Lời Chúa Hàng Tuần

Ngày 15 tháng 3 năm 2009

Dien Dan Giao Dan 

     Thanh Tẩy Tâm Hồn

   Đọc sách Tin Mừng, rất ít khi ta thấy Đức Giêsu nổi giận.  Ngài b́nh thản đón lấy nụ hôn phản bội của Giuđa.  Ngài lặng lẽ trước những lời cáo gian buộc tội.  Chính Ngài đă mời ta học nơi Ngài bài học hiền lành và khiêm nhượng. Vậy mà trong bài Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay ta lại thấy Đức Giêsu đùng đùng nổi giận:  Ngài dùng roi xua đuổi những người buôn bán bồ câu, chiên ḅ ra khỏi đền thờ.  Ngài c̣n lật nhào bàn ghế của những người trao đổi tiền bạc! (Ga.2:15)

   Khi người ta thắc mắc hỏi Ngài lấy quyền ǵ mà làm như thế, Ngài cho biết "Cứ phá đền thờ này đi, trong ṿng 3 ngày tôi sẽ xây lại" (Ga.2:19).  Qua câu trả lời đó, Đức Giêsu cho biết chính thân xác Ngài là Đền thờ.

   Khi cho ta biết thân xác Người là đền thờ, Đức Giêsu cũng cho ta biết rằng : Thiên chúa muốn ngự trong tâm hồn con người hơn là trong những nhà thờ bằng đá bằng gạch, dù là rất sang trọng đẹp đẽ.  Chúa yêu thương con người.  Niềm vui của Chúa là được ở giữa loài người. Tâm hồn con người chính là một cung thánh ấm áp cho Chúa ngự. Chúa đâu muốn ở trong những ngôi nhà thờ to lớn, đồ sộ, sang trọng, lộng lẫy, nhưng lại lạnh lẽo, chẳng có tiếng đọc kinh cầu nguyện, chẳng có ḷng sốt mến. Chúa yêu thương và Chúa muốn được đáp lại bằng t́nh yêu.  Chúa muốn ở trong đền thờ tâm hồn con người. Tâm hồn con người chính là đền thờ, là cung thánh đẹp đẽ nhất mà Chúa yêu thích ngự đến.  Và như thế, Đức Giêsu là một nhà thờ đẹp đẽ nhất, cao quí nhất, là mẹ của các nhà thờ.

   Khi xua đuổi súc vật ra khỏi đền thờ, Chúa cho ta biết rằng : Lễ vật quí giá không phải do giá trị vật chất nhưng do tấm ḷng.  Cách cho quí hơn của cho. Khi xua đuổi súc vật ra khỏi đền thờ, Đức Giêsu cho biết của lễ Chúa vui nhận không phải là thịt ḅ, thịt dê, nhưng là chính con người của ta, là tâm hồn của ta như lời thánh vịnh : "Máu chiên ḅ, Chúa không ưng, của lễ toàn thiêu Chúa không nhận, th́ này con đến để làm theo ư Cha".  Hiểu điều đó, nên Đức Giêsu dâng ḿnh làm của lễ toàn thiêu thay cho của lễ cũ là chiên ḅ.  Trên thập giá, người trở thành của lễ cao quí, đẹp ḷng Đức Chúa Cha để chuộc tội cho con người.

   Khi xua đuổi những người buôn bán ra khỏi đền thờ, Đức Giêsu cho ta biết : Tâm hồn ta là đền thờ của Chúa, là cung thánh cho Chúa ngự.  Tâm hồn ta là của lễ dâng lên Chúa.  Nhưng để đền thờ xứng đáng cho Chúa ngự.  Để của lễ xứng đáng được Chúa chấp nhận, ta phải thanh tẩy tâm hồn ta:  Thanh tẩy tâm hồn khỏi mọi tính toán mưu mô.  Thanh tẩy tâm hồn khỏi mọi đam mê dục vọng.  Thanh tẩy tâm hồn khỏi mọi giận hờn ghen ghét.  Thanh tẩy tâm hồn khỏi mọi kiêu căng tự măn.  Thanh tẩy tâm hồn khỏi mọi gian dối lọc lừa.  Thanh tẩy tâm hồn khỏi mọi ích kỷ hẹp ḥi. Thanh tẩy tâm hồn khỏi thói tôn thờ tiền bạc, coi trọng tiền bạc hơn Chúa.  Thanh tẩy tâm hồn khỏi thói gian tham, bất công.

   Hăy kính trọng thân xác của ḿnh và của người khác v́ đó cũng là Đền Thờ của Chúa . Hăy tu bổ những Đền Thờ thân xác đă xuống cấp, suy tàn, bị xúc phạm, bị bán rẻ.  Hăy sửa chữa những Đền Thờ thân xác đang bị bào ṃn v́ bệnh tật, v́ đói khát, v́ thương tích.

   Lạy Chúa!  Xin ban ơn giúp sức cho con để con luôn biết cố gắng  nỗ lực thanh tẩy tâm hồn để xứng đáng là Đền Thờ cho Chúa ngự, xứng đáng trở thành của lễ dâng lên Thiên Chúa. Amen

 

      TGM Giuse Ngô Quang Kiệt

 

 

 

     Nhà Cha Là Nhà Cầu Nguyện

   

   Có một người nằm mơ, thấy thiên sứ dẫn ḿnh đến một ngôi nhà thờ trong một ngày Chúa Nhật. Tại đó, ông thấy người nhạc sĩ đang đàn phong cầm nhưng không nghe thấy tiếng nhạc, ca đoàn và cộng đoàn hát nhưng không nghe có âm thanh nào cả. Rồi đến khi linh mục đứng lên giảng, môi mấp máy, nhưng không ra tiếng nói nào cả. Người ấy rất đỗi ngạc nhiên hỏi thiên sứ, th́ thiên sứ nói: "Ông không nghe thấy ǵ, v́ không có ǵ để nghe cả. Những người trong nhà thờ không tham dự vào buổi thờ phượng, mà chỉ dự phần vào h́nh thức thờ phượng mà thôi. Tâm hồn họ trống rỗng. Họ không thờ phượng Chuá từ trong cơi ḷng. Họ chỉ là những chiếc máy vô hồn phát ra. Họ nếu không nói là giả h́nh th́ cũng là những loại người thờ Chuá bằng môi bằng miệng, c̣n ḷng dạ họ đă xa Chuá lâu rồi!

   Đôi khi chúng ta cũng đến với Chúa bằng h́nh thức bên ngoài mà chằng có tâm t́nh bên trong. Đó chính là lối thờ phượng máy móc, vụ h́nh thức của những người đi đạo lâu năm. Họ đọc kinh theo thói quen. Họ hát theo thói quen. Họ nghe giảng theo thói quen. Họ không c̣n ư thức đến hành vi của ḿnh nữa, và cũng không có một cảm xúc hay một tâm t́nh thờ phượng đích thực nào trong những việc làm của ḿnh.

   Hôm nay Chuá Giêsu vào trong Đền Thờ, Ngài đă thấy ǵ trong đó? Người Do Thái đă biến đền thờ thành nơi trao đổi buôn bán. Họ lợi dụng Đền thờ để lợi dụng lẫn nhau. Kẻ buôn bán súc vật và đổi tiền nhằm lợi nhuận. Kẻ mua để dâng cúng trong đền thờ chỉ nhằm mục đích phô trương giả h́nh. Ngay cả các tư tế cũng chủ trương như thế. Họ thu lợi nhuận hoa hồng từ những việc trao đổi buôn bán trên. Họ đă đánh mất sự linh thánh cần thiết của Đền thờ.

   Chính v́ Đền thờ bị lạm dụng., Chuá đă hành động thẳng thắn để thanh tẩy Đền thờ. Chuá đă đ̣i hỏi họ phải trả lại ư nghiă đích thực của Đền thờ. Chuá bảo rằng “đừng biến nhà Cha Ta thành nơi buôn bán”. Ngài đă tẩy chay một lối thờ phượng lệch lạc, không phải là thờ Thiên Chuá, mà là thờ quyền lợi của ḿnh. Đồng thời, khi Chuá Giêsu nói với những kẻ chất vấn Ngài: “Các ông cứ phá hủy Đền thờ này đi, nội trong ba ngày Ta sẽ xây dựng lại”. Ngài cũng ám chỉ đến Đền thờ mới chính là thân thể Ngài. Thân thể Ngài cũng bị phá huỷ bởi sự gian ác của con người, nhưng rồi Ngài sẽ sống lại sau ba ngày trong mồ.

   Ngày hôm nay, người ta vẫn có thể lạm dụng Đển thờ bằng nhiều cách:

   - Có những người đến nhà thờ nhưng lại lo ra chia trí trong ḷng. Đó là những người có xác mà không có hồn. Họ ví tựa như những thây ma trơ trẽn và nguội lạnh. Họ xem lễ chứ không dự lễ, v́ họ không đóng góp tấm ḷng của ḿnh vào việc thờ phượng Chuá.

   - Có những người đi lễ v́ người khác đi ḿnh cũng đi hay chỉ v́ cha mẹ bắt phải đi. Đó là những người thờ phượng giả h́nh. Họ không sống những điều ḿnh tin. Họ lấy “vải thưa che mắt thánh”. Họ chỉ che được mắt thế gian nhưng không che dấu được Thiên Chuá. Họ đến nhà thờ nhưng không gặp được Chuá nên đời sống họ cũng không có ǵ thay đổi.

   - Nhưng điều quan trọng mà hôm nay sứ điệp Lời Chuá muốn nhắn gởi chúng ta, chính là hăy chỉnh đốn lại đền thờ tâm hồn chúng ta. Tâm hồn chúng ta có Chuá ngự trị hay không? Chúng ta đang tôn thờ Thiên Chuá hay tôn thờ những danh lợi thú trần gian?

   Muà Chay là muà mợi gọi chúng ta sám hối và canh tân đời sống. Có thể nói muà chay là muà giúp chúng ta nh́n lại đến thờ tâm hồn của ḿnh để xin ơn Chuá thanh tẩy tâm hồn khỏi những đam mê tội lỗi, những thói hư tật xấu, ngơ hầu xứng đáng là Đền thờ cho Chuá ngự trị.

