhà Thanh đă
chấp thuận trong thời vua Gia Long, và sáng tạo
ra một quốc kỳ mới. Đó là lá cờ có
nền vàng tương tự như Long Tinh Đế
Kỳ nhưng vạch đỏ đuợc chia làm ba
vạch nhỏ bằng nhau, riêng vạch giữa th́
đứt khoảng, tương tự như quẻ
Ly, một quẻ trong bát Quái.
Cờ Quẻ Ly thời Nhật (11/03 –
5/09/45)
* Nền vàng, ba sọc
đỏ, sọc giữa đứt khoảng hơi
giống h́nh Quẻ Ly
* Quốc kỳ chính
thức thời Nhật, đồng thời với
Long Tinh Kế Kỳ
Không có tài liệu nào ghi lại lời giải thích
của chính học giả Trần Trọng Kim về
ư nghia của Cờ "Quẻ Ly". Tuy nhiên, cố
Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy, trong bài viết
duới tựa đề "Quốc Kỳ và
Quốc Ca Việt Nam" đă giải thích như sau:
"Ly là một quẻ của bát quái.
Cũng như màu đỏ, nó tượng trưng cho
phương nam. Trong vũ trụ quan của Việt
Nam và Trung Hoa thời truớc, màu đỏ thuộc hành
hỏa, tượng trưng cho mặt trời hay
lửa; quẻ Ly cũng tượng trưng cho
mặt trời, cho lửa, cho ánh sáng, cho nhiệt
lực và về mặt xă hội th́ tượng trưng
cho sự văn minh. Về h́nh dạng th́ quẻ Ly trên
cờ của chánh phủ Trần Trọng Kim gồm
một vạch đỏ liền, một vạch đỏ
đứt và một vạch đỏ liền. Do
đó, bên trong quẻ Ly, hiện lên một nền vàng
gồm hai vạch liền và một vạch đứng
nối liền hai vạch ấy. Trong Hán văn, đó
là chữ Công. Chữ công này đuợc dùng trong các
từ ngữ công nhơn, công nghệ để
chỉ nguời thợ và nghề biến chế các tài
nguyên để phục vụ đời sống con
nguời. Vậy, ngoài ư nghĩa văn minh rạng
rỡ, quẻ Ly c̣n hàm ư ca ngợi sự siêng năng
cần mẫn và sự khéo léo của dân tộc
Việt Nam trong các ngành hoạt động sản
xuất kỹ nghệ." C̣n tài liệu của Cơ
Sở Việt Tộc Paris th́ ghi:
"Theo Kinh Dịch (khoa học đông
phương nói về quy-luật biến-hóa của
vạn vật) th́ Quẻ Ly thuộc cung Hỏa ở
phương
Nam
. V́ thế nên chữ LY phải mang màu đỏ
của lửa. H́nh-thể lá cờ tuợng-trung cho
lảnh-thổ nên phải là h́nh vuông (trời tṛn
đất vuông); nay biến thành h́nh chữ nhật
cho phù-hợp với quy-uớc quốc-tế. V́
vậy nên lá cờ mang quẻ ly đă nói lên
vị-trí của một Quốc-gia ở phương
Nam
, tức nuớc
NAM
. Nay nuớc
Nam
th́ ai làm chủ? Màu vàng giải trên toàn thể lá
cờ mà ngày xua gọi là Hoàng Địa, nay ta
gọi là Nền Vàng, có nghiă là dân Việt làm
chủ trên mảnh đất đó."
Như vậy, ư nghia Cờ Quẻ Ly là
sự thống nhất, độc lập cả ba
miền thành một khối và theo chế độ quân
chủ. Tuy vậy, trên thực tế, chính phủ
Trần Trọng Kim chỉ được Nhật trao
thẩm quyền điều hành hai miền Bắc và
Trung mà thôi. C̣n miền Nam Việt Nam hết lệ
thuộc vào Pháp th́ lại lệ thuộc vào Nhật.
