


Ngày 19 tháng 4 năm 2009
|
ĐỜI
SỐNG CON NGƯỜI VÀ CỦA ĂN NUÔI SỐNG LỜI MỞ ĐẦU
Thiên Chúa yêu thương loài người, Ngài
đă dựng nên loài người là
“một hữu thể, vừa
thể xác vừa tinh thần.” Thiên Chúa cũng đă tạo ra của ăn vật chất
để nuôi đời sống thể xác loài người
và của
ăn tinh thần để bồi dưỡng
đời sống thiêng liêng của loài người.
Nhờ của
ăn vật chất, loài người sẽ sống
trên trần gian trong khoảng 100 năm. Nhờ của
ăn tinh thần, loài người sẽ sống
một đời sống mới, hưởng tới
sự sống trường sinh trong Nước
Trời. Trong tinh thần t́m hiểu và chia sẻ, tôi dựa vào Thánh Kinh và Giáo Lư của Hội Thánh Công Giáo để tŕnh bày về : Đời sống con người và của ăn nuôi sống. Tôi ước mong qua bài này, nhiều người sẽ nhận ra phẩm gía cao quư của ḿnh, đồng thời quư trọng và thường xuyên đón nhận của ăn tinh thần để được sống an vui, hạnh phúc ở đời này và được vào Nước Trời hưởng hạnh phúc trường sinh. PHẦN MỘT ĐỜI
SỐNG CON NGƯỜI Chương
Một THIÊN CHÚA DỰNG NÊN LOÀI NGƯỜI GIỐNG H̀NH ẢNH THIÊN CHÚA I. Thiên Chúa dựng
nên loài người giống h́nh ảnh của Ngài.
Ngài dựng nên người nam và người nữ.
Sau khi sáng tạo vũ
trụ và muôn vật, Thiên Chúa đă dựng nên loài
người giống h́nh ảnh của Ngài. A-
Thánh Kinh đă ghi: B-
Hội Thánh đă giải thích như sau: 1) Con người có nhiều khả năng:
hiểu biết và yêu mến Thiên Chúa; tự biết
chính ḿnh và hưởng hạnh phúc vĩnh cửu. “V́ con người được dựng nên theo h́nh
ảnh của Thiên Chúa, nên có phẩm giá là
một nhân vị. Không phải là một sự
vật mà là một con người. Con
người có khả năng tự biết ḿnh,
tự làm chủ chính ḿnh và tự do tự hiến và
thông hiệp với những người khác. Do ân
sủng, mọi nguời được mời để
giao ước với Đấng Sáng Tạo, dâng lên
Người một lời đáp trả tin yêu mà không
ai có thể thay thế được.” (GLCG số
357)
“Thiên Chúa đă sáng
tạo mọi sự cho con người (GS 12,1; 24,3;
39,1); c̣n con người được sáng tạo
để phụng sự, yêu mến Thiên Chúa và dâng
lên Người tất cả thụ tạo.”
(GLCG số 358)
2) Người nam và
người nữ có cùng một phẩm giá, b́nh
đẳng và sống cho nhau.
“Người nam và người nữ
được sáng tạo, nghĩa là họ hiện
hữu do ư muốn của Thiên Chúa : một mặt họ
hoàn toàn b́nh đẳng với tư cách là
những nhân vị; mặt khác, họ là nam và là
nữ theo cách hiện hữu riêng. "Là nam",
"là nữ" đều là thực tại tốt
lành do ư muốn của Thiên Chúa : người nam và
người nữ có một phẩm giá không thể
mất được, do Thiên Chúa, Đấng Sáng
Tạo trực tiếp ban cho (St 2,7.22). Người
nam và người nữ có cùng một phẩm giá
"là h́nh ảnh của Thiên Chúa". "Là người
nam" hay "là người nữ", họ đều
phản ánh sự khôn ngoan và sự tốt lành nhân
hậu của Đấng Sáng Tạo.” (GLCG số 369) «Khi
tạo dựng con người "có nam có nữ",
Thiên Chúa muốn họ
sống cho nhau. Chúng ta biết điều này qua
một số câu Sách Thánh : "Người nam ở
một ḿnh th́ không tốt. Ta sẽ làm cho nó một
trợ tá tương xứng với nó" (St 2,18). Không
một con vật nào có thể tương xứng
với con người. (St 2,19-20). (GLCG số 371)
II. Thiên Chúa dựng nên loài người có hai đời
sống: Đời sống tự nhiên và đời
sống siêu nhiên.
Thiên Chúa đă dựng nên loài người
có xác, có hồn; nghĩa là loài người có hai
đời sống : đời sống tự nhiên và
đời sống siêu nhiên. Đời sống tự
nhiên là đời sống của thân xác; đời
sống siêu nhiên là đời sống của linh
hồn và tinh thần.
A-Thánh Kinh đă ghi : -
“Đức Chúa là Thiên Chúa lấy bụi từ
đất nặn ra con người, thổi
sinh khí vào lỗ mũi, và con người trở nên
một sinh vật. Rồi Đức Chúa là Thiên Chúa
trồng một vườn cây ở Ê-đen, về
phía Đông, và đặt vào đó con người do
chính ḿnh nặn ra.” (St 2,7-8) Nhưng
nhiều người lại chỉ chú trọng đời
sống tự nhiên mà không chú trọng đời
sống siêu nhiên, nên đă có những hành động
sai trái, v́ thế sách Khôn Ngoan đă nhắc nhở
người thợ gốm: -
“Chỉ v́ anh không biết Đấng đă nặn
ra ḿnh, Đấng
thổi vào anh một linh hồn hoạt động,
phú cho anh một làn sinh khí.” (Kn 15,11)
B- Hội Thánh diễn giải như
sau : 1) Con người
là một hữu thể, vừa thể xác vừa tinh
thần. -
“Được tạo
dựng theo h́nh ảnh Thiên Chúa, con người là
một hữu thể, vừa
thể xác vừa tinh thần. Tŕnh thuật Thánh
Kinh diễn tả thực tại đó với một
ngôn ngữ biểu tượng khi khẳng định
rằng "Thiên Chúa lấy đất sét nặn ra
con người, thổi sinh khí vào lỗ mũi, và con
người trở nên một sinh vật" (St 2,7). Con
người toàn diện được dựng nên do
ư muốn của Thiên Chúa.” (GLCG 362) 2) Thiên Chúa
trực tiếp tạo dựng linh hồn bất
tử. -
“Hội Thánh dạy
rằng : mỗi linh hồn thiêng liêng được Thiên
Chúa trực tiếp tạo dựng, chứ không
phải do cha mẹ "sản sinh": Hội Thánh
cũng dạy rằng: linh hồn bất tử, không
hư mất khi ĺa khỏi xác trong giờ chết, và
sẽ tái hợp trở lại với thân xác trong ngày
phục sinh cánh chung.” (GLCG 366) 3) Linh hồn là
sự sống, là nguyên lư thuần linh nơi con người.
- “Thánh Kinh thường dùng thuật ngữ linh
hồn để chỉ sự sống con người
(Mt 16,25-26; Ga 15,13) hoặc toàn diện con người (Cv
2,41). Nhưng cũng dùng để chỉ cái thâm sâu
nhất (Mt 26-38), giá trị nhất nơi con người
(Mt 10,28; 2 Mca 6,30), nhờ đó con người là h́nh
ảnh Thiên Chúa cách đặc biệt: "linh
hồn" là nguyên lư thuần linh nơi con người.”
(GLCG 363) 4) Con người
toàn diện trở nên đền thờ Chúa Thánh
Thần. “Thân
xác cũng được dự phần vào phẩm giá
của con người là "h́nh ảnh của Thiên
Chúa": nó là thân xác con người chính v́
được linh hồn thiêng liêng làm cho sinh động.
Và chính con người toàn diện được đặt định
trở nên đền thờ Chúa Thánh Thần, trong Thân
Thể Chúa Ki-tô.” (1Cr 6,19-20; 15, 44 - 45). (GLCG 364)
5) Xác và hồn là một thực thể duy nhất. -
“Tuy gồm xác và hồn,
nhưng là một thực
thể duy nhất, con người, nhờ có
thể xác, qui tụ nơi ḿnh những yếu tố
thuộc thế giới vật chất. Nơi con người,
các yếu tố ấy đạt tới tuyệt
đỉnh của chúng và có thể tự do dâng
lời ca tụng Đấng Tạo Hóa. Vậy con người
không được khinh miệt đời sống
thể xác, nhưng trái lại, con
người phải coi thân xác ḿnh là tốt đẹp
và đáng
tôn trọng v́ thân xác ấy do Thiên Chúa tạo dựng và
phải được sống lại ngày sau hết.“
(GS 14,1). (GLCG 364) -
“Sự thống nhất xác
hồn thâm sâu đến độ ta phải coi linh
hồn như là "mô thể" của thân xác; nghĩa
là, nhờ linh hồn thiêng
liêng mà thân xác được cấu tạo từ
vật chất, thành một thân xác của con người
sống động. Trong con người, tinh
thần và vật chất không phải là hai bản tính
được nối kết lại, nhưng sự
kết hợp của chúng tạo thành một bản
tính duy nhất.” (GLCG 365)
III. Thiên Chúa đă cho loài người sống thân t́nh
với Ngài, được cộng tác vào chương
tŕnh sáng tạo và quan pḥng của Thiên Chúa.