   Lạy Chuá, tâm hồn con là đền thờ của Chuá, thế mà con đă để tâm hồn ḿnh hoen ố bởi biết bao thói hư tật xấu, biết bao đam mê thấp hèn. Xin Chuá hăy thanh tẩy tâm hồn con khỏi những bợn nhơ tội lỗi, hầu xứng đáng là đền thờ cho Ba Ngôi Thiên Chuá ngự trị. Amen

 

      Jos Tạ Duy Tuyền
 
 

 

 

     Để Có Được Tự Do Đích Thực

 

   Khi nh́n thấy cảnh chợ búa tấp nập ngay trong Đền Thờ, nơi uy nghi và dành riêng để phụng thờ Thiên Chúa, Chúa Giêsu đau xót tận bên trong trái tim của Người, không bởi khung cảnh huyên náo ồn ào bên ngoài, mà bởi cái năo trạng, cái đầu óc tội lỗi của những người mà thánh Phaolô gọi là: “những ngừơi lấy sự bất chính mà giam hăm chân lư” (Rm 1, 18). Chính cái năo trạng khốn khổ “thờ ngẫu tượng” ấy cần phải phá đi, bởi sự cứng đầu không vâng lời Thiên Chúa, không để Lời Chúa giáo dục họ đi theo Thập Giới đă được ghi chép lại trong sách Xuất Hành (Xh 20, 1-17). Chính cái tâm hồn “ḷng chai dạ đá” ấy cần phải tẩy uế để thay vào đó là một trái tim bằng thịt biết yêu mến, biết thờ phượng Thiên Chúa đích thực trong Thần Khí và  Sự Thật.

   Từ Đền Thờ bên ngoài, Chúa Giêsu muốn dẫn mọi người đến chiều sâu nội tâm chính là Đền Thờ tâm hồn con ngừơi c̣n chứa chất những ngẫu tượng: “dâm ô, ô uế, phóng đăng, thờ quấy, phù phép, hận thù, bất ḥa, ghen tương, nóng giận, tranh chấp chia rẽ, bè phái, ganh tỵ, say sưa, chè chén và những  điều khác giống như vậy” (Gl 5, 19-21).

   Cuộc nhảy múa quanh con ḅ vàng vẫn c̣n là tội thờ ngẫu tượng thời nay. Đây không phải là một sự kiện chóng qua, nhưng c̣n là một cái ǵ thật sâu xa trong cảnh mà xă hội hiện nay nhất định khẳng định: “Anh sở hữu cái ǵ th́ anh là cái đó.” Đây là cách nói lên sự tha hóa trầm trọng của con người: hiện hữu lệ thuộc vào sở hữu. Con người được coi là thành đạt khi tích lũy được nhiều tiền bạc của cải.

   Đó cũng chính là cách sống mà trong Tin Mừng hôm nay Chúa Giêsu đă mạnh mẽ lên án: “Đem tất cả những thứ này ra khỏi đây, đừng biến nhà Cha tôi thành nơi buôn bán” (Ga 2, 16), bởi như thánh Phaolô đă xác tín: “V́ chúng ta là đền thờ của Thiên Chúa hằng sống” (2Cr 6, 16). Do đó, thánh Tông Đồ Dân Ngoại đă tha thiết kêu mời: “Anh em thân mến, v́ nắm được những lời hứa ấy, nên chúng ta hăy tẩy rửa hồn xác cho sạch mọi vết nhơ, và đem ḷng kinh sợ Thiên Chúa mà lo đạt tới mức thánh thiện ḥan toàn” (2Cr 7, 1)

   Quả thật, trong thực tại trần gian này, con người vẫn luôn khao khát thứ nước không thể thỏa măn cơn khát của ḿnh, mà càng uống càng khát, v́ dục vọng của con người th́ không bao giờ cạn kiệt. Và một khi dấn sâu vào cơn khát trần gian đó, con người tạo ra cho ḿnh một sự thỏa măn giả tạo về tinh thần, những tưởng hạnh phúc và b́nh an sẽ có được thông qua vật chất, đam mê, danh vọng. Nhưng quả thực, tận sâu trong sâu thẳm của tâm hồn, con người vẫn cảm thấy một sự trống rỗng không thể lấp đầy, bởi khát vọng này sẽ c̣n nảy sinh ra biết bao những hậu quả từ khát vọng ấy.

   Từ đây, khi nh́n vào cuộc sống hiện thực, tôi mới cảm nếm những ǵ mà thánh Augustinô đă suy tư, chiêm niệm sau khi đă trải qua một đời sống phóng túng lăn lội, bám đuổi theo những danh và dục vọng. Chính kinh nghiệm sống với “nước này sẽ khát” mà ngài đă thốt vang lên: “Thiên Chúa đă tạo dựng nên các cái đẹp của trần gian. Thế mà con đă say mê chạy theo các vẻ đẹp của thọ tạo mà quên bỏ Đấng đă tạo dựng nên chúng”.

   Và rồi, Ngài để lại một câu vô cùng sâu sắc đă thành châm ngôn sống động cho ngàn đời sau. Ngài đă thấu hiểu tận sâu lời Đức Giêsu nói với người phụ nữ Samari về “nước đem lại sự sống đời đời”, cũng như thấm nhuần lời mời gọi tẩy uế Đền Thờ cũ để thay vào Đền Thờ mới chính là tin vào Đức Giêsu Kitô. Thánh nhân đă tâm t́nh với Đấng đă tạo dựng nên Ngài: “Thiên Chúa đă tạo dựng chúng con cho Ngài, cho nên ḷng chúng con không thể t́m được an nghỉ nơi nào, cho đến khi được an nghỉ nơi Chúa”.

   Như vậy, khi Thiên Chúa không được thờ phượng trên hết và trứơc hết, con người sẽ trở thành nô lệ. Chỉ khi nào con người yêu mến và phụng sự Thiên Chúa hết ḷng, hết trí khôn, con người mới có được tự do đích thực.

   Trong sứ điệp cho Ngày Trẻ Thế Giới lần thứ 24 cấp Giáo Phận, ĐTC Biển Đức XVI đă nhắn nhủ giới trẻ rằng:

   “Kinh nghiệm cho thấy rằng những tài năng cá nhân và của cải vật chất không đủ để đảm bảo niềm hy vọng mà tinh thần con người luôn luôn t́m kiếm. Như cha đă viết trong Thông Điệp Spe Salvi, chính trị, khoa học, kỹ thuật, kinh tế và tất cả những tài nguyên vật chất tự chúng không đủ để đem lại niềm hy vọng lớn lao mà tất cả chúng ta mong ước. Niềm hy vọng này “chỉ có thể là Thiên Chúa, Đấng bao gồm toàn thể thực tại và có thể ban cho chúng ta điều mà chính chúng ta không thể đạt được” (số 31). Đó là lư do tại sao hậu quả chính của việc bác bỏ Thiên Chúa là sự mất định hướng một cách rơ ràng đánh dấu xă hội của chúng ta, đưa đến cô đơn và bạo động, bất măn và mất tự tin, thường đưa đến tuyệt vọng. Lời Chúa đưa ra một cảnh cáo lớn và rơ ràng: “Đáng nguyền rủa thay kẻ tin ở người đời, lấy sức phàm nhân làm nơi nương tựa, và ḷng dạ xa rời ĐỨC CHÚA! Người đó sẽ như bụi cây trong hoang địa, chẳng được thấy hạnh phúc bao giờ” (Gr 17:5-6)”.

   Với tâm t́nh “để có được tự do đích thực” trong Mùa Chay Thánh này, tôi khao khát được sống như lời mời gọi tha thiết của ĐTC:

   “Hăy để cho Đức Kitô ngự trong các bạn, và một khi đă đặt tất cả đức tin và ḷng tín thác vào Người. Hăy truyền bá niềm hy vọng này chung quanh các bạn. Hăy có những chọn lựa chứng tỏ đức tin của các bạn. Hăy cho người ta thấy rằng các bạn hiểu nguy cơ của việc thần tượng hóa tiền bạc, của cải vật chất, nghề nghiệp và thành công, và đừng để cho ḿnh bị lôi cuốn bởi những ảo ảnh này. Đừng đầu hàng những lư lẽ căn bản của những tư lợi ích kỷ. Hăy vun trồng t́nh yêu tha nhân và cố gắng đặt ḿnh và những tài năng cùng khả năng nghề nghiệp của ḿnh vào việc phục vụ công ích và chân lư, hăy luôn luôn sẵn sàng “trả lời cho bất cứ người nào hỏi các bạn về lư do của niềm hy vọng nơi các bạn” (1 Phr 3:15). Các Kitô hữu chân chính không bao giờ buồn, ngay cả khi phải đối diện với nhiều loại thử thách khác nhau, bởi v́ sự hiện diện của Chúa Giêsu là bí quyết của niềm vui và sự b́nh an của họ.”  

 

     Phêrô Vũ Văn Quí CVK64      Email: peterquivu@gmail.com  

 

 

         Đền Thờ Thiên Chúa

 

  Vương Cung Thánh Đường Thánh Phêrô tại Rôma

 

   Đền Thờ Giêrusalem hùng vĩ đă được xây cất thời vua Salomon từ năm 967-964 trước Chúa Giáng Sinh (BC) trong thành Giêrusalem Cổ, trên đồi Moriah (nơi được coi như Abraham đem  con trai duy nhất là Isaac đến hiến tế cho Thiên Chúa theo lệnh Chúa truyền (Sáng Thế 22, 1-18). Đền thờ này bị người Babylon thời vua Nabuchodonosor II phá hủy vào năm 586 (BC), khi họ đến chiếm đóng Giêrusalem và bắt người Do Thái đi lưu đày ở Babylon. Đến năm 536 (BC), người Do Thái được hồi hương; sau đó, họ lại tái thiết Đền Thờ hùng vĩ như trước. Đến năm 19 (BC), Hêrôđê Đại Đế cho xây cất lại hùng vĩ hơn. Đến năm 70 sau Chúa Giáng Sinh, khi người Do Thái vùng lên chống lại sự cai trị của người Rôma, Đại Tướng Titus đă dẫn đoàn quân Rôma đến dẹp tan cuộc vùng dậy, phá hủy hoàn toàn Đền Thờ Giêrusalem (đúng như Chúa Giêsu đă nói trước vào khoảng năm 30: “Sẽ không c̣n ḥn đá nào trên ḥn đá nào…” (Mt. 24, 2; Mc. 13,2; Lc. 21,6), và bắt tất cả người Do Thái đi lưu đày khắp nơi trong Đế Quốc Rôma, và từ đó dân Do Thái lại phải rời bỏ quê hương. Sau gần 2 ngàn năm mất nước, người Do Thái lại t́m cách trở về và khôi phục lại quê hương là nước Israel ngày nay từ năm 1948.

   Đền Thờ Giêrusalem luôn luôn là trung tâm thờ phượng của người Do Thái. Vào dịp Đại lễ, người Do Thái ở các nơi trở về thờ phượng Chúa tại Đền Thờ Giêrusalem thường phải đổi tiền và mua các con vật như chiên, ḅ, bồ câu để dâng làm lễ vật theo nghi thức Do Thái Giáo thời đó. V́ thế, người ta lợi dụng dịp này , biến Đền Thờ thành chỗ buôn bán, đổi chác để kiếm lời.