Mặc dù Cờ Quẻ Ly có ư nghĩa tốt đẹp,
nhưng bị nhiều nguời chỉ trích là "lệ
thuộc vào kinh dịch, tức là c̣n nô lệ văn
hóa của nguời Hán", tương tự như
Đại Nam Kỳ bằng Hán tự trong thời vua
Đồng Khánh gần cuối thế kỷ 19.
8.
Cờ Đỏ Sao Vàng của Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời
"Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa"
Hai quả bom nguyên tử của Mỹ thả
xuống lănh thổ Nhật ngày 6 và 9 tháng 8, 1945 đă
đua đến hậu quả là Nhật đầu
hàng Đồng Minh vô điều kiện. Hậu
quả này tạo nên một t́nh trạng hỗn độn
chính trị chua từng có tại Việt
Nam
suốt trong tháng 8. Các tổ chức cách mạng liên
tiếp tổ chức những cuộc biểu t́nh giành
độc lập, và chính phủ Trần Trọng Kim
bị xem là "chính phủ thân Nhật", nên không
ai dám hợp tác và Thủ Tuớng Trần Trọng
Kim đă phải từ nhiệm.
Trong t́nh trạng hỗn độn,
Mặt Trận Việt
Nam
Độc Lập Đồng Minh, gọi tắt là
Mặt Trận Việt Minh, lập ra "Chính Phủ
Cách Mạng Lâm Thời" của nuớc "Việt
Nam Dân Chủ Cộng Ḥa", do ông Hồ Chí Minh lănh
đạo. Nhờ khôn lanh mưu lược, Việt
Minh đă tranh thủ đuợc quyền điều
hành đất nuớc qua những biến cố sau
đây:
- Ngày 19-8-45, tại Hà
Nội, Việt Minh tổ chức biểu t́nh
truớc ṭa Khâm Sứ và "cuớp chính quyền"
truớc hàng chục ngàn dân Hà Nội.
- Ngày 22-8-45, tại
Thuận Hóa, Việt Minh hạ cờ Ly truớc toà hành
chánh của chính phủ Trần Trọng Kim, treo
cờ Đỏ Việt Minh.
- Ngày 24-8-45, tại Sài
G̣n, Việt Minh thuyết phục các tổ chức cách
mạng nhường cho Việt Minh quyền "tiếp
thu vũ khí của Nhật", và lập ra "Ủy
Ban Hành Chánh Nam Bộ Lâm Thời".
- Ngày 30-8-45, tại
Huế, truớc sự chứng kiến của hàng
chục ngàn nguời, Việt Minh nhận ấn tín
của hoàng đế Bảo Đại trong Lễ Thoái
Vị, hạ cờ Long Tinh xuống, treo cờ Đỏ
lên, chấm dứt chế độ quân chủ
Việt Nam.
- Ngày 2-9-45, tại
quảng truờng Ba Đ́nh Hà Nội, truớc sự
chứng kiến của hàng chục ngàn nguời, ông
Hồ Chí Minh đọc "Tuyên Ngôn Độc
Lập" của nuớc "Việt Nam Dân Chủ
Cộng Ḥa" và tŕnh diện thành phần "Chính
Phủ Cách Mạng Lâm Thời", gồm tất
cả thành viên là đảng viên Cộng Sản
Đông Dương hoặc tổ chức ngoại vi
của đảng. Riêng ông Hồ Chí Minh, truớc
đó không ai biết là nhân vật nào, cũng đă
lộ diện là Nguyễn Ái Quốc hay Lư Thụy,
đảng viên CS. T́nh trạng đất nuớc sau
ngày 2-9-45 có thể đuợc tóm luợc như sau:
- Ngày
5-9-45, tại Hà Nội, ông Hồ Chí Minh kư sắc
lệnh số 5 hủy bỏ cờ Ly và dùng cờ
Đỏ Việt Minh làm "Quốc kỳ", chính
thức cáo chung sự hiện hữu của Cờ
Quẻ Ly.