Thiên
Chúa yêu thương loài người, Ngài đă cho loài người sống thân t́nh
với Ngài và cộng tác vào chương tŕnh sáng
tạo để nối tiếp nhân loại và làm
chủ muôn vật do Thiên Chúa tạo thành.
A- Thánh Kinh đă ghi: -
“Thiên Chúa ban phúc lành cho họ (Ađam và Eva), và Thiên
Chúa phán với họ: "Hăy sinh sôi nảy nở
thật nhiều, cho đầy mặt đất, và
thống trị mặt đất. Hăy làm bá chủ cá
biển, chim trời, và mọi giống vật ḅ trên
mặt đất." (St 1,28)
B- Hội thánh giải thích như sau: 1) Thiên Chúa cho loài
người sống thân t́nh với Ngài và tham dự
vào sự sống của Ngài.
-
“Con người đầu tiên không
phải chỉ được sáng tạo tốt lành
mà thôi, nhưng c̣n
được đặt trong t́nh thân với Đấng
Tạo Hóa, hài ḥa với chính ḿnh và với
vạn vật xung quanh. T́nh thân và sự hài ḥa này
chỉ thua kém vinh quang của sáng tạo mới trong
Đức Ki-tô.” (GLCG số 374)
- “Khi dùng quyền giải thích một cách chân
chính ngôn ngữ biểu tượng của Thánh Kinh dưới
ánh sáng Tân Ước và Truyền Thống Hội Thánh,
Hội Thánh dạy rằng: Nguyên tổ A-đam và E-và
đă được sáng tạo trong một t́nh
trạng "thánh thiện và công chính nguyên thủy"
(Cđ Tren-te: DS 1511). Sự
thánh thiện nguyên thủy ấy là "ơn
được tham dự vào sự sống của Thiên
Chúa" (LG 2). (GLCG
số 375) 2) Thiên Chúa cho loài
người làm chủ trái đất, làm chủ
bản thân và tham dự vào sự quan pḥng của Thiên
Chúa.
- “Theo
ư định của Thiên Chúa, người nam và người
nữ được đặt "làm
chủ" trái đất (St 1,28) như những
"người quản lư" của Thiên Chúa.
Quyền làm chủ này không được trở thành
một sự thống trị độc đoán và phá
hoại. V́ là h́nh ảnh của Đấng Sáng
Tạo, "Đấng yêu thương tất cả
những ǵ hiện hữu" (Kn 11,24), người
nam và người nữ được gọi tham dự vào sự quan pḥng của
Thiên Chúa đối với các thụ tạo khác.
Do đó, họ có trách nhiệm với thế
giới mà Thiên Chúa giao phó cho họ.” (GLCG số 373) - “Quyền làm chủ trái đất mà Thiên Chúa đă ban cho con người ngay từ thuở ban đầu, được thực hiện trước tiên nơi con người, là việc làm chủ chính bản thân ḿnh. Con người c̣n nguyên tuyền và hài ḥa trong chính bản thân, v́ c̣n tự do đối với ba thứ dục tính thường làm con người nô lệ các lạc thú của giác quan, sự ham mê của cải thế gian và đề cao "cái tôi" bất chấp những đ̣i hỏi của lư trí.” (GLCG số 377)
IV. Thiên Chúa cho loài người không phải đau
khổ và không phải chết. Thiên
Chúa là T́nh Yêu, Ngài đă dựng nên loài người
rất tốt đẹp, “được
ơn tham dự vào sự sống của Thiên Chúa"
(HC LG 2). Ngài cho loài người không phải đau
khổ và không phải chết.
Hội Thánh tŕnh bày như sau :
- “Mọi chiều kích của đời
sống con người được củng cố
nhờ sự chiếu tỏa ân sủng này.
Bao lâu c̣n sống mật thiết với Thiên Chúa, con
người sẽ không
phải chết (St 2,17; 3,19), cũng
không phải đau khổ (St 3,16). Sự hài ḥa
nội tâm nơi mỗi con người, sự hài ḥa
giữa người nam và người nữ (St 2,25),
sau hết sự hài ḥa giữa đôi vợ chồng
đầu tiên với toàn thể vạn vật,
tạo nên t́nh trạng được gọi là "sự
công chính nguyên thủy." (GLCG số 376) -
“Dấu hiệu của
sự thân thiện với Thiên Chúa là việc đặt
con người trong vườn địa đàng (St
2,8). Con người sống ở đó "để
canh tác và canh giữ đất đai" (St 2,15). Lao
động không phải là một h́nh khổ (St
3,17-19), nhưng là sự
cộng tác của người nam và người
nữ với Thiên Chúa trong việc kiện toàn
vạn vật hữu h́nh.” (GLCG số 378)
- “Đó là tất cả sự hài ḥa của t́nh
trạng công chính nguyên thủy mà ư định
của Thiên Chúa đă dành sẵn cho con người.
Sự hài ḥa này sẽ mất đi v́ tội của
nguyên tổ chúng ta.” (GLCG số 379) Tóm
lại, Thiên Chúa đă dựng nên loài người giống
h́nh ảnh Thiên Chúa, là một hữu thể vừa
thân xác, vừa linh hồn rất tốt đẹp.
Thiên Chúa cũng đă ban cho loài người nhiều
ơn huệ: Được sống thân t́nh với
Thiên Chúa, không phải đau khổ và không phải
chết. Ngài cho loài người làm chủ bản thân
và trái đất. Người
nam và người nữ được cộng tác
với Thiên Chúa trong việc kiện toàn vạn
vật hữu h́nh. Chương Hai LOÀI NGƯỜI SA NGĂ I. Nguyên tổ và tội
nguyên tổ.
Đọc Thánh Kinh, chúng ta nhận
thấy: Vạn vật và loài người trong vũ
trụ được Thiên Chúa dựng nên rất tốt đẹp, nhưng chưa hoàn hảo;
nghĩa là muôn vật trong vũ trụ đều
trong t́nh trạng đang
tiến tới hoàn hảo. V́ thế, khi quỷ
dối trá cám dỗ, th́ nguyên tổ là Ađam và Evà
đă sa ngă. A- Thánh Kinh đă ghi: - “Nó
(là con rắn, là Satan) nói với người đàn
bà: "Có thật Thiên Chúa bảo: "Các ngươi
không được ăn hết mọi trái cây trong vườn
không ?" Người
đàn bà nói với con rắn: "Trái
các cây trong vườn, th́ chúng tôi được
ăn. C̣n trái trên cây ở giữa vườn, Thiên
Chúa đă bảo: Các ngươi không được
ăn, không được động tới, kẻo
phải chết." Rắn
nói với người đàn bà: "Chẳng
chết chóc ǵ đâu! Nhưng Thiên Chúa biết ngày nào
ông bà ăn trái cây đó, mắt ông bà sẽ mở
ra, và ông bà sẽ nên như những vị thần
biết điều thiện điều ác." Người
đàn bà thấy trái cây đó ăn th́ ngon, trông th́
đẹp mắt, và đáng quư v́ làm cho ḿnh
được tinh khôn. Bà
liền hái trái cây mà ăn, rồi đưa cho
cả chồng đang ở đó với ḿnh; ông cũng
ăn. Bấy giờ mắt hai người mở
ra, và họ thấy ḿnh trần truồng: họ
mới kết lá và làm khố che thân.”
(St 3,1-7) B- Hội Thánh giải thích như
sau: 1) Nguyên tổ đă cố t́nh
phạm tội, bất tuân mệnh lệnh của Thiên Chúa -
“Tŕnh thuật về
sự sa ngă (St 3) sử dụng một ngôn ngữ tượng
h́nh, nhưng xác định một biến cố hàng
đầu xảy ra vào thời khởi nguyên lịch
sử nhân loại (GS l3,l). Mạc khải giúp chúng ta
xác tín rằng tất cả lịch sử nhân
loại đều mang dấu tích nguyên tội mà nguyên tổ đă cố t́nh phạm.” (GLCG
số 390) -
“Con người bị ma
quỷ cám dỗ, đă đánh mất ḷng tín thác vào
Đấng Sáng Tạo, và khi lạm dụng sự
tự do, con người đă bất
tuân mệnh lệnh của Thiên Chúa. Đó là
tội đầu tiên của con người (Rm 5,l9).
