|
Toàn
Phong Nguyễn Xuân Vinh
(Trích trong Đời Phi Công)
...
Anh tin rằng, cũng như các anh,
em sẽ làm bổn phận với một nụ cười.
Nha Trang ngày___tháng___năm____,
Em Phượng,
Đă đành rằng ở đây cảnh đẹp,
dân t́nh ở đây hiền hậu nhưng anh cũng
không đến nỗi như em nghĩ, sung sướng
quá rồi quên cả gian khổ vừa qua. Nhân
tiện em nói về dự tính theo học Y Khoa, anh viết
về đời Chiếc Máy Bay CỨU THƯƠNG cho em nghe.
Khi anh viết cho em những gịng này, ngoài sân
những chiếc máy bay đó đang nằm dài
hiền lành phơi ḿnh trong nắng hè. Nếu có ai
lại gần, đi ṿng một lượt sẽ c̣n
thấy đây một vết vá, kia một mũi hàn
in dấu những viên đạn chẳng biết vô t́nh
hay hữu ư. Anh không hiểu những con người
đă nỡ tâm chĩa mũi súng lên những phi cơ
đó họ nghĩ ǵ trong ḷng nhưng có một điều
làm anh đau xót, thấy ḷng tê lại là mỗi
lần đi ngang qua sân nh́n chiếc phi cơ số
48C,
anh c̣n thấy một vết đạn nằm đúng
chỗ tâm dấu Hồng Thập Tự. Miếng vá làm
chỗ đó dày cộm lên như một trái tim
nứt rạn.
Vết sơn mới phủ đè lên loang ra
như một vũng máu đào. Nếu những lúc
họ ấn tay lên c̣ súng họ nghĩ rằng ngay
sau dấu Hồng Thập Tự
đó, trong thân tàu có
một chiếc băng-ca trên có một con người
nằm rên siết, nếu họ nghĩ rằng người
phi công lái máy bay đang cắn chặt răng để
cho t́nh cảm khỏi ứa trào, để cố tâm
không nghĩ tới những tiếng kêu như xé
ruột văng vẳng bên tai của con người
đang nằm sau; nếu họ nghĩ như thế
th́ có lẽ họ đă như chúng ta, như anh và
em, họ giờ đây đă sống ở trên
mảnh đất tự do này.
Anh trở lại chiếc phi cơ cứu thương
hay trở lại người phi công điều
khiển chiếc phi cơ ấy cũng thế v́ người
và máy bay giờ đây chỉ là một khi cả hai
cùng chung một hoàn cảnh, phải hy sinh để
phụng sự và làm tṛn một sứ mệnh thiêng
liêng.
Nhận được tin cấp báo phải
tới một miền hẻo lánh để tải thương
một thương binh trầm trọng, người phi công
dù bận công việc ǵ cũng phải hấp
tấp ra sân. Chiếc
Phi Cơ Hồng Thập Tự
đă nằm trung thành chờ sẵn. Cánh quạt
vừa quay, máy chưa kịp nóng chiếc phi cơ
đă quay mũi. Cất cánh khi máy chưa kịp nóng
là cả một sự liều lĩnh nhưng người
phi công cứu thương có bao giờ nghĩ đến
việc ấy.
Họ chỉ biết chậm một phút
là hy vọng cứu sống một người
lại giảm đi một chút. Ngồi trong máy bay, lướt
dưới những đám mây u ám họ như nh́n
thấy vết thương của người
chiến binh, máu chảy rỉ rỉ. Mực xăng
trước mắt cũng thấy hạ dần
dần như muốn hối thúc con người
cố gắng thêm để tranh thủ với
thời gian.
Như một định mệnh éo le
mỗi lần có thương binh cấp cứu là
lần ấy bầu trời u ám. Có lẽ v́ địch
hay tấn công đồn những đêm mưa gió
nặng nề. Nhưng dù sao th́ mỗi lần Chiếc
Phi Cơ Hồng Thập Tự cất cánh th́
người phi công cũng cảm thấy bầu
trời trở nên sầu thảm.