- Ngày
6-1-46, bầu cử Quốc Hội do chính phủ
Hồ Chí Minh tổ chức, kết quả là Việt
Minh chiếm đại đa số trong tổng số
356 dân biểu. Tiếp đó, Quốc Hội nhóm
họp khóa đầu tiên ngày 2-3-46 và công nhận
Cờ Đỏ làm Quốc Kỳ.
- Ngày
20-2-46, nhân dân Hà Nội biểu t́nh phản đối
kết quả bầu cử có nhiều bằng cớ
gian lận, đả đảo chính phủ Hồ Chí
Minh, yêu cầu cựu hoàng Bảo Đại ra
cầm quyền để kếp hợp toàn dân.
- Ngày
2-3-46, truớc áp lực của dân chúng và trước
nguy cơ bị Pháp tái đô hộ, Hồ Chí Minh
lập nội các mới, gọi là "Chính Phủ
Liên Hiệp Kháng Chiến" với một số nhân
vật thuộc các tổ chức "cách mạng
quốc gia" nhu Nguyễn Hải Thần, Huỳnh Thúc
Kháng, Nguyễn Tuờng Tam, v.v..., và mời cựu hoàng
Bảo Đại làm "Cố Vấn Tối Cao".
Được nửa năm th́ thế "liên
hiệp" tan vỡ với các cuộc đàn áp
Việt Nam Quốc Dân Đảng, bắt đầu công
khai kể từ ngày 12-7-1946.
- Trong
suốt năm 1946, quân đội Pháp càng ngày càng
chiếm ưu thế trên các cuộc đụng độ
với quân đội Việt Minh. Đến 20-12-46,
Pháp chiếm đuợc Bắc Bộ Phủ, Hồ
Chí Minh tuyên bố rút vào bưng kháng chiến.
Dần dần, Pháp chiếm đóng và kiểm soát các
thành phố, quận lỵ, và các làng xă đông dân;
c̣n Việt Minh th́ đồn trú tại các vùng quê,
rừng núi hẻo lánh. Như vậy, Cờ Đỏ
Việt Minh bị xem như tạm thời mất tư
thế "quốc kỳ" kể từ ngày 20-12-46
là ngày Pháp chiếm Bắc Bộ Phủ cho đến
ngày 20-7-1954 là ngày đất nuớc chia đôi và
Việt Minh trở lại cầm quyền trên miền
Bắc Việt Nam từ vĩ tuyến 17 trở lên.
Cờ
Mặt Trận Việt Minh (5/91945-20/12/1946)
* Nền đỏ, sao
vàng, cạnh sao hơi cong.
* 5-9-45: Hồ kư
sắc lệnh số 5 dùng cờ Việt Minh làm
Quốc Kỳ, thay thế cờ Quẻ Ly.
* 20-12-46: Việt Minh rút
vào bưng kháng chiến chống Pháp. Cờ Việt
Minh tạm mất tư thế Quốc Kỳ.
9. Cờ Vàng sọc Xanh
của Chính Phủ Lâm Thời "Nam Kỳ Cộng Ḥa
Quốc"
Riêng tại miền
Nam
, kể từ 9-10-45 sau khi giải giới Nhật, Anh
chính thức giao quyền cho Pháp quản nhiệm hành
chánh miền
Nam
vi tuyến 16. Kế đến Pháp trở cờ, tái
lập "Cộng Đồng Liên Bang Đông
Duong". Ngày 1-6-1946 nuớc "Cộng Ḥa Nam Kỳ"
ra đời, với nội các Bác Si Nguyễn Văn
Thinh. Lá cờ "Nam Kỳ Cộng Ḥa Quốc" có
nền vàng bao bên ngoài ba sọc xanh ở giữa, chen
giữa ba sọc xanh là hai sọc trắng. Ư nghia
của ba sọc xanh là ba phần Việt, Miên, Lào
trong liên bang Đông Duong sống ḥa b́nh thịnh
vuợng (màu xanh và trắng). Chế độ "Nam
Kỳ thuộc địa" tồn tại đuợc
2 năm th́ cáo chung với sự thành lập Quốc
Gia Việt Nam do cựu hoàng Bảo Đại làm
Quốc Truởng kể từ 2-6-1948.