Từ đó mọi tội lỗi đều là do
bất tuân Thiên Chúa và thiếu tín thác vào ḷng nhân
hậu của Người.” (GLCG số 397)
2) Nguyên tổ
đă lạm dụng tự do Chúa ban.
Thiên Chúa đă ban cho con người
nhiều ân huệ, nhưng có 3 ân huệ đặc
biệt làm cho phẩm giá con người trở nên
cao quư là: Lương
tâm, t́nh yêu và tự do. Đồng thời Thiên
Chúa đă tôn trọng tự do mà Ngài đă ban cho con
người.
- “Thiên Chúa sáng tạo con người theo h́nh
ảnh Ngài và cho họ sống trong t́nh thân với Người.
Là một thụ tạo tinh thần, con người
chỉ có thể sống t́nh thân đó khi tự
do tùng phục Thiên Chúa. Điều đó
được diễn tả trong lệnh cấm con người
ăn trái cây biết lành, biết dữ "v́ ngày nào
ngươi ăn nó, ngươi sẽ chết" (St
2, l7). "Cây biết lành biết dữ" (St 2, l7) nói
lên một cách biểu tượng ranh giới mà con
người là thụ tạo không thể vượt
qua, nhưng phải tự ư nh́n nhận và tôn
trọng với ḷng tín thác. Con
người tùy thuộc vào Đấng Sáng Tạo,
phải tuân theo các định luật tự nhiên và
các tiêu chuẩn luân lư qui định việc sử
dụng tự do.”
(GLCG số 396) -
Và “Chỉ khi nào nhận
biết được ư định của Thiên Chúa
về con người, lúc đó người ta mới
hiểu tội là lạm dụng sự tự do Chúa ban cho
con người được sáng tạo để
yêu mến Chúa và yêu mến nhau.” (GLCG số 387) 3) Nguyên tổ
đă kiêu ngạo, muốn nên “như Thiên Chúa.” - “Trong tội này, con người đă chọn chính ḿnh thay v́ Thiên Chúa và do đó đă khinh mạn Thiên Chúa: Con người đă chọn ḿnh bất chấp Thiên Chúa, bất chấp những đ̣i hỏi của t́nh trạng thụ tạo và do đó bất chấp cả điều tốt lành cho bản thân. Khi tác thành con người trong t́nh trạng thánh thiện, Thiên Chúa đă dành sẵn ơn "thần hóa" sung măn trong vinh quang. Do ma quỷ cám dỗ, con người đă muốn "nên như Thiên Chúa" (St 3,5) mà "không cần Thiên Chúa, qua mặt cả Thiên Chúa, và không theo Thiên Chúa." (GLCG số 398)
II. Hậu quả của tội nguyên tổ Nguyên
tổ đă phạm tội, nên Thiên Chúa đă
phạt nguyên tổ
phải đau khổ và phải chết, đồng
thời mất sự công chính và thánh thiện ban
đầu. Án phạt này truyền đến
tất cả mọi người sinh ra trên thế gian
này.
A- Thánh Kinh ghi : -
“Chúa phán với Ađam: "V́ ngươi đă
nghe lời vợ và ăn trái cây mà Ta đă
truyền cho ngươi rằng: “Ngươi đừng
ăn nó,” nên đất đai bị nguyền
rủa v́ ngươi; ngươi sẽ phải
cực nhọc mọi ngày trong đời ngươi,
mới kiếm được miếng ăn từ
đất mà ra. Đất đai sẽ trổ sinh gai
góc cho ngươi, ngươi sẽ ăn cỏ ngoài
đồng. Ngươi
sẽ phải đổ mồ hôi trán mới có bánh
ăn, cho đến khi trở về với đất,
v́ từ đất, ngươi đă được
lấy ra. Ngươi là bụi đất, và sẽ
trở về với bụi đất." (St
3,17-19) B- Hội Thánh
tŕnh bày những hậu quả như sau : 1) Mất sự thánh
thiện nguyên thủy.
- ”Kinh Thánh cho thấy những hậu
quả bi đát của sự bất tuân đầu
tiên đó. A-đam và E-và đă
tức khắc đánh
mất sự thánh thiện nguyên thủy (Rm 3,23).
Họ sợ hăi trước vị Thiên Chúa (St 3,9-l0)
mà họ quan niệm cách sai lệch, như một Thiên
Chúa ganh tị, sợ mất các đặc quyền
của ḿnh.”
(St 3,5). (GLCG số 399) 2) Phá huỷ
sự hài hoà với Thiên Chúa, với vạn vật và
phải chết. -
“Trước kia nguyên
tổ sống trong sự hài ḥa do t́nh trạng công chính
nguyên thủy, nay tội
đă phá hủy sự hài ḥa đó, làm cho
những khả năng điều khiển của linh
hồn trên thể xác bị thương tổn (St
3,7); sự kết hợp nam nữ trở nên căng
thẳng (St 3,ll-l3); mối quan hệ giữa họ
đầy những ham muốn và thống trị (St
3,l6). Sự hài ḥa với vạn vật bị phá
vỡ: thế giới hữu h́nh trở nên xa lạ
và thù nghịch với con người (St 3,l7-l9). V́ con
người, muôn loài đă "lâm vào cảnh hư
ảo" (Rm 8, 20). Cuối cùng, hậu quả đă
được báo trước rơ ràng cho tội
bất tuân, nay thành hiện thực: "Con người
là tro bụi sẽ trở về bụi tro" (St
3,l9). Sự chết đă
xâm nhập vào lịch sử nhân loại.” (Rm
5,l2) (GLCG số 400) 3) Cả trần thế bị ch́m
trong tội lỗi. Huynh đệ tương tàn và
ḷng người luôn hướng về sự dữ. -
“Từ
tội đầu tiên này cả trần thế bị
ch́m trong tội lỗi: huynh đệ tương tàn, khởi đầu là
Ca-in giết A-ben (St 4,3-15); tiếp đến là
sự sa đọa của cả loài người; cũng
vậy, trong lịch sử Ít-ra-en, tội thường
xuyên xuất hiện, nhất là dưới dạng
bất trung với Thiên Chúa Giao Ước và sự vi
phạm luật Mô-sê; cả sau biến cố cứu
độ của Đức Ki-tô, tội xuất
hiện dưới nhiều dạng ngay giữa người
Ki-tô hữu (1Cr 1-6; Kh 2-3). Thánh Kinh và truyền
thống Hội Thánh không ngừng nhắc nhở
tội hiện diện khắp nơi trong lịch
sử loài người.”
- “Điều Thiên Chúa mặc khải cho ta
biết, cũng được kinh nghiệm của ta
xác nhận. Bởi v́ nếu nh́n sâu tận đáy ḷng, con người cũng
khám phá ra ḿnh hướng về sự dữ, và
ngụp lặn trong muôn vàn sự dữ là những
điều không thể xuất phát từ Đấng
Tạo Hóa tốt lành. Nhiều khi từ chối không
nh́n nhận Thiên Chúa như nguyên uỷ của ḿnh,
con người cũng đă phá đổ trật
tự phải có để đạt tới cùng
đích tối hậu, đồng thời phá vỡ
mọi ḥa hợp nơi chính bản thân cũng như
đối với những người khác và với
mọi loài thụ tạo (GS l3,l).”
(GLCG số 401) 4) Mọi người
đều liên lụy với tội A-đam, nên
phải chiến đấu không ngừng. -
“Thánh Phao-lô khẳng định: "Do một người
bất tuân, muôn người (nghĩa là mọi người)
đă mang tội." (Rm 5,l9): "Cũng như
v́ một người duy nhất, mà tội lỗi
đă xâm nhập trần gian, và tội lỗi đă
gây nên sự chết. Như thế, sự chết
đă lan tràn tới mọi người, bởi v́
mọi người đă phạm tội" (Rm l5,
l2).
