Lời Chúa Hàng Tuần

Ngày 11 tháng 7 năm 2010

NHỚ MANG THEO TRÁI TIM - SỎI ĐÁ VẪN CẦN CÓ NHAU

    

Quí vị đang nghe  V̀ XƯA TA ĐÓI  của Thành Tâm (Thúy Hồng & Nhật Huy)

 

NHỚ MANG THEO TRÁI TIM


  
Trường sinh bất tử, muốn được hạnh phúc vĩnh viễn, muốn được sống đời đời, đó là mơ ước muôn đời của mọi người. Hôm nay, một thày thông luật nói lên mơ ước đó khi ông hỏi Chúa “làm cách nào để được hưởng sự sống đời đời”.
 
   
Để trả lời ông, Chúa Giêsu kể câu chuyện, một câu chuyện b́nh thường xảy ra hằng ngày: Một người đi đường từ Giêrusalem xuống Giêrikhô, dọc đường bị cướp trấn lột, đánh nhừ tử, dở sống dở chết nằm rên rỉ bên vệ đường. Thày tư tế đi ngang thấy thế tránh qua bên kia đường mà đi. Thày Lêvi cũng thế. Nhưng một người xứ Samaria, một người ngoại đạo, đă chạnh ḷng thương, dừng lại băng bó cho nạn nhân. Chưa hết, ông c̣n chở nạn nhân đến quán trọ. Hơn thế nữa, ông gửi tiền để nhờ chủ quán chăm sóc nạn nhân cho đến khi b́nh phục.
 
  
Qua câu chuyện người xứ Samaria nhân hậu, Chúa Giêsu chỉ cho ta con đường dẫn đến sự sống đời đời.
 
  
Đường Giêrikhô tượng trưng cho con đường về Nước Trời. Đó là con đường gập ghềnh khó đi. Đó là con đường nguy hiểm v́ có trộm cướp ŕnh rập. Đó là con đường thử thách. Để vượt qua thử thách, vũ khí duy nhất hữu ích là trái tim. Trái tim chiến thắng có những phẩm chất như sau:
 
Đó phải là một trái tim nhạy bén.
  
Người xứ Samaria nhân hậu có một trái tim nhạy bén. Dù đang bận việc riêng, dù vó ngựa phi nhanh, ông vẫn nh́n thấy người bị nạn nằm bên vệ đường. Dù tiếng gió vù vù xen lẫn tiếng vó ngựa lộp cộp, ông vẫn nghe được tiếng rên rỉ rất yếu ớt của người bị nạn. Trong khi đó, thầy Tư Tế và Thầy Lêvi chỉ đi bộ lại không thấy, không nghe. Hay nói đúng hơn, các thầy có nghe, có thấy nhưng trái tim các thầy đóng kín, nên các thầy chẳng động ḷng. Trái tim các thầy bị đóng kín v́ những cánh cửa lề luật: Sợ đụng chạm vào máu, vào người bị thương, sẽ trở thành ô uế không được tới đền thờ dâng lễ vật. Người xứ Samaria không nghe bằng đôi tai, không nh́n bằng đôi mắt, nhưng nghe và nh́n bằng trái tim. Trái tim nhạy bén có đôi tai thính lạ lùng. Có thể nghe rơ tiếng rên rỉ th́ thầm tận đáy ḷng. Trái tim nhạy bén có đôi mắt sáng lạ lùng. Có thể nh́n thấy cả những nỗi đau âm thầm trong tâm khảm.
 
Đó phải là một trái tim quan tâm.
  
Trái tim quan tâm đưa ta đến gần gũi anh em. Trái tim quan tâm biết làm tất cả để phục vụ anh em. Các thầy Tư Tế và Lêvi không có trái tim quan tâm nên khi thấy người bị nạn đă tránh sang bên kia đường mà đi. Người xứ Samaria có một trái tim quan tâm nên ông lập tức đến gần nạn nhân. V́ có trái tim quan tâm nên ông có thể làm tất cả để giúp nạn nhân. V́ quan tâm nên ông đă mang sẵn bên ḿnh nào là dầu, nào là băng vải. Chẳng học nghề thuốc mà ông săn sóc vết thương một cách thành thạo. Chẳng luyện tập mà ông đă lấy dầu xoa bóp rất nhanh, băng bó rất khéo. Chẳng có kỹ thuật mà ông biết cách đưa được bệnh nhân lên lưng ngựa. Ông đă làm tất cả theo sự hướng dẫn của trái tim. Với trái tim, ông đă làm tất cả với sự chuẩn xác và nhất là với nhiệt t́nh để cứu nạn nhân.
 