Cờ Nam Kỳ Cộng Hoà Quốc
(1/06/46 – 2/06/48)
* 1-6-46: Nam Kỳ
Cộng Ḥa Quốc trong Liên Bang Đông Duong.
* Nền vàng, ba sọc
xanh, hai sọc trắng
* 2-6-48: Bảo Đại
lập Quốc Gia Việt
Nam
trong Liên Hiệp Pháp, thống nhất ba miền.
10. Cờ Vàng Ba Sọc
Đỏ của "Việt Nam Quốc"
và "Việt Nam Cộng Ḥa"
Tại Hà Nội, sau khi Việt Minh rút vào bung kháng
chiến chống Pháp, th́ nền hành chánh của
miền Bắc và Trung tạm thời roi vào tay
nguời Pháp. Kế đó, cựu hoàng Bảo Đại
đuợc các đảng phái cách mạng cung nhu
nguời Pháp mời ra điều khiển đất
nuớc với tu cách "Quốc Truởng". Ông
đ̣i hỏi Pháp phải công nhận cho Việt Nam
đuợc quyền độc lập và thống
nhất ba miền, rồi thành lập "Chính
Phủ Trung Uong Lâm Thời Việt Nam", cử
tuớng Nguyễn Văn Xuân làm Thủ Tuớng để
điều hành đất nuớc và thuong thảo
với Pháp. Tiếp theo, Hội Đồng Đại
Biểu Chính Phủ Nam Việt Nam của "Nam
Kỳ Cộng Hoà Quốc" gởi kiến nghị
tán thành chính phủ trung uong, chấp nhận sự
độc lập và thống nhất thật sự
của ba miền. V́ thế ngày 2 tháng 6, 1948, chính
phủ Nguyễn Văn Xuân công bố Quốc Kỳ và
Quốc Ca Việt Nam trong liên hiệp Pháp, áp dụng
cho cả ba miền Nam, Trung và Bắc Kỳ.
Cờ Vàng Quốc Gia VN (2/06/1948 - 20/07/54)
* 2-6-48: Chính Phủ Trung Ương dùng Cờ Vàng làm
quốc kỳ giống như Đại Nam Kỳ
thời 1890-1920.
* 20-7-54: Đất nước
chia đôi theo Hiệp Định Genève. Từ đó,
Cờ Vàng vẫn được dùng làm Quốc
Kỳ Việt Nam Cộng Hoà từ 20-7-54 đến
30-4-75.
Lá Quốc Kỳ mới cung có nền vàng
với ba sọc đỏ giống hệt như Đại
Nam Quốc Kỳ trong thời khoảng 1890-1920. Nhưng
đây là lần đầu tiên, Cờ Vàng đuợc
chính thức dùng cho "Quốc Gia Việt Nam",
một chế độ không c̣n thuộc Đế
Chế của Triều Nguyễn.