Ở xa xa đă thấy hiện ra mái đồn
dựng lên một khoảng đất trống chung
quanh núi rừng bao phủ. Mấy bóng người
đứng dưới giơ tay vẫy vẫy như
sợ nguồn hy vọng mong manh bay đi mất. Người
phi công lắc cánh vẫy lại và lượn ṿng t́m
chỗ xuống. Một thửa ruộng con con bên
cạnh đồn đă được sửa sang
để làm sân đáp xuống. Có những ai đă
từng ngồi trong ghế lái, đă biết ít
nhiều về hàng không mới có thể thông
cảm nổi những ư nghĩ của người
phi công khi nh́n từ trên cao xuống thấy sân bé tí
teo không to hơn bàn tay. Một đầu sân là
rừng, đầu sân kia là một hàng cây đứng
thẳng.
Chiều dài sân có lẽ chỉ độ
hai trăm thước. Mặt đất lồi lơm c̣n
phủ đầy những vũng nước mưa
của đêm qua.
Người phi công chặc lưởi v́ dù
sao th́ cũng phải xuống. Mạng người là
trọng. Mấy người đứng bên chiếc băng-ca
để ở góc sân nh́n theo chiếc máy bay đang
lượn dần dần xuống thấp ở trên
trời.
Chắc chắn họ không hiểu được
rằng trong khoảnh khắc vừa qua người
phi công đă có đôi chút lưỡng lự.
Chiếc phi cơ ấy giờ đây đă bay sát
ngọn cây nhắm thẳng miếng đất bé
nhỏ để lao xuống. Người phi công nh́n
thẳng trước mặt, răng cắn chặt,
mấy thớ thịt ở hàm nổi lên. Bay thấp
quá sợ đụng cây, bay cao quá chắc chắn
sẽ lỡ trớn và phi cơ sẽ lao vào hàng cây
ở cuối thửa ruộng. Vậy th́ chỉ c̣n cách
bay thấp, thật thấp... Chiếc máy bay vừa lướt
khỏi hàng cây cuối cùng, người phi công cúp ga
thật mạnh để chiếc phi cơ rơi
nặng nề lên ba chiếc bánh. Người vừa
bị nẩy lên v́ cái giáng th́nh ĺnh, phi công đă
phải kéo cần lái vào bụng để hai chân hăm
phanh thật chặt. Chiếc máy bay rung lên, thân
rần rật, dưới những cú phanh liên
tiếp. Nó muốn kêu lên với người phi công
rằng "anh ơi, em mệt lắm rồi" nhưng
v́ thấy sứ mạng chưa tṛn hay v́ thấy chính
người phi công cũng như muốn gục
xuống sau những phút trí năo bị căng thẳng
vừa qua nên nó cũng thôi.
Chiếc phi cơ lăn lại chỗ người
đứng, bánh bê bết những bùn. Cửa mở,
mấy người hớn hở chạy lại.
Họ ṭ ṃ ngắm con người ngồi trên
ghế lái đang tủm tỉm cười đưa
tay gạt mấy giọt mồ hôi, tuy trời không nóng
lắm. Hai người khác khiêng chiếc băng-ca
lại. Gió cánh quạt làm người thương
binh mở choàng mắt. Tiếng động cơ át
cả tiếng bàn căi. Người phi công ra hiệu
không thể bước xuống giúp được v́
chân phải giữ phanh. Thương binh đưa cặp
mắt lên để nh́n, cặp môi khô héo khẽ
nhếch một nụ cười hy vọng.
Thế rồi chiếc cửa đóng lại, pḥng lái
cách biệt với thế giới bên ngoài. Mấy người
đứng dưới đất bùi ngùi nh́n theo
bạn nửa mừng tủi, nửa buồn lo. Ra
đi là sẽ tới một nơi giải thoát,
tới một khoảng đất yên lành hơn.
Rồi đây trong bọn người ở lại ai
sẽ có lần nằm đợi chiếc phi cơ
tới đón? Bánh xe vừa mới bắt đầu
quay th́ có tiếng gọi và một người
hớt hải chạy lại. Thiếu uư đồn trưởng
miệng thở hồng hộc tay cầm một gói thư.
Mọi người đều à lên một tiếng
reo mừng.