   Trong bài Phúc Âm Thánh lễ hôm nay (Gioan 2, 13-25), Chúa Giêsu đă phải tỏ thái độ mạnh mẽ để t́m cách thanh tẩy Đền Thờ cho xứng đáng nơi thờ phượng: “Mang tất cả những thứ này đi nơi khác! Đừng biến nhà Cha Ta thành nơi buôn bán!” Trước phản ứng của người Do Thái, Chúa Giêsu cũng dùng dịp này để nói về việc chính Chúa Giêsu sẽ bị họ giết đi, nhưng sau 3 ngày, Ngài sẽ sống lại.

   Đền Thánh Giêrusalem đă bị phá hủy hoàn toàn để chấm dứt thời gian Cựu Ước và bước sang thời Tân Ước, và việc thờ phượng Thiên Chúa không phải chỉ lệ thuộc vào ‘Đền Thờ’, nhưng quan trọng là thờ phượng Chúa trong ‘tinh thần và chân lư’ (Gioan 4,23-24), bằng tâm hồn và lương tâm ngay thẳng của chúng ta do việc giữ đầy đủ các giới răn của Chúa đă được ghi rơ trong sách Xuất Hành (Bài Đọc I: Xh. 20, 1-17): Chu toàn các bổn phận thờ phượng Chúa, phụng dưỡng cha mẹ già yếu, thương yêu nhau, giúp đỡ những người nghèo khó, bệnh tật, giữ phép công bằng và xa tránh các tội lỗi theo ham muốn xác thịt. Đó cũng là điều chúng ta đều phải suy nghĩ nhiều trong Mùa Chay Thánh để sửa đổi các lầm lỗi trong quá khứ và canh tân cuộc sống.

   Vào Thánh Đường nào chúng ta cũng nh́n thấy Thánh Giá là ảnh tượng chính, để nhắc nhở chúng ta về những hy sinh đau khổ Chúa Giêsu đă phải chịu để đền thay tội lỗi chúng ta, để chúng ta thấy rơ hậu quả của tội lỗi mà chừa bỏ và xa lánh dịp tội. V́ thế, Thánh Phaolô trong Bài Đọc II (1 Corinto 1, 22-25) nhấn mạnh: Ngài không rao giảng sự khôn ngoan thế gian, nhưng rao giảng Chúa Giêsu chịu đóng đinh trên Thánh Giá, dù có những kẻ cho là điên rồ.

   Chúa Nhật hôm nay cũng nhắc nhở chúng ta phải nhắc bảo nhau, cha mẹ có bổn phận phải nhắc nhở con cái phải giữ thái độ xứng đáng khi đến các nơi Thờ Phượng, đặc biệt vào các Thánh lễ cuối tuần. Ăn mặc nghiêm trang, kín đáo, nhất là các người có nhiệm vụ lên đọc Sách Thánh, và các Thừa Tác Viên Thánh Thể… Tất cả mọi người khi vào Thánh Đường phải giữ cử chỉ cung kính, nhất là khi lên Rước Lễ, rước Chúa Trời Đất cao cả, thánh thiện vào ḷng chúng ta. Nói chung, Thánh Đường là nơi thờ phượng chứ không phải nơi để tṛ chuyện, không phải nơi để khoe tài, khoe sắc, khoe quần, khoe áo!

   Thánh Đường giáo xứ cũng là trung tâm thờ phượng của mỗi giáo xứ. Bổn phận mọi giáo hữu chúng ta là chung tay xây dựng và ǵn giữ Thánh Đường luôn xứng đáng là nơi thờ phượng Thiên Chúa là Cha chúng ta, là trung tâm tinh thần của giáo xứ, là gia đ́nh thiêng liêng của chúng ta. Hơn nữa, khi đến Thánh Đường, chúng ta cùng dâng lễ thờ phượng Chúa chung với cả Cộng Đoàn Đức Tin, chứ không phải chỉ là việc cá nhân hay riêng cho mỗi gia đ́nh. Chúng ta cùng đọc kinh, cùng hát thánh ca, cùng hiệp nhất với nhau trong việc thờ phượng Chúa trong một gia đ́nh Giáo xứ đầm ấm.

   Sau hết, tâm hồn mỗi tín hữu cũng là một Đền Thờ, nơi Ba Ngôi thiên Chúa ngự trị. Luôn luôn chúng ta phải thanh tẩy Đền Thờ tâm hồn chúng ta để xứng đáng là Đền Thờ Thiên Chúa, qua việc giữ ḿnh sạch tội: xét ḿnh, ăn năn sám hối lỗi lầm, chừa bỏ tội lỗi hàng ngày; đặc biệt qua việc lănh nhận Bí tích Ḥa Giải. Xin Chúa thương thanh tẩy, thánh hóa chúng ta trong Mùa Chay Thánh  này.

 

     Lm Anphong Trần Đức Phương

 

 

 

     Chúa Nhật 3 Mùa Chay

   

"Chúa Nhật về sự thánh thiện của Thiên Chúa"  Xh 20: 1-17

   Bản văn Xuất Hành tŕnh bày mười giới luật hay Thập Giới. Việc thờ phượng Thiên Chúa chân thật và tôn kính Danh Thánh của Ngài được định vị ở hàng đầu tiên của Thập Giới. Ga 2: 13-25

   Tin Mừng Gio-an tường thuật hoạt cảnh Đức Giê-su đuổi những người buôn bán ra khỏi Đền Thờ, bởi v́ họ làm ô danh nơi Thiên Chúa ngự giữa dân Ngài. 1Cr 1: 22-25

   Ở giữa bài đọc I và bài Tin Mừng, bài đọc thứ hai được trích từ thư thứ nhất của thánh Phao-lô gởi cho các tín hữu Cô-rin-tô chiếm một chỗ đặc biệt cho biến cố Tử Nạn sắp đến gần: Đấng Mê-si-a bị đóng đinh là h́nh ảnh không thể chấp nhận được đối với người Do thái và điên rồ đối với dân ngoại, nhưng đó lại là sự khôn ngoan khôn ḍ của Thiên Chúa.

 

     BÀI ĐỌC I (Xh 20: 1-17)

   Sách Xuất hành là cuốn sách thứ hai trong bộ Ngũ Thư. Sách tường thuật cuộc xuất hành ra khỏi Ai-cập và thời kỳ đầu tiên dân Do thái hành tŕnh trong sa mạc. Biến cố được định vị có lẽ vào thế kỷ thứ mười ba trước Công Nguyên (giữa 1250 và 1230).

   Ông Mô-sê không chỉ thi hành sứ vụ giải phóng dân Do thái ra khỏi cảnh đời nô lệ ở Ai-cập, nhưng sau khi đă quy tụ dân Thiên Chúa trong sa mạc, ông cho họ Lề Luật.

   Thập Giới chỉ là một phần rất nhỏ của Luật Mô-sê, nhưng phải nói nó là cơ sở của Luật Mô-sê. Có hai bản văn Thập Giới: bản văn của sách Xuất Hành (Xh 20: 1-17) và bản văn của sách Đệ Nhị Luật (Đnl 5: 6-21) với vài dị biệt. Hai bản văn nầy đều cho thấy chúng không c̣n nguyên bản nhưng được khai triển rồi; vài chi tiết rơ ràng ngỏ lời với dân chúng không c̣n hành tŕnh trong sa mạc nhưng đă định cư lập nghiệp rồi. H́nh thức nguyên thủy của Thập Giới chắc chắn th́ ngắn gọn hơn.

 

   1. Tính chất lâu đời:

   Tính chất lâu đời của Thập Giới là chắc chắn; nó đă được ghi khắc trên hai bia đá, đây là nét đặc trưng của tính chất cổ xưa. Mặt khác, cách tŕnh bày của nó nhắc nhớ vài hiệp ước được soạn thảo ở miền Cận Đông, giữa những thế kỷ thứ mười lăm và mười ba trước Công Nguyên, nhất là những hiệp ước được kư kết giữa các vua Hít-ti và các vua Sy-ri hay giữa vua Hít-ti và Pha-ra-ô Ai-cập. Vị bá vương đề nghị giao ước của ḿnh trước tiên nhắc nhở những ân phúc mà vua đă ban cho chư hầu của ḿnh. Cũng vậy, Đức Chúa nhắc nhở cho dân Do thái rằng Ngài đă can thiệp để giải phóng họ khỏi vùng đất nô lệ, và Ngài ngỏ lời với họ như với những con người tự do, nhưng bù lại, Ngài đặt ra những yêu sách của ḿnh.

 

   2. Ngoại cảnh:

   Khung cảnh là núi thánh Xi-nai. Ở viện bảo tàng Louvre, có một tấm bia đá trên đó ghi khắc Bộ Luật Ba-by-lon của vua Hammourabi, vào thế kỷ thứ mười tám trước Công Nguyên. Ở đỉnh của tấm bia đá nầy như ở đỉnh của một ngọn núi, biểu thị thần Shamash và vua Hammourabi. Vua nầy nhận được danh xưng: "Vua Công Chính mà thần Shamash đă ban luật".

   Làm thế nào không liên tưởng đến vua Minos, vào cũng một thời kỳ, suốt chín năm vua leo lên ngọn núi thánh Crète để suy niệm và cầu nguyện; sau đó vua nổ lực làm cho sự công chính ngự trị trong vương quốc của ḿnh.

   Thế giới của thiên niên kỷ thứ hai trước Công Nguyên có những truyền thống chung và sử dụng những h́nh ảnh tôn giáo tương tự nhau.

 

   3. Nội dung của Thập Giới:

   Thập Giới dâng hiến một tổng đề của những bổn phận tôn giáo và luân lư. Vả lại, con số mười đánh dấu sự viên măn.

   Tám trong số mười giới luật được phát biểu theo h́nh thức phủ định để diễn tả lệnh cấm: "Ngươi không được…" Hai theo h́nh thức khẳng định để diễn tả lệnh truyền: tuân giữ ngày sa-bát và giữ trọn đạo hiếu với cha mẹ.

   H́nh thức phủ định nhắc nhớ h́nh thức mà chúng ta gặp thấy trong sách của Ai-cập với nhan đề "Những người đă qua đời". Người qua đời tự bào chữa ḿnh trước ṭa án của thần Orisis, thần của những người chết:

      Tôi đă không ăn cắp…

      Tôi đă không giết người…

      Tôi đă không nói láo…

      Tôi đă không ngoại t́nh…

      Tôi đă không làm chứng gian…

      Tôi đă không khinh thường Thiên Chúa trong ḷng…

   Luân lư của người Ai-cập gần luân lư kinh thánh hơn luân lư của người Ca-na-an và của những dân tộc khác miền Cận Đông hay luân lư của người Hy-lạp.

   Thập giới được phân chia thành những giới luật nhắc nhở những bổn phận đối với Thiên Chúa và những bổn phận đối với người thân cận.