- Thánh
tông đồ đối chiếu tính phổ quát
của tội lỗi và sự chết với tính
phổ quát của ơn cứu độ trong Đức
Ki-tô: "Cũng như v́ một người duy
nhất đă sa ngă mà mọi người bị
kết án, th́ nhờ một người duy nhất
đă thực hiện lẽ công chính, mọi người
cũng được làm cho nên công chính, nghĩa là
được sống" (Rm 5,l8). (GLCG
số 402) - “Hoàn cảnh bi đát của trần thế "nằm dưới ách thống trị của ác thần" (l Ga 5,l9; l Pr 5,8) làm cho cuộc sống con người trở nên một cuộc chiến đấu. Một cuộc chiến cam go chống lại quyền lực bóng tối tiếp diễn suốt trong lịch sử nhân loại; khởi đầu từ lúc khai nguyên và sẽ kéo dài đến ngày cuối cùng như Lời Chúa phán... Dấn thân vào cuộc chiến này, con người phải luôn luôn chiến đấu để gắn bó với sự thiện và chỉ đạt được sự thống nhất nội tâm, sau khi hết sức cố gắng với sự trợ giúp của ơn Chúa (HCMV 37,2 ). (GLCG số 409)
III. Năm giai đoạn của đời sống con
người. Sau
khi loài người phạm tội, Thiên Chúa qui định
đời sống của loài người phải
trải qua 5 giai đoạn như sau :
(1) Loài người
được sinh ra. Tất
cả mọi người được sinh ra theo quy
luật do Thiên Chúa xếp đặt, qua sự
cộng tác của cha mẹ ở trần gian. Từ
khi người mẹ thụ thai cho đến khi sinh
con là 9 tháng 10 ngày. (2)
Loài người sinh sống. Người
cha, người mẹ, thay quyền Chúa, nuôi con và
dạy dỗ con cho đến khi khôn lớn trưởng
thành; rồi mỗi người sẽ sống tự
lập và lựa chọn bậc sống cho ḿnh:
lập gia đ́nh hoặc sống độc thân. Mỗi
người cũng được tự do lựa
chọn lối sống: sống thánh thiện theo Chúa
hoặc sống dối trá, gian ác theo ma quỷ. Đời
sống tự nhiên của loài người ở
trần gian kéo dài khoảng 100 năm.
(3) Loài người phải
chết.
Tất cả mọi người
đều phải chết do hậu quả của
tội nguyên tổ. Nhưng mỗi người sẽ
chết một cách khác nhau. Người chết già,
người chết trẻ. . . Chết
là linh hồn ĺa khỏi thân xác. Linh hồn th́
tồn tại, thân xác th́ tan ră theo thời gian,
chờ đợi ngày Chúa cho sống lại.
(4)
Loài người sẽ sống lại.
Đến
ngày tận thế, Chúa sẽ cho loài người
sống lại, nghĩa là Chúa dùng quyền năng
của Ngài biến đổi thân xác tan ră của loài
người thành thân xác linh thiêng, để kết
hợp lại với linh hồn thành một con người
mới. Loài
người sẽ sống lại là niềm tin căn
bản của người tin theo Chúa Giêsu. (Đọc
thêm : Ga 6,37-40;1 Cr 15,39-44) (5)
Loài người sẽ sống trường sinh.
Sau
khi sống lại, Thiên Chúa sẽ phán xét loài người.
Ngài sẽ thưởng phạt mỗi người
tuỳ theo lời nói và việc làm khi c̣n sống trên
trần gian. Người lành sẽ được Chúa
cho hưởng hạnh phúc trường sinh trong Nước
Trời, c̣n người dữ sẽ bị Chúa
phạt trong Hỏa ngục, phải đau khổ muôn
đời. (Mt 25,31-46)
PHẦN HAI CỦA ĂN NUÔI SỐNG
Mặc dầu loài người phạm tội,
phải đau khổ và phải chết, nhưng Thiên
Chúa vẫn yêu thương, Ngài tiếp tục ban cho
loài người của ăn vật chất và hơn
nữa, Ngài đă sai Ngôi
Hai giáng sinh làm người, là Chúa Giêsu, để ban
cho loài người của ăn tinh thần.
Nhờ của ăn tinh thần, loài người
sẽ sống công chính, thánh thiện, sẽ
được hưởng hạnh phúc ngay ở đời
này và hạnh phúc trường sinh trong Nước
Trời.
Hội thánh giải thích như sau: - ”Sau
khi sa ngă, con người không bị Thiên Chúa bỏ rơi.
Ngược lại, Thiên Chúa kêu mời con người
và tiên báo cách huyền nhiệm sự dữ sẽ
bị đánh bại và con người sa ngă sẽ
được nâng dậy. Đoạn này trong sách Sáng
Thế được gọi là "Tiền Tin
Mừng" v́
đó là lời loan báo đầu tiên về Đấng
Mê-si-a cứu chuộc, về cuộc
chiến đấu giữa con rắn và người
nữ và về chiến thắng cuối cùng của
một hậu duệ người nữ này.”
(GLCG số 410) Chương Một THIÊN CHÚA BAN CỦA ĂN VẬT CHẤT I. Thiên Chúa tạo dựng của ăn vật chất
để nuôi sống thân xác loài người. Trước
khi dựng nên loài người, Thiên Chúa đă
tạo dựng vũ trụ vạn vật để
phục vụ và nuôi sống thân xác loài người.
Của ăn vật chất nuôi sống thân xác là: không
khí, nước uống và cơm bánh. 1) Sau khi tạo
dựng Ađam và Eva, Thiên Chúa ban cho loài người
các thảo mộc làm của ăn : -
“Thiên Chúa phán: "Đây Ta ban cho các ngươi
mọi thứ cỏ mang hạt giống trên khắp
mặt đất, và mọi thứ cây có trái mang hạt giống, để
làm lương thực cho các ngươi.” (St
1,29) 2) Sau cơn Đại
Hồng Thủy, Thiên Chúa ban cho gia đ́nh ông Nô-ê các
loài sinh vật làm của ăn : -
“Thiên Chúa ban phúc lành cho ông Nô-ê và các con ông, và Người
phán với họ: "Hăy sinh sôi nảy nở
thật nhiều, cho đầy mặt đất.
Mọi dă thú, mọi chim trời, mọi giống
vật ḅ dưới đất, và mọi cá biển
sẽ phải kinh hăi khiếp sợ các ngươi:
chúng được trao vào tay các ngươi. Mọi
loài di động và có sự sống sẽ là lương
thực cho các ngươi; Ta ban cho các ngươi
tất cả những thứ đó, cũng như
đă ban cỏ xanh tươi.” (St 9,1-3)
II. Thiên Chúa tạo dựng các
bộ phận trong thân thể con người để
tiêu hoá của ăn vật chất. Hiện
giờ chúng ta đang sống, v́ chúng ta đă ăn,
uống và hít thở không khí. Chúng ta ăn, uống và
hít thở không khí, nhưng chúng ta cũng không điều
khiển và biến hoá các yếu tố ấy thành máu
huyết, xương thịt hay răng tóc của chúng
ta. Nhưng chính Thiên Chúa đă tạo nên các bộ
phận trong cơ thể chúng ta. Chúng hoạt động
theo quy luật do Ngài xếp đặt và tác động
để biến hóa các yếu tố vật chất
ấy thành thân xác sống động. Như
vậy, thân xác chúng ta sống được là
nhờ của ăn vật chất do Chúa ban và Ngài
xếp đặt tất cả. Nói cách khác, thân
xác chúng ta là tổng hợp tất cả các yếu
tố vật chất chung quanh. Hơn nữa, chúng
ta sống lâu nhất cũng chỉ hơn kém 100 năm.
III.
Thiên Chúa đă quan pḥng tất cả.
Thiên
Chúa là Cha yêu thương, Ngài đă quan pḥng
và xếp đặt tất cả. Loài người
phải tin tưởng tuyệt đối vào Ngài. Chúa
Giêsu đă dạy: -
“Thầy bảo cho anh em biết: đừng lo cho
mạng sống: lấy ǵ mà ăn; cũng đừng
lo cho thân thể: lấy ǵ mà mặc. Mạng sống
chẳng trọng hơn của ăn, và thân thể
chẳng trọng hơn áo mặc sao ? Trước
hết hăy t́m kiếm Nước Thiên Chúa và đức
công chính của Người, c̣n tất cả
những thứ kia, Người sẽ thêm cho.
Vậy, anh em đừng lo lắng về ngày mai: ngày
mai, cứ để ngày mai lo. Ngày nào có cái khổ
của ngày ấy.” (Mt
6,24-34)
Chương hai THIÊN CHÚA BAN CỦA ĂN TINH THẦN V́
yêu thương loài người, Thiên Chúa không
chỉ ban của ăn vật chất để nuôi
sống thể xác, mà Ngài c̣n ban của ăn tinh
thần để nuôi đời sống thiêng liêng
của loài người. Của ăn tinh thần là: Ơn
Chúa, Lời Chúa và Ḿnh Máu Chúa. Chúa
Giêsu nói với người Do thái: “Các
ông hăy ra công làm việc, không phải v́ lương
thực mau hư nát; nhưng để có lương
thực trường tồn đem lại phúc trường
sinh, là lương thực Con Người sẽ ban cho
các ông, bởi v́ chính
Con Người là Đấng Thiên Chúa Cha đă ghi
dấu xác nhận.” (Ga
6,27)
Thật vậy, loài người chúng ta không thể
tiến vào Nước Trời để hưởng
hạnh phúc trường sinh, nếu không đón
nhận của ăn tinh thần do Chúa tặng ban.