Đó phải là một trái tim chung thuỷ.
  
Trái tim chung thuỷ không làm việc nửa vời, nhưng làm đến nơi đến chốn. Trái tim chung thuỷ không mỏi mệt buông xuôi, nhưng theo dơi giúp đỡ cho đến tận cùng. Người xứ Samaria bận rộn công việc, nhưng vẫn lo lắng cho nạn nhân đầy đủ, gửi gắm chủ quán tiếp tục thuốc thang. Và khi xong việc ông sẽ trở lại thăm hỏi để tiếp tục săn sóc cho đến khi khỏi hẳn. Ông làm tất cả với một trái tim chung thuỷ vẹn toàn.
 
  
Qua dụ ngôn, Chúa Giêsu dạy ta hiểu rằng: đường đến sự sống đời đời là con đường mọi người vẫn đang đi. Nhưng chỉ người đi với trái tim mới mong đến đích. Thầy Tư Tế và Thầy Lêvi đă rẽ sang hướng khác v́ các thầy không mang theo trái tim. Người xứ Samaria đă đi đến nơi v́ ông đi đường với trái tim nhân hậu, trái tim rất nhạy bén, rất quan tâm và rất chung thuỷ. Với trái tim ấy, ông đă yêu người thân cận như chính ḿnh ông. Với trái tim ấy, ông đă mở đường đi đến sự sống đời đời.
 
  
Chúa Giêsu dạy tôi bắt chước người xứ Samaria nhân hậu. Hăy lên đường với trái tim. Hăy lắng nghe với trái tim. Hăy hành động với trái tim. Hăy đi trên đường của trái tim. Hăy để trái tim tham dự vào mọi lời nói, mọi cử chỉ, mọi suy nghĩ. Hăy mang theo trái tim theo trên khắp mọi nẻo đường. Con đường đi với trái tim chính là con đường dẫn đến sự sống đời đời.

  
Lạy Chúa Giêsu hiền lành và khiêm nhường trong ḷng, xin uốn ḷng con nên giống Trái Tim Chúa. Amen.
 
KIỂM ĐIỂM ĐỜI SỐNG

1- Theo ư bạn đâu là những dấu hiệu cho thấy một t́nh yêu đích thực và đáng tin?

2- Mỗi khi gặp một người cần giúp đỡ, bạn có hăng hái ra tay giúp ngay hay c̣n chần chờ, viện lư do để thoái thác?

3- Sau khi nghe dụ ngôn “Người xứ Samaria nhân hậu”, bạn có quyết tâm ǵ?

4- Mang theo trái tim nghĩa là ǵ?

   TGM Ngô Quang Kiệt

 

 

SỎI ĐÁ VẪN CẦN CÓ NHAU

(Lc 10:25-37)

     Mưa vẫn hay mưa cho đời biển động

     Làm sao em biết bia đá không đau
     Xin hăy cho mưa qua miền đất rộng
     Ngày sau sỏi đá cũng cần có nhau
.[1]

   Đó là truyện ngày sau của thế giới sỏi đá. C̣n truyện ngày nay của thế giới con người th́ sao?  Chẳng lẽ con người không bằng sỏi đá? Câu truyện người Samari hôm nay cho biết ai là sỏi đá và ai là con người ngay trong thế giới hiện tại.

CON NGƯỜI HAY SỎI ĐÁ

   Câu truyện hôm nay như đóng khung trong một loạt câu hỏi. Trước hết, người thông luật hỏi: “Tôi phải làm ǵ?”  Chúa Giêsu vặn lại: “Trong Luật đă viết ǵ?”... Ông tiếp tục thắc mắc: "Nhưng ai là người thân cận của tôi?" Chúa Giêsu nêu vấn đề: “Ai đă tỏ ra là người thân cận với người đă bị rơi vào tay kẻ cướp? "