 

   3.1- Bổn phận đối với Thiên Chúa:

   Những bổn phận đối với Thiên Chúa cốt yếu là những cảnh giác được ngỏ lời với dân Do thái khi định cư ở giữa dân ngoại. Không được tạc tượng vẽ h́nh các ngẫu tượng; không được phủ phục tôn thờ những thứ đó; phụng thờ Thiên Chúa độc nhất. "Đức Chúa, Thiên Chúa ghen tuông" là cách diễn tả tính không nhân nhượng của Ngài. Đoạn văn nầy chứa đựng một ghi nhận hùng hồn bằng số: những kẻ ghét Ngài, Ngài phạt con cháu đến ba bốn đời, nhưng những ai yêu mến Ngài, Ngài giữ trọn niềm nhân nghĩa đến cả ngàn đời. Cách nói song đối nghịch đảo nầy diễn tả ḷng xót thương nhân hậu vô cùng tận của Thiên Chúa: Ngài trừng phạt trong một thời hạn, nhưng tấm ḷng thương yêu của Ngài th́ vô bờ bến.

   Tuy nhiên, trong Thập Giới chúng ta không gặp thấy lệnh truyền: "Hăy yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, hết ḷng hết dạ, hết sức anh em". Cách thức phát biểu nầy muộn thời hơn xuất hiện trong sách Đệ Nhị Luật (6: 5, thế kỷ thứ bảy trước Công Nguyên) và chịu ảnh hưởng của các ngôn sứ, A-mốt và nhất là Hô-sê (thế kỷ thứ tám trước Công Nguyên).

   Giới luật sau cùng đối với Thiên Chúa liên quan đến định chế ngày sa-bát; đây là lệnh truyền duy nhất của nhóm nầy: "Ngươi hăy nhớ ngày sa-bát…". Lệnh truyền nầy nhằm nhấn mạnh nét đặc thù của dân Ít-ra-en: mọi ngày sống trong một tuần phải hướng đến ngày sa-bát, ngày của Chúa, Đấng đem lại ư nghĩa cho cuộc sống.

 

   3.2- Bổn phận đối với đồng loại:

   Những bổn phận đối với tha nhân trở về với luân lư phổ quát; chúng có giá trị luôn măi và khắp nơi. Nhưng ở đây điều cốt yếu là: tôn trọng gia đ́nh, con người và của cải. Tuy nhiên, chúng ta lưu ư rằng những ư định ẩn kín ở trong ḷng được gợi lên ở đây: "Ngươi không được ham muốn…" Căn nguyên tội lỗi ở trong tâm trí con người. Khẳng định nầy chuẩn bị giáo huấn của các ngôn sứ và của chính Đức Giê-su.

   Cuối cùng, chúng ta ghi nhận rằng huấn lệnh "Ngươi phải yêu đồng loại như chính ḿnh" cũng không được gặp thấy ở Thập Giới. Lệnh truyền nầy được gặp thấy ở sách Lê-vi (19: 18), thuộc công tŕnh biên soạn sau nầy.

 

   4. Nét độc đáo của Thập Giới:

   Tuy nhiên, Thập Giới bày tỏ nét độc đáo của riêng ḿnh. Chắc chắn nó dựa trên luân lư tự nhiên, nhưng nguồn gốc của nó th́ siêu việt. Thập Giới chủ yếu lấy sự thánh thiện của Thiên Chúa làm gương. Luân lư của Thập Giới trổi vượt trên luân lư của dân ngoại chung quanh, nhất là ở nơi lời kêu gọi phong tục tập quán tinh tuyền và tấm ḷng ngay thẳng chính trực. Tính siêu việt nầy sẽ đảm bảo sự thăng tiến tinh thần của một dân tộc nhở bé có vận mệnh đặc biệt.

   Thập Giới được đặt ở dưới dấu chỉ lịch sử của cuộc giải phóng khỏi Ai-cập. Chúng ta hăy đọc lại lời mào đầu: Đức Chúa không phán như thường lệ: "Ta là Thiên Chúa của cha ông ngươi: Thiên Chúa của Áp-ra-ham, của I-sa-ác và của Gia-cóp", nhưng "Ta là Đức Chúa, Chúa của ngươi, đă đưa ngươi ra khỏi Ai-cập, khỏi cảnh nô lệ". Đức Chúa tự giới thiệu ḿnh như Đấng giải phóng. Chính khỏi ách nô lệ khác mà giờ đây Ngài muốn giải phóng dân Ngài: ách nô lệ của tội lỗi, để làm cho họ thành một dân thánh.

 

      BÀI ĐỌC II (1Cr 1: 22-25)

   Chúng ta gặp lại thư thứ nhất của thánh Phao-lô gởi cho Giáo Đoàn Cô-rin-tô mà chúng ta đă nghiên cứu nhiều đoạn văn trong suốt những Chúa Nhật thường niên.

   Đoạn trích ngắn mà chúng ta đọc hôm nay được cấu trúc rất chặc chẽ. Một cách nào đó, đoạn trích dẫn nầy tự nó là đủ; tuy nhiên, chúng ta hiểu rơ hơn chiều kích của nó trong ánh sáng của văn mạch.

   Xin được nhắc lại một cách ngắn gọn: những bất ḥa đă xảy ra giữa các tín hữu Cô-rin-tô đối với các vị rao giảng của họ. Những bất ḥa này đă dẫn đến những bè phái. Chống lại những chia rẽ nầy, thánh Phao-lô lên tiếng để chỉ cho họ thấy rằng óc bè phái chia rẻ không xứng hợp với tinh thần Tin Mừng. Đối với những người "lư sự" tự cho ḿnh là "khôn ngoan hiểu biết", thánh Phao-lô nhắc nhở rằng ngài đă không rao giảng cho họ bằng những lời lẽ khôn khéo, nhưng sự điên rồ của thập giá; thánh nhân đề cập đến người Do thái đ̣i hỏi những điềm thiêng dấu lạ và người Hy-lạp t́m kiếm sự khôn ngoan. Hai tinh thần rất khác nhau, nhưng h́nh ảnh thập giá trên đồi Can-vê không thể nào chen chân vào trong những viễn cảnh của họ. Trong hoạt động truyền giáo của ḿnh, thánh nhân đă gặp phải cả hai chướng ngại nầy.

 

   1. Thập giá đối với người Do thái:

   Người Do thái mong chờ một Đấng Mê-si-a, Đấng chứng thực tính chính thống sứ mạng của ḿnh bằng những điềm thiêng dấu lạ, Đấng Mê-si-a dũng mạnh và chiến thắng. V́ thế, nhiều người Do thái đă không chịu nổi ư tưởng theo đó Đấng Mê-si-a đă có thể chịu khổ h́nh nhục nhả của thập giá. Ở An-ti-ô-ki-a, ở Thê-xa-lô-ni-ca và ở những nơi khác, thánh nhân đă bị họ bách hại.

 

   2. Thập giá đối với người Hy-lạp:

   Đối với người Hy-lạp t́m kiếm sự khôn ngoan, thánh nhân đă chạm trán với họ ở A-thê-na; ngài đă ra sức thuyết phục họ, nhưng vô ích. Họ chờ đợi một hệ thống triết lư trong khi thánh Phao-lô rao giảng cho họ "Một Con Người". Đoạn trích của bức thư nầy tự nó cho thấy rằng việc rao giảng thập giá không thể nào tránh khỏi sự thất bại. Đối với người Hy-lạp, phẩm tính đầu tiên của thần linh chính là vẻ đẹp; dung mạo không c̣n h́nh tượng người của Đấng chịu đóng đinh không tương xứng với h́nh ảnh của vị thần linh.

 

   3. Rao giảng một Đức Ki tô bị đóng đinh:

   Nhưng thập giá không là một bài thuyết giáo; Thập Giá cũng không là một sự chứng minh; chính là một sự kiện, một sự kiện khác thường, phía sau sự kiện đó, ẩn dấu sự khôn ngoan khôn ḍ của Thiên Chúa, hoàn toàn khác với những viễn cảnh của con người.

   Một trong những bài học lớn của bức thư gởi cho Giáo Đoàn Cô-rin-tô nầy đó là "rao giảng mầu nhiệm đau khổ như yếu tố cốt yếu của Tin Mừng". Một cách khái quát, thần học của thánh Phao-lô không tách biệt Tử Nạn ra khỏi Phục Sinh. Đây là một trường hợp ngoại lệ, thánh nhân chủ ư giương cao "h́nh ảnh duy nhất của Đức Ki tô bị đóng đinh" đối diện với sự tự măn của con người.

 

      TIN MỪNG (Ga 2: 13-25)

   Đoạn Tin Mừng hôm nay được trích từ Tin Mừng Gio-an. Hoạt cảnh khác thường. Đức Giê-su phẩn nộ, không nói một lời, "Ngài bèn lấy dây làm roi mà xua đuổi tất cả bọn họ cùng với chiên ḅ ra khỏi đền thờ, c̣n tiền của những người đổi bạc, Ngài đổ tung ra, và lật nhào bàn ghế của họ". Với những kẻ bán bồ câu – của lễ của những người nghèo – Ngài không mở tung các lồng chim của họ, nhưng cho họ một lời giải thích: "Đừng biến nhà Cha tôi thành nơi chợ búa".

   V́ thế, phải chăng Đức Giê-su muốn chấn chỉnh tôn giáo Ít-ra-en và thanh tẩy Đền Thờ mà chẳng bao lâu sau bị phá hủy? Không phải như thế, trái lại, Ngài muốn nói rằng một thời đại mới đang khởi sự; cách hành xử của Ngài cốt yếu mang tính ngôn sứ.

   Để hiểu trọn vẹn ư nghĩa của hoạt cảnh quá đặc biệt nầy, phải định vị nó trước hết vào trong khung cảnh bên ngoài của nó, đoạn vào trong khung cảnh tôn giáo của nó: lễ Vượt Qua, và sau cùng, vào trong văn mạch của Tin Mừng thứ tư.

 

   1. Khung cảnh bên ngoài:

   Đền Thờ Giê-ru-sa-lem được xây dựng trên một tiền sảnh bát ngát (vua Hê-rô-đê Cả đă tăng gấp đôi tiền sảnh) được những hàng hiên bao quanh. Khi người ta đă băng qua hàng hiên, người ta ở trên tiền đ́nh được gọi "Tiền Đ́nh dân ngoại", v́ lương dân nào ước muốn cầu nguyện với Thiên Chúa của dân Do thái đều có quyền đi vào ở đây. Tiếp đó, là nơi thánh, chỉ dành riêng cho người Do thái, được phân chia thành nhiều khu vực khác nhau: khu vực nữ giới, khu vực nam giới, và sau cùng sân của các tư tế.