Ngày nay Hội Thánh mời gọi các tín hữu
hăy đến tham dự thánh lễ để lănh
nhận của ăn tinh thần, đặc biệt là
Ḿnh Máu Thánh Chúa.
Thật vậy, Thánh lễ là bữa tiệc thánh, bắt
nguồn từ bữa tiệc cuối cùng của Chúa
Giêsu và các môn đệ. Trong
bữa tiệc này có đủ ba món ăn tinh
thần: Đón nhận Ơn Chúa qua các lời nguyện; lắng nghe Lời Chúa qua các bài Thánh Kinh và lănh nhận Ḿnh Máu Chúa qua việc rước lễ.
Hội Thánh xác đinh như sau:
- ”Thánh lễ
vừa là lễ tưởng niệm hy tế để
lưu truyền muôn đời hy tế thập giá,
vừa là bàn tiệc thánh
để thông hiệp Ḿnh và Máu Chúa.” (GLCG
số 1382)
- “Hội Thánh
buộc các tín hữu phải tham dự thánh lễ vào
các ngày Chúa nhật và lễ trọng.” (GLCG
số 1389)
I-
ƠN CHÚA -
Ơn Chúa là “sự trợ giúp nhưng không mà Thiên Chúa ban để
chúng ta đáp lại tiếng gọi của Người:
trở thành con cái Thiên Chúa (Ga 1,12-18), làm nghĩa
tử (Rm 8,14-17), tham dự vào bản tính Thiên Chúa (2
Pr 1, 3-4) và vào sự sống đời đời (Ga
17,3).” (GlCG số 1996)
- “Ơn
gọi vào sự sống vĩnh cửu là một
ơn siêu nhiên, tùy thuộc hoàn toàn vào sáng
kiến nhưng không của Thiên Chúa, v́
chỉ ḿnh Người
mới có thể tự mặc khải và tự
hiến. Ơn gọi ấy vượt mọi khả
năng của trí tuệ và ư chí con người, cũng
như của mọi thụ tạo (1 Cr 2,7-9).”
(GLCG
số 1998) Muốn
đón nhận Ơn Chúa, chúng ta phải cầu
nguyện và lănh nhận các bí tích.
A. CHÚA BAN ƠN THIÊNG QUA VIỆC CẦU NGUYỆN
1. Cầu
nguyện với Thiên Chúa Cha : Chúa
Giêsu dạy các môn đệ:
“Khi cầu
nguyện anh em hăy nói: “Lạy Cha chúng con, ở trên
trời, chúng con nguyện danh Cha cả sáng, Nước
Cha trị đến, Ý Cha thể hiện dưới
đất cũng như trên trời. Xin
Cha cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày,
và tha nợ chúng con, như chúng con cũng tha kẻ có
nợ chúng con. Xin chớ để chúng con sa chước
cám dỗ, nhưng cứu chúng con cho khỏi sự
dữ.” (Amen) (Mt
6,9-13) Kinh
Lạy Cha là lời cầu nguyện tuyệt hảo
nhất, v́ qua kinh này, chúng ta xin tất cả
những ǵ chúng ta ao ước và c̣n theo đúng
thứ tự của ḷng mong ước. (GLCG số
2763, 2541)
Kinh
Lạy Cha là bản tóm tắt bốn sách Tin Mừng
và cũng là trung tâm điểm của Thánh Kinh. (GLCG
2761-1763) 2. Xin Thiên Chúa Cha
ban Thánh Thần: a)
Chúa Giêsu dạy các môn đệ:
“Anh em cứ xin thì sẽ được,
cứ t́m thì sẽ thấy, cứ gơ cửa
thì sẽ mở cho. Vì thế ai xin thì
nhận được, ai tìm thì thấy,
ai gơ cửa thì sẽ mở cho. Ai trong anh em là
một người cha, mà con xin cá, lại lấy rắn
thay vì cá sao ? Hoặc nó xin trứng, mà lại
cho nó con bọ cạp? Vậy nếu anh em là
những kẻ xấu, mà c̣n biết cho con cái
mình những của tốt lành, phương chi
Cha trên trời, Ngài
sẽ ban Thánh Thần cho những kẻ xin Ngài.”
(Lc
11,9-13) b) Hội
Thánh đă xác định:
Trong các ơn Chúa
ban,
ơn quan trọng nhất
là ơn Chúa Thánh Thần. Bởi
v́, Chúa Thánh Thần là nguồn mọi ân sủng.
- “Ân sủng trước
tiên và chính yếu là hồng ân Thánh Thần để
công chính hóa và thánh hóa chúng ta. Nhưng
ân sủng cũng gồm các hồng ân Chúa Thánh
Thần ban để liên kết chúng ta vào công tŕnh
của Người, ban cho chúng ta khả năng
cộng tác vào công tŕnh
cứu độ tha nhân và làm phát triển Thân
Thể Chúa Ki-tô là Hội Thánh.” (GLCG
số 2003) c) Thánh Phaolô đă giải thích: -
“Có nhiều đặc
sủng khác nhau, nhưng chỉ có một Thần Khí.
Có nhiều việc phục vụ khác nhau, nhưng
chỉ có một Chúa. Có nhiều hoạt động
khác nhau, nhưng vẫn chỉ có một Thiên Chúa làm
mọi sự trong mọi người.
Thần Khí tỏ ḿnh
ra nơi mỗi người một cách, là v́ ích chung.
Người th́ được Thần Khí ban cho ơn
khôn ngoan để giảng dạy, người th́
được Thần Khí ban cho ơn hiểu biết
để tŕnh bày. Kẻ th́ được Thần
Khí ban cho ḷng tin; kẻ th́ cũng được chính
Thần Khí duy nhất ấy ban cho những đặc
sủng để chữa bệnh. Người th́
được ơn làm phép lạ, người th́
được ơn nói tiên tri; kẻ th́ được
ơn phân định thần khí; kẻ
khác th́ được
ơn nói các thứ tiếng lạ; kẻ khác nữa
lại được ơn giải thích các tiếng
lạ.
Nhưng chính Thần
Khí duy nhất ấy làm ra tất cả những điều
đó và phân chia cho mỗi người mỗi cách,
tuỳ theo ư của Người.”
(1 Cr 12,4-11)
B.
CHÚA BAN ƠN THIÊNG QUA CÁC BÍ TÍCH Chúa
Giêsu đă lập các bí tích để ban ơn thiêng
liêng cho loài người theo từng giai đoạn
đời sống:
1. Bí tích Thanh Tẩy.
Khi
lănh bí tích Thanh Tẩy, chúng ta được Chúa
tẩy rửa mọi tội lỗi; được tái
sinh trong Thánh Thần để trở thành con Thiên Chúa;
được trở thành phần tử của
Hội Thánh, có bổn phận và quyền lợi.
Hội Thánh xác định như sau:
- ”Nhờ
bí tích Thanh Tẩy, mọi tội lỗi đều
được tha :
nguyên tội, mọi tội riêng cũng như mọi
h́nh phạt do tội (DS 1316). Những
người đă được tái sinh sẽ
được vào Nước Thiên Chúa và không c̣n ǵ
ngăn cản họ, dù là tội A-đam, tội riêng
của họ, những hậu quả của
tội, kể cả hậu quả trầm trọng
nhất là xa ĺa Thiên Chúa.” (GLCG
số 1263)
- ”Bí tích Thanh
Tẩy không chỉ rửa sạch mọi tội
lỗi, mà c̣n làm cho người tân ṭng trở nên "một
thụ tạo mới" (2 Cr 5,17), thành nghĩa
tử của Thiên Chúa (Gl 4,5-7), "được thông phần bản tính Thiên Chúa"
(2 Pr 1,4), thành chi thể Đức Ki-tô (1Cr 6,15; 12,27) và
đồng thừa tự với Người (Rm 8,17),
thành đền thờ Chúa Thánh Thần (1Cr 6,19).” (GLCG
số 1265)
-
”Chúa Ba Ngôi Chí Thánh ban
cho người được rửa tội ơn thánh
hóa, ơn công chính hóa
để người đó : - có khả năng tin tưởng, trông
cậy và yêu mến Người nhờ các nhân đức
đối thần; - có thể sống và hành động
dưới tác động của Chúa Thánh Thần
nhờ các hồng ân; - ngày càng hoàn thiện hơn
nhờ các nhân đức luân lư. -
“Nhờ
bí tích Thanh Tẩy, họ tham dự vào chức tư
tế của Đức Ki-tô, vào sứ mạng ngôn
sứ và vương đế của Người.