   Giữa hàng loạt các câu hỏi này là câu truyện về một nạn nhân đáng thương và một người Samari... Một cuộc đối thoại lạ lùng giữa ông thông luật và Chúa Giêsu. Ông muốn gài bẫy Chúa. Nhưng Chúa Giêsu muốn dẫn ông vượt qua tṛ chơi nhàm chán đó để t́m ra sự thật giải thoát, dù phải nêu một gương sáng về đức bác ái từ người Samari, kẻ thù truyền kiếp của người Do Thái. Đối với Do Thái, người Samari hầu như chẳng làm nên tṛ trống ǵ cả. Bởi vậy, ông không thể trả lời chính xác đó là người Samari. Ông chỉ nói trổng: “Chính là kẻ đă thực thi ḷng thương xót đối với người ấy.” (Lc 10:37)

   Đứng trước nạn nhân, người thông luật coi đó như một đề tài cần bàn căi. Kẻ cướp cho đó là một đối tượng phải khai thác. Tư tế coi là một vấn đề phải tránh xa. Thày Lêvi coi như một việc gợi tính ṭ ṃ. Chúa Giêsu rất tế nhị khi không cho thêm một nhân vật thông luật vào câu truyện dụ ngôn. Nhưng ông đủ thông minh để rút lấy một bài học để đời. Người Samari coi nạn nhân như một con người cần phải được thương yêu. Ông đă nêu gương sáng tuyệt vời. C̣n Kitô hữu chúng ta th́ sao? 

   Cuộc đối thoại lạ kỳ bắt đầu bằng một câu hỏi: “Làm ǵ?” và kết thúc với lời mời gọi: “Hăy làm như vậy!”  Trong các Tin Mừng, Chúa Giêsu hay giúp người chống đối khám phá lời giải đáp cho vấn nạn do chính họ đặt ra. Bài học trước hết dành cho những ai quay về phía người khác và bắt phải thực hiện công việc đáng lư ḿnh phải làm. Thực sự họ t́m cái ǵ?  Để thử thách người họ đang nói truyện hay chỉ để tự biện minh? Có những người hay tự tra vấn chính ḿnh và biết phải làm ǵ, nhưng lại sợ dấn thân.

   Trong khi đó, Chúa Giêsu kể một câu truyện về người Samari cứu giúp một người bị lọt vào tay bọn cướp. Vượt qua luật Lêvi “anh hăy yêu thương người thân cận như chính ḿnh,” (Lv 19:18) Chúa Giêsu dạy yêu thương kẻ thù trong Bài Giảng trên núi. Để minh họa điều răn mới này, Chúa Giêsu đă dùng h́nh ảnh Samari đại lượng và bất vụ lợi. Một bài học thấm thía cho ông thông luật! Một lời mời gọi nồng nhiệt cho mỗi người chúng ta!

   Người thông luật hỏi: “Ai là người thân cận của tôi?” Chúa Giêsu đi vào cụ thể: “Ai là người thân cận của người gặp cảnh khốn cùng này?” Qua cảnh tượng này, Chúa Giêsu mạc khải cho chúng ta hai thực tại liên kết và soi sáng cho nhau: Kinh Thánh và cuộc sống hằng ngày. Ước chi Kinh Thánh có thể nhập thể vào cuộc sống và hướng dẫn chúng ta sống làm người môn đệ đích thực của Chúa Kitô.

   Thay v́ hỏi “ai là người thân cận của tôi?”  chúng ta nên tự hỏi: “Tôi là người thân cận của ai?”  Từ đó, chúng ta mới không mất thời giờ biện minh cho những hành động thiếu bác ái của ḿnh. Mặc dù nhiều lúc thấy việc làm sai quấy rơ ràng, nhưng ai cũng có khuynh hướng muốn t́m mọi lư lẽ chống chế. Nếu biết tự vấn, chúng ta sẽ thấy bất cứ ai cũng có thể là người thân cận của ḿnh. Không c̣n phân biệt chủng tộc, niềm tin hay địa vị xă hội của những người đang gặp cảnh khốn cùng. Bất cứ đang sống ở đâu, chúng ta vẫn có những người túng thiếu bên cạnh. Không có lư do ǵ từ chối họ. Nếu có ḷng yêu thương thực sự, không thể không hành động cho con người cùng khốn.