   Chính trong Tiền Đ́nh dân ngoại nầy mà những kẻ bán súc vật dành riêng cho các hy lễ. Công việc buôn bán của họ rất thịnh đạt. Người ta có nhiều lư do để nghĩ rằng các chức sắc tư tế đă kiếm nhiều lợi nhuận ở đây.

   Những người đổi bạc cũng ở trên tiền đ́nh nầy, v́ người Do thái không thể nào nộp thuế cho Đền Thờ bằng những đồng tiền "ô uế" được đúc h́nh của hoàng đế Rô-ma hay của vị thần linh ngoại quốc. Những kẻ đổi bạc đổi hiện kim sang "tiền đền thánh" với lệ phí một phần trăm, một lệ phí phải nói là khá cao.

 

   2. Khung cảnh lễ Vượt Qua:

   Thánh kư nói với chúng ta "gần đến lễ Vượt Qua của người Do thái". Chúng ta ghi nhận diễn ngữ nầy, v́ nó hàm ư rằng vào thời thánh Gio-an và từ nhiều năm rồi có một lễ Vượt Qua khác: lễ Vượt Qua Ki tô giáo.

   Niên biểu của lễ Vượt Qua của người Do thái được chính bản văn cung cấp: "Đền Thờ nầy phải mất bốn mươi sáu năm mới xây xong". Đền Thờ được vua Hê-rô-đê Cả khởi công tái thiết vào năm 19 trước Công Nguyên, v́ thế đây là lễ Vượt Qua của năm 28 sau Công Nguyên.

   Khung cảnh lễ Vượt Qua nầy đem lại ư nghĩa sâu xa cho hoạt cảnh. Đức Giê-su đuổi những người buôn bán ra khỏi Đền Thờ, v́ đây là nơi dành riêng để cầu nguyện, nhưng Ngài cũng c̣n đuổi những súc vật dành riêng cho các hy lễ, v́ chính Ngài sẽ là "con chiên bị sát tế", con chiên Vượt Qua đích thật, hy lễ có giá trị duy nhất từ nay sẽ thay thế tất cả hy lễ vô giá trị khác (chúng ta quen lối đọc đa nghĩa nầy của Tin Mừng Gio-an).

   Đức Giê-su đuổi những người đổi bạc v́ công việc làm ăn của họ bất lương không xứng hợp với khung cảnh thánh thiêng, nhưng cũng v́ những tiền dâng cúng chẳng bao lâu không c̣n lư do tồn tại nữa: sẽ không c̣n Đền Thờ, không c̣n giáo sĩ …

   Sau cùng, Đức Giê-su thanh tẩy Tiền Đ́nh lương dân v́ lương dân có quyền đ̣i hỏi tôn trọng những lời cầu nguyện của họ, v́ họ không c̣n phải bị loại trừ ra ngoài: chính họ cũng sẽ được gọi vào ơn cứu độ như dân Ít-ra-en.

 

   3. Văn mạch của Tin Mừng Gio-an:

   Thánh Gio-an đặt việc Đức Giê-su lên Giê-ru-sa-lem dự lễ Vượt Qua vào lúc bắt đầu sứ vụ của Ngài, sau tiệc cưới Ca-na và sau vài ngày lưu lại ở Ca-phác-na-um. Ba Tin Mừng nhất lăm kể việc Đức Giê-su lên Giê-ru-sa-lem vào lúc Ngài sắp bước vào tuần Tử Nạn và xem biến cố nầy như đổ thêm dầu vào lửa khiến giáo quyền Do thái công phẩn đến cực độ. Đây là một trong những lư do ra lệnh truy nả Đức Giê-su.

   Tin Mừng thứ tư có một quan điểm khác. Thánh kư muốn dẫn đưa chúng ta tiến bước vào trong mầu nhiệm của Đức Ki tô. Đức Giê-su mà Gio-an Tẩy giả đă giới thiệu "Đây là Con Cjieen Thiên Chúa, Đấng xóa tội trần gian" (Ga 1: 29). Ở Giê-ru-sa-lem, Ngài hành xử như "Con Thiên Chúa", Ngài cho thấy trước những mối liên hệ rất đặc biệt với Cha Ngài.

   Ở Ca-na, Đức Giê-su đă cho "rượu mới", báo trước rượu sẽ trở thành máu Ngài. Ở Giê-ru-sa-lem, Ngài loan báo "đền thờ mới" sẽ là thân thể của Ngài; Ngài ám chỉ đến cuộc Tử Nạn và Phục Sinh của Ngài: "Các ông cứ phá hủy đền thờ nầy đi, nội ba ngày tôi sẽ xây dựng lại". Sau nầy, những kẻ tố cáo Ngài xuyên tạc lời của Ngài: "Tên này đă nói: tôi có thể phá hủy Đền Thờ Thiên Chúa…" (Mt 26: 61). Chi tiết nầy có giá trị của nó. Để chỉ Đền Thờ Giê-ru-sa-lem, thánh Gio-an dùng từ Hy lạp "Hieron" có nghĩa "không gian thánh", nhưng để nói về đền thờ sẽ là thân thể của Ngài, thánh kư sử dụng từ "naos" diễn tả chính xác hơn nơi cực thánh của Đền Thờ.

   Mặt khác, cái nền của Tin Mừng thứ tư là một phiên ṭa ở đó những người xử án Đức Giê-su mà thánh Gio-an gọi "người Do thái" với nét nghĩa xấu (cốt yếu các chức sắc tư tế và các tiến sĩ Luật). Hoạt cảnh Đức Giê-su đuổi những người buôn bán ra khỏi Đền Thờ cấu thành một phách mạnh của phiên ṭa nầy. Những người tham dự vào hoạt cảnh chắc chắn đă nghĩ rằng các ngôn sứ đă công bố: "Thanh tẩy Đền Thờ sẽ đánh dấu khai mạc thời đại Mê-si-a". Phải chăng Đức Giê-su là Đấng Mê-si-a? Ngài phải cung cấp bằng chứng chứ!

   Đoạn, thánh Gio-an ghi nhận rằng có nhiều người đến với Ngài v́ các dấu lạ Ngài làm chứ không v́ một đức tin vững chắc vào Ngài. Và thánh kư kết thúc: Đức Giê-su "biết có ǵ trong ḷng con người", như vậy, Đức Giê-su cảm thấy trước họ sẽ quay lưng lại với Ngài trong tương lai.

   Như vậy, trong Tin Mừng Gio-an, hoạt cảnh nầy có giá trị mặc khải: mặc khải về con người Đức Giê-su là Con Thiên Chúa, loan báo những đảo lộn mà Ngài sẽ thực hiện cũng như sự thiếu hiểu biết mà Ngài sẽ là đối tượng. Khung cảnh của lễ Vượt Qua sắp đến gần phóng chiếu trên những dữ kiện nầy một sự soi sáng mang tính ngôn sứ.

  

     Lm. Ignatiô Hồ Thông  

 

 

 

     Đức Giêsu Tẩy Uế Đền Thờ

 

   1.- Ngữ cảnh

   Lần đầu tiên, tác giả Gioan có một bản văn song song với các TMNL (Mc 11,15-19;  Mt 21,12-17;  Lc 19,45-48). Tuy nhiên, có những khác biệt:

   - Trong khi TM IV đặt biến cố này vào đầu sứ vụ của Đức Giêsu, các TMNL lại đặt ở đầu tuần Khổ Nạn. 

   - Lư do đă thúc đẩy Đức Giêsu can thiệp được gợi hứng bởi các bản văn ngôn sứ, cũng không giống nhau: “một nơi buôn bán” (Ga 2,16) th́ nhắm đến chuyện mua qua bán lại,  c̣n “sào huyệt của bọn cướp” (Mc 11,17 và //) th́ hàm chứa một cáo giác về sự trộm cắp.

   - Cuối cùng, cuộc căi vă giữa Đức Giêsu và các đối thủ xảy ra ngay sau đó (theo Ga), hoặc lại vào ngày hôm sau (theo các TMNL : Mc 11,28 và //).

   Trong quá khứ, người ta thường đề nghị một giả thuyết, theo chiều hướng tương phù (concordism): Đức Giêsu đă đuổi những người buôn bán khỏi Đền Thờ 2 lần, vào đầu sứ vụ (Ga) và cuối sứ vụ (TMNL). Nhưng dường như khó tin được rằng Đức Giêsu có thể lặp lại được một thách đố như thế đối với giới lănh đạo Do-thái giáo. Đàng khác, giữa bản văn của Ga và của các TMNL có những nét tương đồng, khiến người ta phải nghĩ rằng hầu chắc các bản văn ấy đều đề cập tới một biến cố duy nhất: nơi cả hai bên, ta đều thấy cùng một cơ hội đă khiến Đức Giêsu làm cử chỉ ấy (sự hiện diện của những người buôn bán và đổi tiền trong Đền Thờ), có một lời Đức Giêsu trách mắng những người bán hàng, sự can thiệp của các thủ lănh Do-thái, và nhất là dây liên hệ chặt chẽ giữa hành động này và cái chết của Đức Giêsu (Ga 2,17.19; Mc 11,18; Lc 19,47).

   Vậy phải chọn giữa bài của Gioan và bài của TMNL: bài nào đă đặt biến cố này vào đúng thời điểm?

   1. Đa số các nhà chú giải Công giáo và nhiều nhà chú giải Tin lành ủng hộ bài của Gioan. Luận điểm chính nằm trong chi tiết về thời gian do Ga 2,20 cung cấp: Công việc xây dựng Đền Thờ bắt đầu từ năm 20/19 tr CG (Fl. Josèphe, Ant XV, 380); vào lúc này là năm 28/27 sau CG: thời điểm này phù hợp với khởi đầu sứ vụ của Đức Giêsu hơn. Khi đó, người ta hiểu các TMNL đă đặt biến cố này vào cuối sứ vụ của Đức Giêsu, bởi v́ các TMNL chỉ nói đến một chuyến đi lên Giêrusalem duy nhất và một lễ Vượt Qua duy nhất.

   2. Những người nghiêng về các TMNL th́ ghi nhận trước tiên rằng dây liên kết giữa thách đố này của Đức Giêsu và cái chết của Người không mấy phù hợp với thời gian khởi đầu sứ vụ của Người. Tại cuộc xử án Đức Giêsu, lời của các nhân chứng nhắc lại câu tuyên bố của Người về việc phá Đền Thờ giả thiết là sự việc mới xảy ra, nên người ta c̣n nhớ rơ. Nhưng luận điểm mạnh nhất, là tác giả Gioan đă đưa bài tường thuật này ra đầu sứ vụ của Đức Giêsu, v́ ngài trung thành với quan điểm ngài đă biểu lộ trong bài tường thuật Dấu lạ Cana (2,4.11): ngài muốn quy hướng toàn thể sứ vụ của Đức Giêsu ngay từ đầu về “giờ” Khổ Nạn của Người; hơn nữa, Gioan muốn rằng Do-thái giáo chính thức được chứng kiến Đức Giêsu biểu lộ tư cách Mêsia của Người ngay từ đầu, để những người Do-thái phải ở trong một tư thế bị phán xét.