Tí nữa th́ quên mất! Đă ba tháng nay
đồn chỉ được tiếp tế
bằng máy bay ném lương thực xuống. Binh sĩ
nhận được thư gia đ́nh nhưng không
thể gửi trả lời được. Thư tín
đọng lại cả chồng.
- Nhờ Trung uư mang giúp về hộ.
Người phi công tủm tỉm cười.
Đám người xung quanh cũng cười theo. Thiếu
uư đồn trưởng có tật gọi tất
cả phi công là Trung úy. Sự thật phần lớn
họ chỉ là những Chuẩn uư.
Một lần nữa cánh cửa khép lại
và chiếc máy bay chậm chạp ḅ ra cuối sân. Người
thương binh bắt đầu rên se sẽ mỗi
khi bánh xe vấp phải một viên gạch.
Động tác trước khi cất cánh:
hạ tầm xuống 15 độ. Vặn b́nh xăng,
đẩy cần hoà khí, rú máy. Người phi công nh́n thẳng ṿm cây trước
mặt cách độ 200 thước, chân đạp
mạnh lên phanh, tay trái kéo cần "lên-xuống" từ
từ lên và tăng ṿng quay RPM vào mức xanh tối đa để cát cánh,
tay phải đưa cần lái về phía trước và xả hết ga. Cánh chiếc máy bay rung lên như
muốn nói "Từ từ chứ anh, em mệt
lắm rồi." Người phi công cũng thấy
toát mồ hôi. Chả hiểu có lết lên khỏi không
khí v́ phi cơ chở nặng, bánh sa lầy!
Một lần nữa phi công liếc mắt
nh́n quanh pḥng lái một lượt để kiểm
soát phi cụ. Hai chân nhả phanh, giữ cho phi cơ
chạy thẳng. Được vài chục thước
chiếc máy bay đă thấy lồng lên rồi th́nh
ĺnh người thấy nhẹ bổng và phi cơ
rời mặt đất. Người phi công cho phi cơ
bay rất thấp để lấy tốc độ.
Chiếc máy bay nhắm hàng cây lao thẳng. Gần
đến nơi anh kéo cần lái để phi cơ
vọt lên, đuôi như lết trên mấy cành lá.
Người thương binh đằng sau lại rên
rỉ.
Giờ đây nguy hiểm như đă
tạm hết. Chỉ có vài tràng liên thanh ở đâu
đó bắn vu vơ trong không gian làm mắt người
thanh niên sáng lên, môi mím lại. Chiếc máy bay vè vè
lướt gió trong bầu trời dần tối. Trong
thân nó chứa một người máu đào đă
chảy để trả nợ non sông, thêm vào đấy
mang một sứ mệnh đem lại cho những gia
đ́nh đang ngơ ngác ngóng tin những người
ra đi những nguồn hân hoan vô tận. Trong
chồng thư chắc chắn có những lời ngây
ngô chân thật: "Bu nó nên để ư săn sóc
mấy luống hành" hay những câu văn vẻ
của một quân nhân trẻ tuổi gửi người
yêu: "Anh ở chốn này, nơi đèo heo hút gió;
mỗi khi nh́n về đám mây trắng ở chân
trời, anh không khỏi nghĩ đến em..." nhưng
tất cả đều bộc lộ một tấm
chân t́nh của người chinh phu đối với
gia đ́nh.
Ánh đèn đô thị đă thấy
bật sáng. Chênh chếch về phía tay phải là phi
trường, người phi công lượn ṿng
cuối cùng. Bánh xe êm ái chạm đất khi tia
nắng cuối cùng vừa tắt. Chiếc xe hồng
thập tự đợi sẵn rồ máy. Đằng
sau người thương binh thiêm thiếp. Trong cơn
mê không biết anh có biết được rằng
anh vừa được trở lại với
cuộc đời. Ngày mai trời sẽ lại sáng
đẹp.
Câu chuyện tải thương đến
đây được chấm hết em Phượng
nhỉ. Rồi đây có lẽ em sẽ là một
trong những người tiếp nhận thương
binh đưa bằng máy bay từ mặt trận
về, để săn sóc băng bó cho họ. Anh tin
rằng, cũng như các anh, em sẽ làm bổn
phận với một nụ cười.
|