"Anh
em là giống ṇi được tuyển chọn, là
hoàng tộc chuyên lo tế tự, là dân thánh, dân riêng
của Thiên Chúa, để loan truyền những
kỳ công vĩ đại của Người, Đấng
đă gọi anh em
ra khỏi miền u tối vào nơi đầy ánh sáng
dịu huyền" (2 Pr 2,9). Bí tích Thanh Tẩy cho các
tín hữu tham dự vào chức tư tế cộng
đồng của Dân Chúa.”
(GLCG
số 1268)
-
”Người
đă
được rửa tội trở thành phần
tử của Hội Thánh, họ "không c̣n thuộc
về ḿnh, nhưng
thuộc về Đấng đă chết và
sống lại v́
chúng ta" (1Cr 6,19). Do đó, họ được
mời gọi để phục tùng nhau (Ep 5,21; 1Cr 16,
15-16) và phục vụ nhau (Ga 13,12-15) trong t́nh
hiệp thông của Hội Thánh. Họ được
mời gọi vâng lời và phục tùng các vị lănh đạo
của Hội Thánh (Dt 13, 17) với ḷng kính trọng và
quư mến” (1Tx 5,12-13). (GLCG số 1269)
- “Bí tích Thanh
Tẩy đă trao cho người lănh nhận những
trách nhiệm và bổn phận, đồng
thời cũng cho họ được
hưởng những quyền lợi trong ḷng Hội
Thánh : được lănh nhận các bí tích, được
nuôi dưỡng bằng Lời Chúa và được
Hội Thánh nâng đỡ bằng các trợ giúp thiêng
liêng.” (GLCG
số 1269) Thánh Phaolô đă
viết :
- Khi lănh phép Rửa, chúng ta được thông
phần với Chúa Giêsu Kitô,
để cùng chết và sống lại với Ngài. (Rm
6,1-14; Cl 2,11-13)
- Khi lănh phép Rửa, chúng ta được nên
công chính, hợp nhất với nhau và hưởng sự
sống đời đời. (1 Cr 6,9-11; 12,12-13; Gl
3,23-29; Tt 3,4-7)
2. Bí tích Thêm Sức. Khi
chúng ta lănh bí tích Thêm Sức, Chúa ban tràn đầy
Thánh Thần và ơn sủng của Ngài để
chúng ta sống và làm chứng nhân cho
Chúa ở mọi nơi mọi lúc.
Hội Thánh xác định
như sau:
- ”Hiệu
quả của bí tích Thêm Sức là người tín
hữu được nhận Chúa Thánh Thần
một cách đặc biệt, như ngày xưa các tông
đồ đă nhận
được trong ngày lễ Ngũ Tuần.” (GLCG số 1302) -
“Bí tích Thêm Sức tăng
trưởng và đào sâu ơn bí tích Thánh Tẩy:
*- "Ấn tích"
Thêm Sức kiện toàn
chức tư tế cộng đồng cho người
tín hữu đă lănh nhận trong bí tích Thánh Tẩy,
và "người lănh bí tích Thêm Sức nhận được
sức mạnh để công khai tuyên xưng đức
tin vào Chúa Ki-tô như một bổn phận." (GLCG
số 1305)
3. Bí tích Giao Hoà. Khi
chúng ta lănh bí tích Giao Hoà, chúng ta được Chúa
tha thứ các tội riêng để chúng ta được
trở về với Chúa và Hội Thánh.
Hội
Thánh xác định như sau:
- “Mục đích và
hiệu quả của bí tích này là giao
ḥa hối nhân với Thiên Chúa. Ai lănh
nhận bí tích Giao Ḥa với ḷng thống hối và
đạo đức, lương
tâm "sẽ được
b́nh
an thư thái, được an ủi thiêng liêng"
(CĐ Trentô: DS 1674). (GLCG số 1468)
- “Bí tích Giao Ḥa thực hiện một "cuộc phục sinh thiêng
liêng" đích thực, hoàn lại phẩm giá và
những đặc quyền của đời sống
con cái Thiên Chúa, nhất là t́nh bằng
hữu với Người (Lc 15,32). (GLCG
số 1468)
-
“Bí
tích này giao ḥa hối nhân với Hội Thánh.
Bí tích Giao Ḥa tái tạo
sự hiệp thông huynh đệ, mà tội
lỗi làm tiêu hao hay cắt đứt. Theo nghĩa này,
bí tích Giao Ḥa không những chữa
lành hối nhân vừa được hiệp thông
lại với Hội Thánh, mà c̣n làm
cho Hội Thánh thêm sức sống sau khi đă
phải đau khổ v́ tội lỗi của các chi
thể (1Cr 12,26). Tội nhân được
Hội Thánh đón nhận lại vào cộng đoàn
chư thánh, được
liên kết với Hội Thánh và được
củng cố nhờ sự trao đổi gia sản
thiêng liêng giữa các chi thể sống động
của Thân Thể Chúa Ki-tô, dù họ c̣n đang
lữ hành nơi trần thế hay đă về Quê Trời.” (LG 48-50)
(GLCG
số 1469)
-
"Việc giao ḥa với
Thiên Chúa c̣n dẫn tới những sự giao ḥa khác
là chữa lành các vết
thương do tội : khi được tha thứ,
hối nhân được
giao ḥa với chính ḿnh,
nhờ đó t́m lại
được chính ḿnh;
được giao ḥa
với anh em là những người họ đă xúc phạm và gây thương
tổn; được
giao ḥa với Hội Thánh và vạn vật."
(GLCG số 1469)
4.
Bí tích Xức dầu bệnh nhân. Khi
chúng ta lănh bí tích Xức Dầu, chúng ta được
Chúa nâng đỡ ḷng tin và tha thứ mọi tội
lỗi để chúng ta được
b́nh an trong cơn bệnh nặng hoặc gìa
yếu. Đồng thời được kết
hiệp chặt chẽ hơn với Đức Ki-tô
chịu khổ nạn và góp phần thánh hóa Hội
Thánh và mưu ích cho mọi người
Hội Thánh xác định
như sau: -
“Chúa Thánh Thần ban
một ân huệ đặc biệt trong bí tích
Xức Dầu Bệnh Nhân. Ơn
căn bản của bí tích này là ơn sức
mạnh, b́nh
an và can đảm để lướt
thắng những khó khăn do bệnh tật hay
tuổi già. Đây là hồng ân của Chúa Thánh
Thần giúp người đau yếu tin tưởng và phó
thác vào Thiên Chúa, cho họ sức mạnh chống
lại cám dỗ của ma quỷ, cám dỗ ngă ḷng và
sợ chết (Dt
2,15). (GLCG số 1520)
-
“Sự trợ giúp của Chúa nhờ sức mạnh
của Thánh Thần sẽ chữa
lành linh hồn bệnh nhân, và nếu Chúa muốn th́
thể xác cũng được chữa lành.
(GLCG số 1520)
- “Ngoài ra,"nếu bệnh nhân đă phạm
tội, th́ sẽ được Chúa thứ tha." (GLCG số 1520) -
Thánh Giacôbê đă khuyên tín hữu hăy mời các
kỳ mục (linh mục) đến cầu nguyện cho
bệnh nhân và xức dầu cho họ để
họ được tha thứ các tội. (Gc
5,13-16)
- “Nhờ ân sủng bí tích này, bệnh
nhân lănh nhận sức mạnh và hồng ân kết
hiệp chặt chẽ hơn với Đức Ki-tô
chịu khổ nạn : có thể nói, họ
được thánh hiến để sinh hoa kết trái
nhờ đồng h́nh đồng dạng với
Đấng Cứu Thế chịu khổ nạn. Đau
khổ, hậu quả của nguyên tội, nhận
một ư nghĩa mới : được tham dự vào
công tŕnh
cứu độ của Đức Giê-su.” (GLCG
số 1521)
- "Nhờ sẵn sàng kết hiệp với
Đức Ki-tô chịu đau khổ và chịu
chết khi lănh nhận bí tích, các
bệnh nhân góp phần mưu ích cho dân Thiên Chúa (LG
11). Khi cử hành bí tích này, trong sự hiệp thông
của Dân Thánh, Hội Thánh cầu nguyện cho
bệnh nhân và bệnh nhân
nhờ ân sủng của bí tích, góp
phần thánh hóa Hội Thánh và mưu ích cho mọi người
: Hội Thánh phải chịu đau khổ và
tự hiến cho Chúa Cha, nhờ Chúa Ki-tô, v́
mọi người.” (GLCG số 1522) - “Bí tích Xức Dầu hoàn tất điều bí tích Thanh Tẩy đă khởi sự là người tín hữu được đồng h́nh đồng dạng với Chúa Ki-tô chịu chết và sống lại. Bí tích này hoàn tất mọi việc xức dầu thánh, trong suốt cuộc đời người tín hữu : việc xức dầu trong bí tích Thanh Tẩy tuôn tràn sự sống mới trong chúng ta; việc xức dầu trong bí tích Thêm Sức củng cố sức lực chúng ta để chiến đấu giữa cuộc đời; việc xức dầu lần cuối giúp chúng ta an toàn trong cuộc chiến đấu cuối cùng trước khi vào nhà Cha.” (GLCG số 1523)
5.