   Nói cho cùng, thật khó chọn bài nào, bởi v́ cả hai luận đề đều có những lập luận vững chắc.

 

   2.- Bố cục

   Bản văn có thể chia thành ba phần:

     1) Đức Giêsu tẩy uế Đền Thờ (2,13-17);

     2) Đức Giêsu nói về phá hủy và xây dựng lại Đền Thờ (2,18-22);

     3) Chuyển tiếp và dẫn nhập vào truyện Nicôđêmô (2,23-25).  

   3.- Vài điểm chú giải

   - Gần đến lễ Vượt Qua của người Do-thái (13): Thời gian của dấu lạ này dĩ nhiên gợi nhớ tới lễ Vượt Qua trong đó Đức Giêsu sẽ bị xử tử. Tương quan giữa việc tẩy uế Đền Thờ và cuộc Khổ Nạn của Đức Giêsu đă được ám chỉ. Mc 11,18 và Lc 19,47t sẽ ghi nhận rằng sự can thiệp của Đức Giêsu, v́ kết án cả giới lănh đạo Do-thái giáo, sẽ khiến các thượng tế và các kinh sư quyết định “giết Người”.

   - trong Đền thờ (en tôi hiêrôi, 14): Đây là tiền đường của Đền Thờ (đối lại với naos là Đền Thờ đúng nghĩa, gần gian Thánh và gian Cực Thánh).

   - Các môn đệ của Người nhớ lại (17): Sau khi Đức Giêsu sống lại, khi Thánh Thần đă ban cho các ông hiểu các dấu chỉ Thầy đă làm, các môn đệ đă hiểu biến cố hôm nay.

   - Người Do-thái (18):  Trong thực tế, đây là giới lănh đạo Đền Thờ (các tư tế, các thầy Lêvi và vệ binh), những người chịu trách nhiệm về t́nh trạng vừa bị Đức Giêsu kết án. Như ở khắp nơi trong TM IV, tác giả không phân biệt giữa các nhà lănh đạo và dân Do-thái đă từ chối tin vào Đức Kitô. Vậy phải nói là toàn thể hệ thống phượng tự của dân này đang được đề cập đến.

   - Các ông cứ phá hủy (làm tan ră) Đền thờ này đi; nội ba ngày, tôi sẽ xây dựng lại (sẽ đánh thức dậy) (19): Câu này có thể hiểu là một mệnh lệnh: “Các ông hăy phá hủy...”, hoặc như một câu ở th́ tương lai: “Các ông sẽ phá hủy...”, hoặc như một câu giả thiết: “Cứ giả sử là các ông phá hủy...”. Thật ra, các động từ “làm tan ră” (lyô) và “đánh thức dậy” (egeirô) không phù hợp chút nào với một ṭa nhà vật chất cả.

   - bốn mươi sáu năm (20): Đền Thờ, với phần cung thánh và tiền đường, đă được vua Hêrôđê rộng tay chi tiền sửa sang lại thật huy hoàng. Khởi công vào năm 16 triều đại ông (x. Fl. Josèphe, Ant. jud., 15, 11, 1) vào năm 734-735 thành Rôma, là năm 20-19 tr. CG, các công việc đă kéo dài cho tới thời Tổng đốc Anbinô, năm 62-64 (Ant. jud., 20, 9, 7). Vào thời điểm của bài tường thuật này, chúng ta ở vào năm xây dựng thứ 46. Lấy khởi điểm là năm 20 hoặc 19, sự cố tẩy uế Đền Thờ đă xảy ra vào lễ Vượt Qua năm 27 hoặc 28. Điều này phù hợp với Lc 3,2, v́ bản văn này đă xác định phép rửa của Đức Giêsu xảy ra vào năm 15 triều đại Tibêriô, tức giữa ngày 1-10-27 và 30-9-28.

   - ... là chính thân thể Người (21): Đền Thờ mới sẽ thay thế Đền Thờ cũ đă bị tục hóa chính là thân thể phục sinh của Đức Kitô. Với lời giải thích của thánh Phaolô (x. 1 Cr 3,16 và 12,27; Ep 2,21 và 4,12), Đền Thờ mới là Giáo Hội, thân thể vinh hiển của Đức Kitô phục sinh, và tất cả các tín hữu được kết hợp với Người.

   - Vậy, khi Người từ cơi chết chỗi dậy, các môn đệ nhớ lại... Họ tin (22): Máccô cứ đều đặn ghi nhận rằng các môn đệ không hiểu. Gioan th́ nói cách tích cực rằng các môn đệ hiểu sau khi Đức Kitô đă sống lại (12,16). Chỉ khi Đức Giêsu được tôn vinh, các ông mới được nhận Thánh Thần (7,39), và Thánh Thần mới cho các ông hiểu tất cả những dấu lạ Đức Giêsu đă thực hiện (14,26; 15,26t). Vậy, đức tin của các môn đệ không được liên kết với cuộc Phục Sinh như với một bằng cớ về tính xác thực của những ǵ Đức Giêsu đă nói, nhưng như với nguyên do (= nguồn) ban Thánh Thần, là Đấng duy nhất cho phép hiểu.

   - Họ tin vào Kinh Thánh (22): Không thể xác định rơ tác giả Gioan ám chỉ tới đoạn Cựu Ước nào. Có thể so sánh Cv 2,24t; 13,34tt, trong đó có những bản văn thường được Giáo Hội tiên khởi nhắc đến trong quan hệ với sự Phục Sinh của Đức Giêsu (đặc biệt Tv 16,10). Chúng ta ghi nhận rằng Kinh Thánh (Lời Thiên Chúa) và lời Đức Giêsu được đặt trên cùng một b́nh diện (so sánh 18,9.32) để làm nên đối tượng đức tin của các môn đệ.

   - nhiều kẻ tin (23): Nhiều người tin rằng Đức Giêsu đến từ Thiên Chúa (3,2), nhưng không tin vào tất cả mầu nhiệm bản thân Người. Ḷng tin của họ chỉ dựa trên các phép lạ, nên không phải là không có giá trị, nhưng bất toàn (4,48; 20,29).

 

   4.- Ư nghĩa của bản văn

   Đức Giêsu cũng tham dự vào một đại lễ khác. Đây không phải là một lễ của một đôi vợ chồng được cử hành bởi gia đ́nh và mọi người thân thuộc trong khung cảnh một thôn làng như Cana ở Galilê, nhưng là lễ Vượt Qua, lễ trọng nhất của Israel, khi đó toàn dân quy tụ lại Giêrusalem. Israel tưởng niệm cuộc giải phóng khỏi Ai-cập và tạ ơn Thiên Chúa, v́ Ngài đă làm cho họ thành một dân độc lập và thành Dân Ngài.

* Đức Giêsu tẩy uế Đền thờ (13-17)

   Tại Đền Thờ, Đức Giêsu đă không góp phần cứu lấy và gia tăng niềm vui của ngày đại lễ, nhưng đă ḥa vào cảnh sống náo nhiệt trên sân Đền Thờ. Con người đă rảo qua xứ sở cách an ḥa (1,29.36) và đă ra tay cứu lễ mừng Cana cách hiệu quả, nay lại tỏ ḿnh ra dưới một phương diện hoàn toàn khác. Là một người khách hành hương vô danh đến từ miền Galilê, Người đă gây ra một sự cố “động trời” tại Đền Thờ Giêrusalem. Theo TM IV, vào chuyến hành hương đầu tiên thuộc đời sống công khai của Người, Đức Giêsu đă bắt đầu hoạt động tại Giêrusalem như thế đó, bắt đầu từ sân dành cho Lương dân, phần ít cao quư nhất của tiền đường, phần duy nhất mà người ngoại quốc được đặt chân đến.

   Truyền thống vẫn yêu cầu người ta tỏ ra trang nghiêm kính cẩn tại vùng sân này, chẳng hạn, phải tránh đi qua đó chỉ để đi tắt. Nhưng các quy định này, đặc biệt vào dịp lễ Vượt Qua, không được tuân giữ: do khách hành hương phải chuẩn bị các của lễ đúng quy định (một con ḅ hoặc một con chiên cho trường hợp những người giàu, một con bồ câu cho trường hợp những người nghèo), và một nửa đồng bạc Do-thái (một siklos, hoặc shéqèl bằng 4 ngày công) đóng thuế Đền Thờ, họ đă mua bán đổi chác gây huyên náo hỗn độn ngay tại đây. Các cửa hàng của những người bán ḅ và chiên được bố trí dưới các cổng, bàn của những người đổi bạc được đặt ngay ngoài trời, đă biến vùng sân này thành một cửa hàng tạp hóa vĩ đại. Tất cả tùy thuộc cách người ta quan niệm việc thờ phượng Thiên Chúa trong Đền Thờ. Hẳn là dân chúng nghĩ rằng có thú vật và tiền lẻ ngay tầm tay và đặt mọi sự dưới quyền kiểm soát  của giới hữu trách Đền Thờ là tiện nhất. Nhưng điều này lại không phù hợp với quan niệm của Đức Giêsu về nhà của Cha Người. Người gọi Thiên Chúa là Cha và xác định cách cư xử dựa trên ư tưởng Người có về nhà Thiên Chúa. Không phải là mọi chuyện đều có thể chấp nhận. Không phải là cứ chuyện nào tiện lợi hoặc đưa lại tiền bạc là đúng đắn. Buôn bán thú vật được dùng làm lễ hy sinh là một sinh hoạt đáng trọng, nhưng phải cách xa nơi có sự hiện diện của Thiên Chúa và nơi người ta tôn kính Ngài. Đức Giêsu thấy có những lạm dụng.

   Nay đă được đặt để trong chức năng Mêsia-Con Thiên Chúa, Đức Giêsu không chỉ vào Nhà Thiên Chúa như một khách hành hương, mà c̣n là người quản lư và chủ nhân. Nếu Người đă làm hành vi chứng tỏ uy quyền này ngay tại Đền Thờ có lẽ là để tự mạc khải ngay giữa ḷng Do-thái giáo, trước mặt các nhà lănh đạo và đám đông đa tạp các khách hành hương, nhờ thực hiện sấm ngôn Malakhi: “Và bỗng nhiên Chúa Thượng mà các ngươi t́m kiếm, đi vào Thánh Điện của Người. Ḱa, vị sứ giả của giao ước mới mà các ngươi đợi trông đang đến... Ai chịu nổi ngày Người đến? Ai đứng được khi Người xuất hiện? Quả thật, Người như lửa của thợ luyện kim... Người sẽ thanh tẩy con cái Lêvi (các thừa tác viên Đền Thờ)...” (Ml 3,1-3).