Bàn về xuất xứ của lá
Cờ Vàng của chế độ mới, cố GS
Nguyễn Ngọc Huy cho biết lá cờ này đă
"do một họa si nổi tiếng thời Đệ
Nhị Thế Chiến là Lê Văn Đệ vẽ và
đă đuợc Cựu Hoàng Bảo Đại
chọn trong nhiều mẫu cờ khác nhau được
tŕnh cho ông trong một phiên họp ở Hongkong năm
1948". Tuy nhiên, một số tài liệu khác cho
thấy không phải ngẫu nhiên mà Bảo Đại
chọn lá cờ ấy, cũng không phải chỉ v́
lá Cờ Vàng "đẹp và ư nghĩa". Nguyên
do chính là v́ họa sĩ họ Lê đă vẽ
lại một lá quốc kỳ từng hiện
hữu trên quê hương từ 50 năm về trước,
suốt trong thời kỳ hai vị vua ái quốc Thành
Thái và Duy Tân c̣n tại vị. Điều này đă
đuợc giải thích tường tận ở
mục "3- Quốc kỳ Nền Vàng Ba Sọc Đỏ
dưới hai triều đại Kháng Pháp 1890 -
1920"
Vào năm 1948, Bảo Đại không
muốn tái sử dụng Long Tinh Kỳ v́ đó là
Đế Kỳ của một đế chế mà ông
đă chấm dứt vào tháng 8 năm 1945. Một ông
vua tha thiết với nền độc lập và
sự toàn vẹn lănh thổ, đến nỗi
chịu thoái vị v́ quyền lợi tối thượng
của đất nuớc, hẳn dư biết
nguồn gốc của lá Cờ Vàng. Ngoài ra,
một vài chi tiết lịch sử quan trọng khác
cung đă góp phần vào việc chọn lựa
Cờ Vàng: Đó là cái chết oan ức tại Phi Châu
vào cuối năm 1945 của hoàng tử Vĩnh San,
tức là cựu hoàng Duy Tân, và sự hiện
diện tại Sài G̣n từ năm 1947 của cựu
hoàng Thành Thái, thân sinh của Duy Tân.
Cờ Vàng đă đuợc dùng làm
Quốc Kỳ lần đầu trong triều đại
của hai vị vua này. Cả hai đă là linh hồn
của cuộc kháng chiến chống Pháp dành độc
lập vào đầu thế kỷ 20, mà hậu
quả là cuộc xử tử các thủ lănh Quang
Phục Hội như anh hùng Thái Phiên, Trần Cao Vân
vào năm 1916, và án lưu đày Phi Châu của hai
vị vua ái quốc ấy. Năm 1942, hoàng tử Vĩnh
San gia nhập quân đội Pháp (cánh De Gaulle), đến
năm 1945 được thăng cấp Thiếu Tá
Tiểu Đoàn Trưởng.
Khi Thế Chiến thứ 2 kết thúc,
Tuớng De Gaulle về Pháp cầm quyền, dự
định cho ông về Việt Nam. Nhưng sau đó,
có nguời tố cáo cho De Gaulle biết Vĩnh San luôn
luôn ấp ủ chủ trương Việt Nam độc
lập và thống nhất Nam, Trung, Bắc. V́ vậy,
trong lần hội kiến với De Gaulle vào ngày
14-12-1945, ông bị khiển trách nặng nề và
bị tuớc mất cấp bậc. Ông đă tâm
sự với nguời bạn thân rằng ông lo
ngại sẽ bị hại. Ngày 24-12-45, ông bị
đưa về lại đảo Réunion. Hai hôm sau, ông
bị tử nạn máy bay tại Trung Phi.
Cái chết đầy nghi vấn của
cựu hoàng Duy Tân đă làm dư luận Việt
Nam
xúc động và thương tiếc vị vua ái
quốc. Năm 1947, cha ông là cựu hoàng Thành Thái lúc
bấy giờ đă 68 tuổi, đuợc Pháp cho
về Sài G̣n, với điều kiện là ông không
giữ bất cứ một trách nhiệm chính trị
nào cả. Dù vậy, sự hiện diện của
cựu hoàng Thành Thái cùng với cái chết của
cựu hoàng Duy Tân hiển nhiên đă gợi lên tinh
thần tôn kính hoài băo của hai vua. Chắc chắn
Bảo Đại có đến thăm bậc Thái
Thuợng Hoàng khả kính của ông, và hội ư trong
việc chọn Cờ Vàng làm Quốc Kỳ, nhưng
ông không thể tiết lộ ra, v́ sẽ phạm vào
điều kiện của De Gaulle khi cho cựu hoàng Thành
Thái về VN, là không được tham dự vào chính
trị phục quốc. Sự rao truyền rằng
Cờ Vàng do họa si Lê Văn Đệ vẽ ra mà
không nhắc đến sự hiện hữu của
Cờ Vàng 50 năm truớc, cũng có dụng ư.