Bí tích Truyền chức thánh. Hội Thánh xác định như sau:
-
“Nhờ
ân sủng đặc biệt
của Chúa Thánh Thần, bí
tích này làm cho thụ nhân nên giống Đức Ki-tô
để trở thành khí cụ phục vụ Hội
Thánh Người. Nhờ
chức thánh, các ngài có thể thi hành chức
vụ của Đức Ki-tô là Đầu Hội Thánh
trong ba nhiệm vụ tư tế, ngôn sứ và vương
đế.” (GLCG số 1581)
- “Như trường hợp bí tích Thánh
Tẩy và Thêm Sức, việc tham dự vào chức
vụ của Đức Ki-tô nhờ bí tích Truyền
Chức dù được lănh nhận một lần
ở mỗi cấp. Bí tích Truyền Chức cũng in một ấn tín
thiêng liêng vĩnh viễn, nên không thể lănh
nhận nhiều lần hay lănh nhận tạm thời.”
(GLCG số 1582)
- “Ơn
riêng Chúa Thánh Thần được ban trong bí tích
này làm cho thụ nhân vừa nên giống, vừa nên
thừa tác viên của Đức Ki-tô là Thượng
Tế, Thầy Dạy và Mục Tử.” (GLCG
số 1585)
- “Tự bản chất, chức tư tế
thừa tác khác với chức tư tế cộng
đồng, v́ ban cho
thụ nhân quyền thánh chức để phục
vụ các tín hữu. Các thừa tác viên có
chức thánh phục vụ dân Chúa qua việc
giảng dạy, cử hành Phụng vụ và hướng
dẫn Mục vụ.” (GLCG số 1592)
6.
Bí tích Hôn phối. Những
ai lănh bí tích Hôn Phối sẽ được Chúa chúc
phúc và ban ơn đặc biệt để họ xây
dựng gia đình hạnh phúc và
góp phần xây dựng thế giới
hòa bình.
Hội
Thánh xác định như sau:
- "Do hôn
phối hữu hiệu, giữa vợ chồng phát sinh một mối dây ràng
buộc vĩnh viễn và độc nhất tự
bản chất. Ngoài ra, trong hôn phối Ki-tô giáo,
do một bí tích riêng biệt, vợ chồng được
củng cố và như thế được thánh
hiến nhằm tới thiên chức và những trách
nhiệm của bậc sống."
(GLCG
số 1638)
- “Chính Thiên Chúa
đóng ấn xác nhận lời giao ước qua
đó hai người ưng thuận kết hôn,
tự hiến cho nhau và đón nhận nhau (Mc 10,9).
Từ hôn ước của họ "phát sinh một
định chế vững chắc theo ư định
của Thiên Chúa và có giá trị trước mặt xă
hội" (GS 48,1). Hôn ước được liên
kết với giao ước Thiên Chúa kư kết
với nhân loại : "T́nh
yêu vợ chồng đích thực được
kết nhập trong t́nh yêu Thiên Chúa." (GS
48,2) (GLCG số 1639)
- "Các đôi vợ chồng Ki-tô giáo
được những ơn riêng cho bậc
sống của ḿnh trong Dân Chúa" (LG 11). Ân
sủng đặc biệt của bí tích Hôn
Phối kiện toàn t́nh yêu vợ
chồng, củng cố
sự hiệp nhất bất khả phân ly của
họ. Nhờ ân sủng này, "họ giúp nhau nên thánh
trong đời sống hôn nhân, trong việc đón
nhận và giáo dục con cái."
(LG 11; LG 41) (GLCG số
1641) II. LỜI CHÚA
Lời Chúa là của
ăn tinh thần cần thiết cho đời
sống của linh hồn và tinh thần con người,
giống như nước uống cần cho đời
sống của thể xác. V́ thế, chúng ta cần
phải lắng nghe Lời Chúa hằng ngày.
Chúa Giêsu đă phán:
- “Người ta sống không chỉ nhờ cơm
bánh, nhưng c̣n nhờ mọi lời miệng Thiên Chúa
phán ra.” (Đnl 8,3;
Mt 4,4)
- “Phúc thay kẻ
biết lắng nghe và tuân giữ Lời
Thiên Chúa.” (Lc 11,28)
Thư gửi tín hữu Do thái đă tŕnh bày:
- “Lời Thiên Chúa
là lời sống động, hữu hiệu và
sắc bén hơn cả gươm hai lưỡi: xuyên
thấu chỗ phân cách tâm với linh, cốt với
tuỷ; lời đó phê phán tâm t́nh cũng như tư
tưởng của ḷng người. V́
không có loài thọ tạo nào mà không hiện rơ trước
Lời Chúa, nhưng tất cả đều
trần trụi và phơi bày trước mặt Đấng
có quyền đ̣i chúng ta trả lẽ.”
(Dt 4,12-13)
Thiên Chúa phán dạy loài người bằng 2 cách
: qua Lương Tâm và qua Thánh Kinh. 1. Lương
Tâm là tiếng nói vô h́nh của Thiên Chúa.
Thiên Chúa đă ghi
khắc trong tâm hồn con người tiếng nói vô
h́nh của Ngài, đó là Lương tâm. Ngài dạy
con người phải làm điều lành và tránh xa
điều ác.
- “Lương tâm
là tâm điểm sâu lắng nhất và là cung thánh
của con người; nơi đây con người
hiện diện một ḿnh với Thiên Chúa và
tiếng nói của Người vang dội trong thâm tâm
họ." (HCMV
số 16)
- “Lương tâm
là sứ giả của Đấng nói với chúng ta
sau một bức màn, dạy dỗ và hướng
dẫn chúng ta, trong thế giới tự nhiên cũng
như trong thế giới ân sủng.” (GLCG
số 1778)
Nhưng sau khi nguyên tổ phạm tội, tinh
thần loài người trở nên yếu đuối
và Lương tâm dễ bị sai lầm, có khi
trở nên mù quáng do tác động của ma qủy.
V́ thế, Lương tâm loài người cần
phải được thanh tẩy nhờ phép Rửa
và Máu Chúa Giêsu Kitô.
- “Lănh nhận phép
rửa, không phải là được tẩy sạch
vết nhơ thể xác, mà là
cam kết với Thiên Chúa sẽ giữ lương tâm
trong trắng, nhờ sự phục sinh của Đức
Giêsu Kitô.” (1 Pr 3,21)
- “Nhờ Thánh Thần hằng hữu thúc đẩy,
Đức Kitô đă tự hiến tế như
lễ vật vẹn toàn dâng lên Thiên Chúa. Máu
của Người thanh tẩy lương tâm chúng ta
khỏi những việc đưa tới sự
chết, để chúng ta xứng đáng phụng
thờ Thiên Chúa hằng sống.”
(Dt 9,13-14) 2. Thánh Kinh là tiếng nói
hữu h́nh của Thiên Chúa.
Để bổ túc cho tiếng nói qua lương
tâm, Thiên Chúa đă dùng các tổ phụ, các ngôn
sứ, các tông đồ và
nhất là qua Chúa Giêsu, Ngôi Lời nhập thể,
để truyền dạy loài người các chân lư
một cách đầy đủ và chính xác.
- “Thuở xưa, nhiều lần nhiều cách, Thiên
Chúa đă phán dạy cha ông chúng ta qua
các ngôn sứ; nhưng vào thời sau hết này,
Thiên Chúa đă phán dạy chúng ta
qua Thánh Tử. Thiên Chúa đă nhờ Người
mà dựng nên vũ trụ, đă đặt Người
làm Đấng thừa hưởng muôn vật muôn loài.” (Dt 1,1-2) Những
chân lư Thiên Chúa truyền dạy đă được
ghi chép trong Thánh Kinh. Thánh Kinh gồm 73 quyển chia làm
2 phần : Cựu Ước 46 quyển và Tân Ước
27 quyển. Ngày nay Thánh
Kinh (trọn bộ hoặc từng phần) đă
được dịch ra 2454 ngôn ngữ khác nhau và phổ biến khắp
nơi trên thế giới.