   Không màng tới các rủi ro, Đức Giêsu không ngần ngại nối kết sức lực của cánh tay vào sức mạnh của lời nói để thực hiện nguyện vọng của Cha Người, được diễn tả qua miệng ngôn sứ Dacaria: “Ngày ấy, sẽ không c̣n lái buôn trong Nhà Đức Chúa các đạo binh nữa” (Dcr 14,21). “Nhà của Ta sẽ được gọi là nhà cầu nguyện cho muôn dân” (Is 56,7), nhưng “Phải chăng các ngươi coi nhà này, nơi danh Ta được kêu khấn, là hang trộm cướp sao?” (Gr 7,11). Đức Giêsu đă can thiệp với biện pháp rơ ràng và dứt khoát: “Người xua đuổi tất cả bọn họ cùng với chiên ḅ ra khỏi Đền Thờ; c̣n tiền của những người đổi bạc, Người đổ tung ra, và lật nhào bàn ghế của họ. Người nói với những kẻ bán bồ câu: ‘Đem tất cả những thứ này ra khỏi đây’” (2,15-16). Trong nhà Chúa Cha, Chúa Cha đang hiện diện; người ta phải suy nghĩ và hành động tương ứng với chân lư này.

   Cử chỉ này, trực tiếp nhắm đưa Đền Thờ trở lại với sự thanh sạch vẫn có, dường như có một tầm mức biểu tượng. Bằng cử chỉ này, Đức Kitô muốn nói rằng Người sẽ truất các tư tế mất quyền điều hành Đền Thờ Thiên Chúa và sẽ loại bỏ tất cả các lễ hy sinh thú vật để thay thế bằng lễ dâng tinh tuyền mà Thiên Chúa cũng đă loan báo qua miệng ngôn sứ Malakhi: “Ta chẳng ưng nhận lễ phẩm từ tay các ngươi dâng... Và ở khắp nơi, người ta dâng lễ hy sinh và lễ vật tinh tuyền kính Danh Ta” (Ml 1,10-11). Đúng là đă tới giờ rồi.

   Vào lúc ấy, hẳn là sự can thiệp cương quyết của Thầy đă khiến các môn đệ thắc mắc, nhưng nhất là khiến các ông lo sợ rằng Người sẽ phải gánh chịu những hậu quả tệ hại, từ phía những lái buôn và những thừa tác viên Đền Thờ. Khi đó, các môn đệ đă nghĩ tới tiếng kêu của tác giả Tv 69: “V́ nhiệt tâm lo việc nhà Chúa mà tôi đây sẽ phải thiệt thân...”, thiệt thân v́ sự nhiệt thành của ḿnh và v́ những đối thủ. Vào lúc chịu Khổ Nạn, khi tuyên bố rằng Thánh vịnh này được ứng nghiệm nơi Người (Tv 69,5; x. Ga 15,15), Đức Giêsu công nhận rằng các ông đă linh cảm đúng: sự nhiệt thành đă thiêu đốt Người bên trong vào lễ Vượt Qua đầu tiên, sẽ thiêu đốt Người hoàn toàn vào lễ Vượt Qua cuối cùng, để biến Người thành một lễ hy sinh “đẹp ḷng Chúa hơn ḅ bê đủ móng đủ sừng” (Tv 69,32). Người chính là Đấng công chính chịu đau khổ để thanh tẩy Đền Thờ và nền phượng tự cũ hầu xây dựng một Đền Thờ mới và thiết lập một nền phượng tự mới (cc.19-21). Việc chuyển đi từ cái cũ sang cái mới sẽ được thực hiện nhờ cái chết của Đức Giêsu.

* Đức Giêsu nói về phá hủy và xây dựng lại Đền Thờ (18-22)

   “Người Do-thái” đây là giới lănh đạo Đền Thờ (các tư tế, các thầy Lêvi và vệ binh),  nhưng cũng là dân Do-thái, đă hỏi: “Ông lấy dấu lạ nào chứng tỏ cho chúng tôi thấy là ông có quyền làm như thế?” (c. 18). Đây là đề tài căn bản của tất cả những xung đột sau đó giữa Đức Giêsu và giới lănh đạo Do-thái giáo. Người đă yêu cầu trả lại phẩm cách trang nghiêm cho nhà Chúa Cha; điều này không thỏa măn người Do-thái, cũng như tất cả những ǵ Đức Giêsu sẽ nói và sẽ làm cũng chẳng thỏa măn họ (x. 5,16; 6,30; 9,16; 11,45-53). Hẳn là các nhà chức trách Do-thái cảm thấy khó chịu gai chướng bởi một sáng kiến vừa lạ lùng vừa cách mạng như thế: dù không có chức tư tế và không có nhiệm vụ ǵ ở Đền Thờ, Đức Giêsu vừa kết án một hệ thống được các nhà chức trách chuẩn nhận, mà như thế là tự cho ḿnh có một uy quyền cao hơn uy quyền của họ. Thậm chí Người c̣n muốn nói là Người triệt tiêu nền phượng tự đă từng được Thiên Chúa thiết lập ở đấy, và như thế là tự gán cho ḿnh có một uy quyền ngang bằng với uy quyền của Thiên Chúa mà Người gọi là “Cha Người”! Bởi v́ Người cho rằng Người có một uy quyền thần linh, th́ Người phải chứng minh điều ấy bằng cách làm một dấu lạ: một hành động phi thường cho thấy dấu ấn của Thiên Chúa trên sứ mạng cứu thế của Người (x. Mt 11,38; 16,1; Mc 8,11; Lc 11,16; 1 Cr 1,22).  

   Đức Giêsu đáp: “Các ông cứ phá hủy (làm tan ră) Đền thờ này đi; nội ba ngày, tôi sẽ xây dựng lại (sẽ đánh thức dậy)” (c. 19). Câu này có thể hiểu là một mệnh lệnh: “Các ông hăy phá hủy...”, hoặc như một câu ở th́ tương lai: “Các ông sẽ phá hủy...”, hoặc như một câu giả thiết: “Cứ giả sử là các ông phá hủy...”. Với bối cảnh của cuộc tranh luận, Đức Giêsu dường như ám chỉ việc phá hủy và xây lại ngôi Đền Thờ bằng đá tọa lạc ngay gần bên. Người Do-thái nghĩ ngay đến Đền Thờ ấy, và cho rằng không thể được. Quả thật, phải là điên th́ mới nghĩ có thể xây lại trong ba ngày; cũng phải là điên th́ mới nghĩ rằng có thể đụng chạm được tới Đền Thờ này! Cứ lấy lương tri mà xét, lẽ ra người Do-thái không nên gán những ư tưởng ấy cho một người có đầu óc sáng suốt: là những người Đông phương, đă quen với giọng văn bóng bảy cũng như những câu nói hiểm hóc, hẳn là họ phải ngờ rằng ở đây có một ư hướng biểu tượng, nhất là những động từ “làm tan ră” (lyô) và “đánh thức dậy” (egeirô) không phù hợp chút nào với một ṭa nhà vật chất cả. Nhưng họ cố ư xoáy vào ư nghĩa vật chất, cũng như người phụ nữ Samari khi đề cập tới nước ban sự sống (4,11-15), như những người Do-thái khi đề cập tới bánh ban sự sống (6,34) [xem lời các nhân chứng tạo ṭa án (Mt 26,61; Mc 14,58) và những người qua đường (Mt 27,40; Mc 15,29)]. Dấu lạ Đức Giêsu loan báo ở đây tương ứng với câu trả lời cho người Pharisêu trong Mt 12,39t và 16,4.

   Người Do-thái quy các lời Đức Giêsu nói vào ngôi Đền Thờ bằng gạch đá nên đă hiểu sai ư Người (x. 3,4). Đức Giêsu đang nói với họ: Các ông có thể giết chết tôi. Các ông có thể đẩy tôi đến thử thách lớn lao cùng cực nhất. Nhưng rồi tôi sẽ hoàn tất công tŕnh của tôi và sẽ tự mạc khải ra vĩnh viễn.

   Phần các môn đệ, sau khi Đức Giêsu sống lại, các ông mới hiểu được ư nghĩa của câu nói huyền bí ấy, và “đă tin vào lời Kinh Thánh và lời Đức Giêsu đă nói” (c. 22). Nhưng ở đây tác giả Gioan cho chúng ta được hiểu trước biến cố ấy: Đức Giêsu nói, không phải về Đền Thờ bằng gạch đá, nhưng hoàn toàn về Đền Thờ là thân thể của Người, nhân tính của Người. Các từ ngữ Người dùng phù hợp với ư nghĩa đó hơn: “Cứ làm tan ră Đền Thờ là thân thể của tôi đi (Các ông sẽ gây ra sự tan ră, cái chết, cho thân thể tôi), và trong ba ngày, tôi sẽ dựng lại (sẽ đánh thức dậy khỏi giấc ngủ ấy)”. Đàng khác, ư nghĩa hoàn toàn phù hợp với hoàn cảnh. Nếu các môn đệ đă linh cảm rằng ḷng nhiệt thành của Đức Giêsu đối với ngôi nhà vật chất của Thiên Chúa sẽ khiến Người bị các đối thủ hăm hại (c. 17), Đức Giêsu c̣n biết rơ hơn các ông rằng cử chỉ này sẽ đưa Người tới cái chết. Như vậy, cái chết đối với Đức Giêsu không phải là một tai nạn bất ngờ hoặc một thất bại không thể tránh được, nhưng là một thử thách Người tự do chấp nhận, để rồi tiếp theo là một Sự Sống dồi dào phong phú hơn. Đă được báo trước như vậy, người Do-thái sẽ không thể coi đó là một chiến thắng, c̣n các môn đệ không thể coi đó là một cớ vấp phạm được.

   Ở đây, ngay trong cuộc gặp gỡ đầu tiên này, ta đă thấy rơ các hậu quả của cuộc xung đột sẽ là thế nào và mục tiêu của con đường Đức Giêsu theo là ǵ: chết và sống lại. Cuộc Phục Sinh sẽ chuẩn nhận cho tư cách của Đấng đă bị đẩy đến một cái chết khốc liệt do việc làm và yêu sách của Người. Do cái chết này, Đền Thờ mới sẽ được xây lên. Đức Giêsu Phục Sinh là “nơi” vĩnh viễn có Thiên Chúa hiện diện với Dân Ngài và có Dân Ngài thờ phượng Thiên Chúa: đây là “ngôi nhà Cha” hoàn hảo. Lời tiên báo của Đức Giêsu một phần cảm hứng từ một sấm ngôn của ngôn sứ Hôsê (Hs 6,2). Theo lời hứa của Đức Giêsu cho ông Nathanaen, các môn đệ khi ấy sẽ thấy Thầy họ là “Bết-Ên” thật, là Nhà Thiên Chúa và Cửa thiên đàng (1,51). Một cách gián tiếp, Đức Giêsu mạc khải cho các thính giả rằng Chúa Cha cư ngụ nơi Người một cách viên măn và vĩnh viễn (8,16; 10,38; 14,10;16,32) và chỉ nơi Người, các tín hữu mới có thể gặp được Chúa Cha vô h́nh (14,6-10).