Đó là v́ nhu cầu bảo vệ an nguy của
cựu hoàng Thành Thái. V́ thế, việc Quốc Trưởng
Bảo Đại lựa chọn Cờ Vàng của
thời chống Pháp làm Quốc Kỳ cho tân chế
độ là một quyết định sáng suốt và
hợp chính nghĩa.
V́ nguồn gốc kháng Pháp hào hùng
của Cờ Vàng, mà năm 1955, Thủ Tuớng Ngô
Đ́nh Diệm tổ chức "trung cầu dân ư",
lập ra chế độ Đệ Nhất Việt
Nam Cộng Hoà, quốc hội mới vẫn giữ
nguyên quốc kỳ của một chế độ
đă cáo chung. Cuộc đảo chánh năm 1963,
chấm dứt nền Đệ Nhất Cộng Ḥa,
lập nên Đệ Nghị Cộng Hoà, Cờ Vàng
vẫn đuợc giữ nguyên là Quốc Kỳ cho
đến khi miền Nam bị miền Bắc thôn tính.
11. Cờ Đỏ Sao Vàng của "VN Dân Chủ
Cộng Ḥa" và "Cộng Hoà Xă Hội Chủ
Nghia VN"
Năm 1954, Hiệp Định Genève
đuợc kư kết, đua đến việc chia hai
lănh thổ, từ vi tuyến 17 (ranh giới Quảng
Trị và Quảng B́nh) trở ra Bắc thuộc
quyền kiểm soát của Việt Minh. Việt Minh, lúc
bấy giờ đă hoàn toàn lộ diện là đảng
Cộng Sản Việt Nam, trở lại Hà Nội và
tái lập chế độ Việt Nam Dân Chủ
Cộng Hoà. Lá cờ đuợc dùng làm "quốc
kỳ" của miền Bắc vẫn là cờ
nền đỏ sao vàng, gọi là Hồng Kỳ -
Cờ Đỏ. Tuy nhiên, các cạnh của ngôi sao không
c̣n là ṿng tṛn như cờ của Việt Minh nữa
mà là đuờng thẳng.
Cờ Đỏ Sao Vàng của VNDCCH
và CHXHCNVN 20 Jul, 1954 - hiện nay
* Tương tự
cờ Việt Minh, nhưng cạnh ngôi sao vẽ
thẳng để giống Liên Sô và Trung Cộng
* Nguyên là cờ đảng
Cộng Sản Đông Dương,
xuất hiện lần đầu ngày 23-11-1940 trong
cuộc "khởi nghĩa" tại Nam Kỳ.
* Tháng 7 năm 1976,
thống nhất đất nước, vẫn dùng
Cờ Đỏ.
Theo các websites của đảng CSVN, đặc
biệt là:
http://www.sfc.keio.ac.jp/apd/minh/flag_emblem_anthem.html,
th́ lá cờ Đỏ do ông Nguyễn Hữu Tiến
vẽ ra và đă từng xuất hiện lần đầu
vào ngày 23 tháng 11 năm 1940 tại miền Nam.
Cuốn Việt Nam Niên Biểu 1939-1975
của Chính Đạo cũng ghi "lần đầu
tiên CS dùng Cờ Đỏ Sao Vàng làm kỳ hiệu"
trong cuộc "tổng khởi nghĩa" ngày 23-11,
kéo dài cho đến đầu tháng 12 năm 1940.
Cuộc "tổng khởi nghia" đă được
đảng Cộng Sản Đông Dương phát
lệnh tại Sài G̣n, Gia Định (23/11) và một
số tỉnh miền Nam như Cần Thơ, Chợ
Lớn, Sóc Trăng (24/11), Mỹ Tho, Vĩnh Long, Tân An
(27/11), Long Xuyên, Kiến An (30/11). Cuộc khởi nghĩa
của Cộng Sản bị Pháp dẹp tan, với hàng
ngàn người bị bắt cầm tù và 106 lănh
tụ CS bị xử tử h́nh. Biến cố này cho
thấy Cờ Đỏ nguyên là cờ của đảng
CSĐD truớc khi đuợc sửa đổi và dùng
làm cờ của Việt Minh.