Thánh
Phaolô viết :
- “Tất cả
những ǵ viết trong Sách Thánh đều do Thiên Chúa
linh hứng, và có ích cho
việc giảng dạy, biện bác, sửa dạy, giáo
dục để trở nên công chính. Nhờ vậy,
người của Thiên Chúa nên thập toàn, và
được trang bị đầy đủ để
làm mọi việc lành.” (2
Tm 3,16-17; Rm 15,4) V́
vậy bất cứ ai muốn trở thành người
công chính, được Chúa chúc phúc và hưởng
sự sống muôn đời trong Nước Trời,
th́ phải thường xuyên lắng nghe và thực hành
Lời Chúa. (Mt 7,21-27; Lc 8,19-21; 10,38-42; 11,27-28; Ga 5,24;
8,31.47.51; 12,47-48; 14,23-24; 15,3.7-17; Gc 1,25; 1 Pr 1,22-25)
Hội
Thánh dạy rằng:
- “Hội
Thánh luôn tôn kính Thánh Kinh như chính Thân Thể Chúa,
nhất là trong Phụng vụ, Hội Thánh không
ngừng lấy bánh ban sự sống từ bàn
tiệc Lời Chúa cũng như từ bàn
tiệc Ḿnh Chúa Kitô để ban phát cho các tín
hữu.
Cùng với Thánh Truyền, Thánh
Kinh đă và đang được Hội Thánh xem như
là qui luật tối cao hướng dẫn đức
tin, được Thiên Chúa linh hứng và đă
được ghi chép một lần cho muôn đời.
Thánh
Kinh phân phát cách bất di bất dịch lời
của chính Chúa và làm
vang dội tiếng nói của Chúa Thánh Thần qua các
ngôn sứ và các tông đồ.
Bởi vậy, mọi
lời rao giảng trong Hội Thánh cũng như chính
đạo thánh Chúa Kitô phải được Thánh
Kinh nuôi dưỡng và hướng dẫn.
Thực thế, trong các Sách Thánh, Chúa Cha trên
trời bằng tất cả ḷng tŕu mến gặp
gỡ con cái ḿnh, và ngỏ lời với họ.
Lời Chúa c̣n có một sức mạnh và
quyền năng có thể nâng đỡ và tăng cường
Hội Thánh; ban sức mạnh đức tin cho con cái
Hội Thánh; là lương thực linh hồn, nguồn sống
thiêng liêng, tinh tuyền và trường cửu cho con cái
Hội Thánh.
Bởi thế, lời nói sau đây thật
xứng hợp cho Thánh Kinh: “Thật vậy, Lời
Thiên Chúa sống động và linh nghiệm”
(Dt 4,12)
“có khả năng gây dựng và ban gia tài cho mọi
người đă được thánh hoá.” (Cv
20,32; 1 Tx 2,13) (MK số 21)
III. M̀NH MÁU CHÚA
Vì yêu thương loài người yếu hèn
và v́ nhu cầu nuôi dưỡng
đời sống trường sinh của
loài người, Ngài đă trở thành
của ăn thiêng liêng cho bất cứ ai tin nhận
Ngài; cũng như Chúa đă biến hoá
thịt, máu nơi người mẹ thành ḍng sữa
để nuôi con khi mới sinh.
1.
Chúa Giêsu là bánh hằng sống từ trời
xuống.
Trong thời gian rao
giảng về Nước Trời, Chúa Giêsu đă nói
với người Do Thái:
-“Tôi là bánh trường
sinh. Tổ tiên các ông đă ăn man-na trong sa
mạc, nhưng đă chết. C̣n bánh này là bánh
từ trời xuống, để ai ăn th́ khỏi
phải chết. Tôi là bánh
hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh
này, sẽ được sống muôn đời. Và bánh
tôi sẽ ban tặng, chính là thịt tôi đây, để
cho thế gian được sống."
-"Thật, tôi bảo thật các ông : nếu
các ông không ăn thịt và uống máu Con Người,
các ông không có sự sống nơi ḿnh. Ai ăn thịt và uống máu tôi, th́ được
sống muôn đời, và tôi sẽ cho người
ấy sống lại vào ngày sau hết, v́ thịt
tôi thật là của ăn, và máu tôi thật là
của uống.
- “Ai ăn thịt và
uống máu tôi, th́ ở lại trong tôi, và tôi ở
lại trong người ấy. Như Chúa Cha là
Đấng hằng sống đă sai tôi, và tôi
sống nhờ Chúa Cha thế nào, th́ kẻ ăn tôi, cũng sẽ nhờ tôi mà
được sống như vậy.
- “Đây là bánh
từ trời xuống, không phải như bánh
tổ tiên các ông đă ăn, và họ đă
chết. Ai ăn bánh này, sẽ được
sống muôn đời."
(Ga 6,48-59)
Các tông đồ và một số môn đệ
tin Lời Chúa nói; c̣n người Do thái và một
số môn đệ khác không tin. (Ga 6,60-66) 2. Chúa Giêsu lập bí tích
Thánh thể :
Trong bữa tiệc cuối cùng với các tông
đồ và môn đệ, Chúa Giêsu đă lập bí
tích Thánh thể. Ngài đă cụ thể hoá t́nh yêu
thương chia sẻ và sự hiện diện đích
thật của Ngài: - “Cũng trong bữa ăn, Chúa Giêsu cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, rồi bẻ ra, trao cho môn đệ và nói: "Anh em cầm lấy mà ăn, đây là ḿnh Thầy." Rồi Người cầm lấy chén, dâng lời tạ ơn, trao cho môn đệ và nói: “Tất cả anh em hăy uống chén này, v́ đây là máu Thầy, máu Giao Ước, đổ ra cho muôn người được tha tội.” (Mt 26,26-29; Mc 14,22-25; Lc 22,14-20; 1 Cr 11,23-25)
3. Hội Thánh ngày nay đă xác định như
sau:
- “Như của ăn vật chất phục
hồi sức lực đă tiêu hao, bí
tích Thánh Thể củng cố đức mến mà
trong đời sống hằng ngày có xu hướng
suy yếu đi.” (GLCG
số 1394)
- “Như của ăn vật chất mang lại
sự sống cho thân xác thế nào, việc
rước lễ cũng đem lại sự sống
kỳ diệu cho đời sống thiêng liêng như
vậy.” (GLCG số
1392)
- ”Chúa
khẩn thiết kêu mời chúng ta đón rước
Người trong bí tích Thánh Thể:
"Thật, Tôi bảo thật các ông : nếu các ông
không ăn thịt và uống Máu Con Người, các
ông không có sự sống nơi ḿnh" (Ga
6,53). (GLCG số 1384)
- "Thánh Thể là
lương thực hằng ngày của chúng ta.
Đặc tính của lương thực thần thiêng
này là sức mạnh
hiệp nhất : hiệp nhất chúng ta với Thân
Thể Đấng Cứu Độ và làm cho chúng ta
trở nên chi thể Người, để chúng ta
trở thành Thân Thể của Đấng chúng ta lănh
nhận... Lương thực hằng ngày cũng được
ban trong các bài đọc chúng ta nghe mọi ngày ở
nhà thờ, trong các thánh thi chúng ta nghe và hát. Tất
cả đều cần thiết cho chúng ta trên
đường lữ hành" (T. Âu-tinh).
- "Cha Trên Trời
khuyến khích chúng ta là con cái Nước Trời hăy
xin Bánh Bởi Trời (Ga 6,51). Đức
Ki-tô là tấm bánh : Thiên Chúa gieo
trong ḷng Đức Trinh Nữ, cho
lớn lên trong xác phàm, nhào
nắn trong cuộc Khổ Nạn, nướng
trong mộ đá, cất giữ trong Hội Thánh, dọn
ra trên các bàn thờ, và mọi
ngày cung cấp cho các tín hữu làm lương
thực trường sinh"
(T. Phê-rô Kim Ngôn 71). (GLCG số 2837) CẦU CHÚC MỌI NGƯỜI
THƯỜNG XUYÊN ĐÓN NHẬN CỦA ĂN TINH
THẦN ĐỂ ĐƯỢC SỐNG TRƯỜNG
SINH. Lm. Giuse Hoàng Kim Đại |

|
|
Diễn Đàn Giáo Dân xin quí vị thêm lời cầu nguyện cho Việt Nam: có công lư và hoà b́nh, có dân chủ và tự do, không c̣n bất công và gian dối. |
|