* Chuyển tiếp và dẫn nhập vào truyện Nicôđêmô (23-25)

   TM IV nổi bật với sự đối kháng giữa Đức Giêsu và các đối thủ. Ngay từ cuộc gặp gỡ đầu tiên, đă lộ rơ các yếu tố tiêu biểu của cuộc chiến đấu này: các người tranh chấp, đối tượng của cuộc tranh chấp và kết luận. Cuộc xung đột liên hệ đến quan niệm đúng đắn về Thiên Chúa: Đức Giêsu nhận biết Thiên Chúa như là Cha Người; tất cả những ǵ Người làm đều do Thiên Chúa gợi hứng và Người làm chứng về những điều đó; c̣n các đối thủ của Người lại cảm thấy bị Người gây chuyện, nên yêu cầu Người trưng ra những bằng chứng khác, và họ loại trừ Người. Phần các môn đệ, do đă để cho Người dẫn dắt, các ông đạt tới đức tin và sự hiểu biết đầy đủ. C̣n đám đông bị đánh động bởi những ǵ Đức Giêsu thực hiện; nhưng Đức Giêsu không tin họ, nên Người giữ khoảng cách với họ. T́nh trạng xung đột này sẽ đưa Đức Giêsu đến cái chết dữ dội, nhưng Người sẽ được xác nhận trọn vẹn bằng cuộc Phục Sinh.

+ Kết luận

   Hôm ấy, Đức Giêsu đă vào Đền Thờ như vào “nhà Cha Người”; hôm ấy, v́  yêu thương Chúa Cha, Người đă đuổi những con buôn khỏi Đền Thờ. V́ nhiệt thành lo cho nhà của Cha, v́ muốn hoàn toàn dành ngôi nhà này cho Cha, Đức Giêsu đă nổi cơn nghĩa nộ mà bảo vệ quyền lợi của Cha, trong khi vẫn làm chủ chính ḿnh. Như thế, Đấng “có ḷng hiền hậu và khiêm nhường”, là bạn của kẻ tội lỗi, cũng biết nổi giận khi cần, v́ vinh quang của Thiên Chúa Cha. 

   Sau này, đàng sau tấm màn bị xé rách của Đền Thờ và xuyên qua thân thể bầm dập của Đức Giêsu hấp hối, Thiên Chúa xuất hiện, bằng một tấm thân con người thật sự, đầy vinh quang thần linh. Giấc mơ của Cựu Ước, Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta, nay được thực hiện măi măi trong Đức Giêsu Phục Sinh.

 

   5.- Gợi ư suy niệm

1. Theo Đức Giêsu, người ta không thể chấp nhận hay nhượng bộ mọi sự. Người ta có thể thông cảm cho việc trục trặc này, chuyện không xuôi chảy kia. Nhưng khi sự việc liên hệ đến việc thờ phượng Thiên Chúa, th́ không được phép có lối suy nghĩ tương-đối-hóa. Khi sự việc liên hệ đến làm chứng cho mầu nhiệm Thiên Chúa, th́ không được phép nửa vời. Phần chúng ta, chúng ta có thể tự hỏi: chúng ta đang có quan niệm nào về “nhà của Cha”, hoặc về nhiệm vụ và mục tiêu mà Ngài đă ban cho con người? Chúng ta có vận dụng trọn bản thân ḿnh cho điều đó không?   

2. Các đối thủ của Đức Giêsu cứ đ̣i Đức Giêsu phải trưng ra thêm các bằng chứng. Lư do không phải là để họ đạt được niềm tin tṛn đầy, nhưng nói có vẻ nghịch lư, họ đ̣i các bằng chứng là để phủ nhận đức tin, để họ có cớ mà nói rằng họ không tin là phải. Toàn bọ TM IV là một bài học với nhiều minh họa về niềm tin như một sự phó thác vào Đấng được Thiên Chúa sai phái tới, là Đức Kitô. Trong những trường hợp nào, cả chúng ta nữa, chúng ta cũng đề những ranh giới dè dặt cho niềm tin tưởng của chúng ta vào Đức Giêsu, chúng ta nêu ra những điều kiện, và chúng ta đ̣i những đảm bảo?

3. Chứng từ của các môn đệ c̣n đấy: lời của Đức Giêsu có một trọng lượng như chính lời Kinh Thánh. Nhờ được Kinh Thánh thôi thúc, các ông hiểu lư do khiến Đức Giêsu phải chết; nhờ được lời Đức Giêsu soi sáng, các ông hiểu Đấng Phục Sinh chính là “nơi” vĩnh viễn có sự hiện diện và chăm sóc ân cần của Thiên Chúa. Đấy là một kinh nghiệm quan trọng được chia sẻ cho chúng ta, để hôm nay chúng ta biết tiếp tục dựa vào ánh sáng của Kinh Thánh mà khám phá thêm nữa mầu nhiệm Đức Giêsu, Con Thiên Chúa nhập thể, đă chết và đă sống lại.

4. Để thực hiện được điều này, cần nhận lấy bài học khác của các môn đệ. Các ông đă rảo qua một đoạn đường dài cùng với Đức Giêsu và đă được Người liên tục dạy dỗ, rèn luyện. Chúng ta có thể chờ đợi để được dẫn đến chỗ hiểu biết đầy đủ về con đường của Đức Giêsu và con đường của chúng ta chăng?  

 

Lm PX Vũ Phan Long, ofm

 

 

 

     Tôn Kính Thánh Đường

 

          Lễ Vượt-Qua Chúa lên Đền-Thánh.
          Thấy nhiều người buôn bán đổi tiền.
          Cầm roi Chúa đuổi ra liền.
          Sao lại họp chợ ngay hiên Đền Thờ.


          Người Do thái ngẩn ngơ hỏi Chúa;

          "Đuổi chúng tôi Ông có quyền chi?"
          Chúa rằng:"Cứ phá Đền đi.
          Chỉ ba ngày chẵn Ta th́ xây xong."


          Đền Thờ chính là Thân thể Chúa.

          Táng trong mồ chỉ có ba ngày.

          Uy quyền Chúa sống lại ngay.
          Tôma qùi gối:"Lạy Thày,con tin."


          Mùa Chay thánh con xin tuyên hứa. 

          Quyết trở về cùng Chúa nhân lành.

          Cầu nguyện với tấm ḷng thanh.
     XIN CHO CON SỐNG THI HÀNH Ư CHA…

 

         Matthêu Vũ

 

 

 

     Tâm Hồn Ta Đền Thờ Chúa


          Ước hồn con măi Đền Thờ của Chúa
          Chúa Ba Ngôi Tuyệt vời quá vàng son
          Đời hạnh phúc Chúa hiện diện trong con
          Đó Thiên Đàng tràn Vinh quang luôn măi

          Sống Niềm tin Chúa hằng luôn tự tại
          Ngài kết liên Ngôi Hai và Thánh Thần
          Ǵ hạnh phúc hơn Thiên Chúa ở cùng
          Ôi sướng vui ḷng chứa chan hy vọng

          Hồn ta nên Ngai ṭa Chúa Co trọng
          Chổ cao nhất ở ngay trong hồn tôi
          Xin dành riêng cho Thiên Chúa Ba Ngôi
          Nguyện dâng lên để trọn Chúa xử dụng

          Ngài điều hành con hết c̣n lúng túng
          Con hân hoan theo Thánh ư của Ngài
          Khi làm ǵ hay liên hệ với ai
          Con xin làm và tư duy với Chúa

          Ước đời con dâng hiến hoài muôn thủa
          Hiệp cùng với Thánh Lễ khắp mọi nơi
          Trên bàn thờ khắp vũ trụ đất trời
          Với hằng giây hằng phút dâng Thánh Lễ

          Con cũng muốn Rước Lễ thiêng liêng nữa
          Và cứ thế con sống trong t́nh Cha
          Nguồn yêu thương và mến yêu đậm đà
          Con dự lễ - Rước măi ḿnh Máu Thánh

          Chúa ở cùng con sướng vui hạnh phúc
          Thiên Đàng đây tận ḷng con ...đâu xa
          Chúa ngự với hồn con đẹp ngọc ngà
          Nên Ngai Ṭa Ba Ngôi Chúa ngự trị

          Hạnh phúc quá cảm nghiệm theo Thánh ư
          Con hân hoan sung sướng lắm Chúa ơi
          Chúa ở cùng con hạnh phúc nhất đời
          Ǵ qúi hơn ngây ngất hưởng Nhan Chúa.


          Cao Trí Dũng

 

 

 

     Cung Điện Ḷng Con

 

Lạy Chúa!

Xin hăy chậm bất b́nh, đừng nổi giận Chúa ơi!

Tâm hồn con nhiễm độc lắm bụi đời.

Ham lợi nhuận, mê bạc tiền, quyền thế,

Ngẫu tượng tôn thờ, khắc khoải hồn chơi vơi.

 

Say đắm ngập ch́m dục vọng thú đam mê,

Ô uế hồn con, ngất ngưởng bóng đêm về.

Xác thân ră rời, hồn gọi mời mua bán,

Nặng bước chân buồn, t́nh nghĩa đời chán chê.

 

Giây phút nhiệm mầu! Ngài tạo dựng nên con,

Dáng ngọc cung son, Chúa ban tặng vuông tṛn.

Cao quang thánh điện huy hoàng Thiên Chúa ngự,

Thân các mỏng ḍn, hoen ố mối t́nh son.

 

Chiều tím giăng sầu, không gian nhuộm mùa chay,

Giọt lệ long lanh, lạnh lẽo tấm thân gầy.

Thống hối ăn năn, trái tim ḷng tan nát,

Lễ vật mọn hèn, rưng rưng nước mắt cay.

 

Thanh tẩy tâm hồn, quét dọn mọi phù du,

Đố kỵ, kiêu căng kềm hăm chốn lao tù.

Giải độc nhớp nhơ, khiêm cung ṭa cáo giải,

T́nh Chúa dịu dàng êm ái tựa lời ru.

 

Xin hăy chậm bất b́nh, đừng nổi giận Chúa ơi!

Con đă về đây, mong giũ sạch bụi đời.

Giơ cao đánh khẽ, van nài ơn tha thứ,

Chỗi dậy, chói ḷa, Cung Điện Chúa sáng tươi.

 

     Mặc Trầm Cung

 

 

Diễn Đàn Giáo Dân xin quí vị thêm lời cầu nguyện cho Việt Nam:

có công lư và hoà b́nh, có dân chủ và tự do,

không c̣n bất công và gian dối.