   Người thông luật giả bộ t́m xem giới luật đó áp dụng cho ai. Nhưng dụ ngôn t́m cách xác định chủ thể, chứ không phải đối tượng t́nh yêu. Chúa đă chọn người Samari để minh họa một chủ thể không bị giới hạn vào một loại người nào. Như thế mới hay ai cũng có thể đạt tới sự sống (vĩnh cửu) nhờ giới luật t́nh yêu. T́nh yêu phải vô điều kiện, chứ không bao giờ nằm trong những tính toán hay những áp chế miễn cưỡng của bất cứ guồng máy nào. Tuy là một giới răn, nhưng t́nh yêu không bao giờ ép buộc ai. Một khi bị ép buộc, t́nh yêu không c̣n là t́nh yêu nữa. Chỉ tự do mới làm cho t́nh yêu có giá trị.

   Nhưng t́nh yêu không dừng lại ở cảm xúc. Nếu chỉ cảm thương mà không ra tay hành động, người Samari có khác ǵ các thày Tư tế, Lêvi? Cũng như tri thức, cảm xúc không đủ sức mạnh đẩy ta tới anh em. Thiếu ǵ những viên chức tôn giáo quá trọng luật lệ đến quên cả bổn phận thương yêu và dấn thân. Chưa kể bao người chỉ thích chiều theo xung động mà lên án người khác, không hề biết người ḿnh lên án là ai và đă làm ǵ. Không bao giờ t́m thấy bất cứ một khích lệ nào, ngay cả khi nói bông đùa với anh em.

T̀NH LIÊN ĐỚI

   Tại sao người Samari lại tỏ t́nh liên đới với nạn nhân? Chắc chắn không phải v́ lư do tôn giáo, chủng tộc, giai cấp. Hoàn toàn v́ t́nh người tự nhiên. Tôn giáo, luật lệ v.v. cũng chẳng giúp lay tỉnh con người, nếu lương tâm đă chết hay con tim đă khô cứng. Dù có đủ lư do để biện minh cho hành động, thày Tư tế và Lêvi không thể lấy lề luật khỏa lấp lương tâm. “Một ḿnh công lư không đủ. Thực vậy, công lư c̣n có thể phản bội chính ḿnh, nếu không mở rộng ṿng tay đón nhận quyền lực sâu xa hơn, đó là t́nh yêu. Quả thế, bên cạnh giá trị công lư, học thuyết Xă Hội của Giáo Hội c̣n đặt giá trị t́nh liên đới, v́ đó là con đường đặc biệt dẫn tới ḥa b́nh.  Nếu ḥa b́nh là hoa quả của công lư, th́ ngày nay có thể nói một cách chính xác và theo thần hứng Thánh Kinh: Ḥa b́nh là hoa quả của t́nh liên đới.”[2]

   T́nh liên đới vượt trên các tính toán khô cứng của đầu óc duy luật và tôn giáo. Thánh Thomas Aquinas từng nói: “Nếu không có ḷng từ bi, công lư thật tàn bạo. Nhưng nếu không có công lư, ḷng từ bi là mẹ sinh ra sự băng hoại đạo đức.” Người Samari vừa có ḷng từ bi, vừa nêu gương công chính. Dù không mắc nợ hay liên hệ ǵ, nhưng ông cư xử rất “có hậu” với nạn nhân. Bằng chứng, ông đă trả tiền trọ qua đêm và lo lắng thanh toán tất cả phí tổn cho nạn nhân khi trở lại nữa (Lc 10:35). Ông không muốn đặt gánh nặng lên vai người khác. Ông thật chu đáo!

   Chỉ có ḷng từ bi mới giúp con người khám phá thấy ḿnh liên đới với mọi người. Khi có ḷng từ bi thực sự, con người không thể ngồi yên nh́n tha nhân quằn quại trên đau khổ hay lẩn tránh nạn nhân. Con người có thể làm ngơ trước những đau khổ tha nhân, nhưng không thể trốn tránh được chính ḿnh, nhất là khi ḿnh nắm giữ vai tṛ lănh đạo như các Tư tế và thày Lêvi.  Có chức vị quan trọng như thế, không thể không liên đới tới người khác. Nhưng chức vị, đạo đức và học vấn cũng không chắc giúp con người nhận ra mối liên đới và nhất là can đảm dấn thân hành động v́ lợi ích tha nhân. 