12. Cờ Mặt Trận
GPMN
Cờ Mặt Trận GPMN (
Nam
VN)30 Apr 1975 - 2 Jul, 1976
* Tương tự cờ Bắc Việt, nhưng
một nửa nền dưới thành màu xanh.
* Bị khai tử năm
1976 khi hai miền thống nhất
Ngày 30-4-1975, CSVN chiếm đuợc
miền
Nam
. Vài tháng đầu, để trấn an "Mặt
Trận Giải Phóng Miền Nam", CSVN lập ra
"Chính Phủ Lâm Thời" của chế độ
"Cộng Ḥa Miền Nam Việt Nam", có "quốc
kỳ" riêng là nền đỏ nửa trên,
nền xanh nửa duới, chính giữa có ngôi sao vàng,
tuong tự như cờ của Bắc Việt. Sang năm
1976, ngày 2 tháng 7, th́ đảng CSVN thống nhất
hai miền thành "Cộng Ḥa Xă Hội Chủ Nghia
Việt Nam", khai tử Cờ MTGP Miền Nam, và dùng
Cờ Đỏ (Sao Vàng) làm Quốc Kỳ trên toàn
quốc cho đến nay.
Điểm đáng ghi nhận là Cờ
Đỏ của CHXHCNVN hầu như rập theo khuôn
mẫu các "hồng kỳ" của Liên Sô và
Trung Cộng, nghĩa là cũng cùng nền đỏ,
cũng có sao vàng. Cờ Liên Sô nền đỏ, trên
đầu góc trái có h́nh búa liềm và một nôi sao
viền vàng. Cờ Trung Cộng cũng một nền
đỏ, trên đầu góc trái có một ngôi sao vàng
lớn và 4 ngôi sao vàng nhỏ h́nh cánh cung phía bên
mặt. Ngôi sao lớn tuợng trưng cho Trung Hoa
Lục Địa, bốn ngôi sao nhỏ là bốn chu
hầu: Triều Tiên, Việt
Nam
, Lào và Miên (không kể Đài Loan và Tây Tạng,
được xem là lănh thổ của Hoa Lục). C̣n
cờ đảng CSVN có nền đỏ và h́nh búa
liềm vàng, tương tự như cờ
Soviet Union
. Như vậy, khác hẵn với ư nghia độc
lập thống nhất của Cờ Vàng, Cờ Đỏ
mang ư nghĩa "Việt
Nam
là một trong những chư hầu trong khối
cộng sản".
13. Cờ Vàng của
"Cộng Đồng Việt Nam Hải Ngoại"
Kể từ ngày 30-4-1975 đến nay, hàng
triệu nguời Việt không muốn sống duới
chế độ CHXHCNVN, đă t́m mọi cách thoát ra
khỏi nuớc. Suốt gần ba thập niên qua,
tại khắp noi trên các nuớc tự do, Cờ Vàng
luôn luôn đuợc dùng làm biểu tuợng của dân
tộc VN trong mọi cuộc lễ nghi, hội họp.
Từ dịp vui mừng ngày hội tết, cho đến
dịp kỷ niệm ngày 30-4, Cờ Vàng luôn luôn
đuợc kéo lên, không phân biệt ban tổ chức
thuộc đảng phái chính trị hay hội đoàn
xă hội nào.

Cờ
Vàng của Cộng Đồng Việt
Nam
hải ngoại từ năm 1975 đến nay tương
tự Cờ Vàng của:
* Thời Cần Vương
kháng pháp 1890-1920
* Thời Quốc Gia
Việt
Nam
1948-1955
* Thời Đệ
Nhất Cộng Ḥa 1955-1963
* Thời Đệ
Nhị Cộng Ḥa 1963-1975
_________________________________________
|