   Cách đây ít tháng, nữ tu Anne Thole đă chết v́ cố gắng cứu bệnh nhân AIDS trong một vụ hoả hoạn tại trung tâm nuôi dưỡng người mắc bệnh AIDS tại giáo phận Dundee bên Nam Phi.  Lúc đó chị mới 35 tuổi và đang giữ chức Giám Đốc Nhà Tập. Báo chí tại Johannesburg Nam Phi nhiệt liệt ca ngợi vị nữ tu trẻ đẹp này, và không ngần ngại tôn vinh chị là thánh tử đạo.[3]   Nếu không có tấm ḷng từ bi và t́nh liên đới, làm sao chị nữ tu dám liều mạng cứu vớt người khốn cùng như thế?  Người Samari chỉ mất chút thời giờ và tiền bạc. C̣n chị nữ tu Anne Thole mất cả mạng sống. 

   B́nh thường ai cũng thích sống theo kiểu “cháy nhà hàng xóm, bằng chân như vại.”  Tại sao chị Anne Thole lại không “bảo trọng” đến nỗi mất mạng như vậy?!  Chị có nợ nần hay liên hệ ǵ với những bệnh nhân bệnh AIDS đó mà phải trả giá quá mắc như thế đâu! Các bệnh nhân đó bị xă hội xa lánh và chẳng c̣n giá trị trước mắt người đời, sao chị lại đánh đổi cả một mạng sống quư giá của ḿnh?  Hàng trăm câu hỏi có thể được gợi lên trong những đầu óc “khôn ngoan” như Tư tế và thày Lêvi. Rất may trong đầu chị Anne Thole (cũng như người Samari) không có những tính toán như thế, nên mới có những giá trị Tin Mừng đích thực nơi những nhân chứng sống động hôm nay.

KHI THÁNH LINH HOẠT ĐỘNG

   Người Samari là một nhân chứng không phải của niềm tin, nhưng của một con người c̣n có lương tâm. Chúa Giêsu thấy ngay trong lương tâm và cách hành xử tự nhiên đó có một giá trị Tin Mừng rất lớn. Lương tâm dạy cho ông biết ḿnh liên đới với mọi người, nhất là những người đang có nhu cầu cấp thiết phải giải quyết để sống c̣n. Nếu không phản ứng kịp thời, mạng sống nạn nhân có thể bị đe dọa. Nhờ phản ứng tích cực và thực tế, người Samari đă hoàn thành nghĩa vụ đối với người thân cận ông chưa một lần quen biết. 

   Với những người xa lạ mà ông Samari c̣n cảm thấy liên đới và bổn phận cứu giúp như vậy, tại sao với những đối với đồng bào ruột thịt, chúng ta lại có thể phủi tay và làm lơ như chưa hề quen biết?!  Chẳng lẽ sống trên đời chỉ lo thăng quan tiến chức và làm giàu để vinh thân ph́ da?  Trước t́nh cảnh đồng bào bị đánh nhừ tử và bị quăng ra ngoài đường, ta có thể “sống chết mặc bay” được không ?

   Khắp hang cùng ngơ hẻm, các bóng áo đỏ, áo đen, áo vàng đang lướt qua những nạn nhân chế độ. Họ bưng tai trước những tiếng rên siết của đồng bào, đồng đạo. Họ ngang nhiên bước qua những xác chết để kịp giờ dâng lễ mỗi ngày. C̣n đâu những người con của hằng trăm ngàn các anh hùng tử đạo Việt Nam? C̣n đâu Đạo Nhập Thể giữa ḷng dân tộc? C̣n đâu những chứng từ cần thiết cho Giáo Hội lớn mạnh?

   Người ta đă chính trị hóa mọi thực tại, để bịt miệng và vô hiệu hóa sức mạnh Tin Mừng. Đó là một âm mưu thâm độc nhằm hạ uy thế Giáo Hội. Không phải bất cứ những ǵ liên quan tới con người và xă hội đều là chính trị. Tin Mừng phục vụ con người, nhưng không theo phương cách và đường hướng chính trị. Nên nhớ Giáo Hội không quá mù quáng và bất lực đến nỗi làm thinh trước sự thao túng chân lư và danh dự Giáo Hội cho một mục tiêu chính trị. Khi chính Giáo Hôi Việt Nam hay Hội Đồng Giám Mục Việt Nam trở thành nạn nhân, không ai cứu nổi Giáo Hội Việt Nam ngoài Giáo Hội Việt Nam. Bởi vậy, Giám Mục Nguyễn Văn Ḥa, chủ tịch HĐGMVN, mới can đảm lên tiếng bênh vực sự thật trong lá thư đề ngày 7 tháng 7, năm 2007, gởi thẳng cho chủ tịch nước Việt Nam Nguyễn Minh Triết. Nguyên văn bức thư có đoạn: “Thay mặt Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, tôi kính gửi lời thăm Cụ và thưa Cụ việc sau đây: Nhân đọc trong báo “Tuổi Trẻ”, số ra ngày 6 tháng 7 năm 2007, tại trang 3, liên quan đến vụ xét xử Linh mục Nguyễn Văn Lư, Hội Đồng Giám Mục Việt Nam nhận định như sau: Câu trả lời của Cụ Chủ tịch Nước Nguyễn Minh Triết “Hội Đồng Giám Mục Việt Nam và Ṭa Thánh Vatican cũng đồng t́nh với chúng tôi “ là không đúng sự thật.”[4]  

   Thực ra, câu nói đó đăng trên báo Nhân Dân, cơ quan chính thức của đảng Cộng Sản và Nhà Nước Việt nam.[5]  Họ không e ngại đụng tới quyền lực cao nhất của Giáo Hội Công Giáo hoàn vũ và đất nước. Tất cả đều bị họ biến phương tiện phục vụ quyền lợi đảng! Không biết liêm sỉ ở chỗ nào!  Đáng lẽ địa vị càng cao, càng phải tôn trọng sự thật chứ!  Tất cả danh dự con người và hướng tiến xă hội đều tùy thuộc sự thật! 

   Phải chăng “việc lên tiếng của Hội đồng Giám Mục Việt Nam là v́ danh dự của các ngài,”[6] như linh mục Trần Công Nghị nhận định?  Chẳng lẽ bao giờ người ta đụng đến ḿnh, ḿnh mới lên tiếng sao?  Tuy chưa ai đụng tới ḿnh, người Samari đă tích cực can thiệp để giúp đỡ nạn nhân. Có lẽ nhận định của linh mục Trần Công Nghị chưa sâu sắc đủ để thấy hết vấn đề.

   Muốn thấy hết vấn đề, phải mượn nhận định của HY Phạm Minh Mẫn: “Thực tế cho thấy cơ quan truyền thông xă hội nơi nầy nơi khác thông truyền có khi là sự thật thật, có khi là sự thật ảo, có khi là sự thật bị cắt xén, bị bóp mép, thêm râu ria, có khi là sự thật một chiều, một mặt. Phải chăng nguyên nhân là do quan điểm cho rằng sự thật chỉ là những ǵ có lợi cho ḿnh? Hoặc do cái nh́n bị giới hạn bởi hoàn cảnh? Hoặc do nỗi sợ hăi nào đó thường núp bóng sau lưng những h́nh thức bạo lực? Và hậu quả trước mắt là dễ tạo ra mâu thuẫn đối kháng, hoặc gây nhiễu và làm biến chất những mối quan hệ xă hội.”[7]

   Thế là chỉ ba ngày sau khi Giám Mục Nguyễn Văn Ḥa gởi lá thư cho ông Triết, tức ngày 10.07.2007, HY Phạm Minh Mẫn đă lên tiếng: “Tôi nghĩ rằng sự thật là một yếu tố nền tảng cho công cuộc phát triển vững bền đất nuớc, xây dựng các mối quan hệ xă hội thành một sức mạnh cho công cuộc phát triển đó.”[8]  Đúng như thế!  Đất nước c̣n lạc hậu v́ sự thật bị xuyên tạc và che đậy khắp nơi. Chính v́ không nắm được sự thật, con người chưa được giải thoát và dân tộc vẫn chưa có tự do.  

   Lạy Chúa, cảm tạ Chúa đă ban cho các vị lănh đạo chúng con can đảm lên tiếng nói sự thật.  Xin Chúa Thánh Thần  hoạt động mạnh mẽ  trong GHVN chúng con.  Amen.

   Đỗ Vân Lực


[1] Trịnh Công Sơn, Diễm Xưa.

[2] Toát Yếu Học Thuyết Xă hội của Giáo Hội, Ủy Ban Giáo Hoàng về Công Lư và Ḥa B́nh, 2004:90.

[3] x. VietCatholicNews 06/04/2007, không biết VietCatholic lấy từ  nguồn nào.

[4] http://www.honnho.org/

[5] http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/story/2007/07/070713_vietcatholicviewnhandan.shtml

[6] http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2007/07/12/VnBishopCouncilRetortsPresidentTriet_GMinh/

[7] http://www.honnho.org/

[8] ibid.