

ĐỌC: "LÊN TIẾNG HAY KHÔNG LÊN TIẾNG" (Lm Nguyễn Ngọc Tỉnh)
Quí vị đang nghe Linh mục PHẠM MINH TRIỆU thuyết giảng tại nhà thờ ĐỒNG CHIÊM chiều ngày 6 tháng 1 năm 2010
|
Non
một tuần sau vụ Đồng Chiêm, nay ta đă
có bài “Lên
tiếng hay không lên tiếng”
đề ngày 13-01-2010 của Ban Biên Tập WHĐ trên
trang mạng của HĐGM/VN. Như thế là sau non
một tuần chờ đợi, sau khi “trang
điện tử của HĐGM/VN nhận được
nhiều thư góp ư và một thắc mắc thường
được nêu lên là : tại sao HĐGM không lên
tiếng ?”, ta đă có được câu trả
lời. Người viết bài này không có cao vọng
làm một bài phân tích tỉ mỉ văn thư nói
trên, mà chỉ xin đưa ra mấy nhận xét. Tiêu
chí Hiệp thông Ông
bà ta vẫn nói “máu chảy ruột mềm”. Trước
những biến cố đau thương đă
xảy đến qua các vụ Toà Khâm Sứ, Thái Hà,
Tam Toà… và nay là Đồng Chiêm, việc đầu
tiên mọi người chờ đợi là sự
hiệp thông, là lời cầu nguyện. Ở đây,
chỉ nói đến riêng chuyện Đồng Chiêm.
Tất cả các giám mục giáo tỉnh Hà Nội,
với một giám mục giáo tỉnh Huế, đă có
thư hiệp thông. Các giám mục khác th́ không. Tiêu
chí của Năm Thánh 2010, cũng như mầu
nhiệm hiệp thông trong Hội Thánh, dừng lại
nơi lằn ranh địa lư. Một câu nói, một
lá thư, đâu tốn kém ǵ mà phải để
cho người người thắc mắc. Sao có
thể chấp nhận thái độ lạnh lùng cách
dễ dàng như thế được ! Đất
địa phương nào, địa phương
đó lo Dựa
theo bài “Lên tiếng hay không lên
tiếng”,
có vẻ như nguyên tắc đề ra là :
chuyện địa phương nào, địa phương
đó lo. Tại sao chấp nhận để cho Nhà Nước
“bẻ đũa từng chiếc” mà không có
được một tiếng nói chung, khi tất
cả mọi địa phương đều có
chung vấn đề đất
? Tại các nước khác, các HĐGM có Uỷ Ban Công
Lư Hoà B́nh để có thể trợ giúp HĐGM, mà
ở Việt Nam th́ không. Nếu HĐGM chưa bao
giờ đặt vấn đề th́ đừng
đổ lỗi cho Nhà Nước. C̣n nếu Nhà Nước
không chấp nhận th́ cũng nên nói cho bàn dân thiên
hạ biết để khỏi thắc mắc và
phiền trách các giám mục. Để biện minh cho
sự thinh lặng của các giám mục, bản Lên
tiếng
có nhắc đến bản “Quan điểm…”
công bố ngày 27.9.2008. Nhưng đâu phải chỉ
cần ra một văn bản với vài ba trang
giấy là giải quyết được vấn
đề. Không
chỉ là chuyện đất Bản
“Lên
tiếng”
cũng như bản “Quan điểm”
đều nhấn mạnh đến đất,
trong khi ngay từ đầu, người khởi xướng
phong trào cầu nguyện để đ̣i đất,
là Đức Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt,
đă minh định : mục
tiêu nhắm tới là công lư hoà b́nh, mục tiêu này
đă được nhắc lại trong các buổi
cầu nguyện khắp nơi. Vậy th́ đất
nhà thờ, đất tôn giáo chỉ là khởi
điểm cho một mục tiêu cao hơn, rộng
hơn, vượt xa khỏi ranh giới những
mảnh đất nhà thờ. Nét
đặc thù của vụ Đồng Chiêm Có
vẻ như bản “Lên tiếng”
cố t́nh không đề cập đến nét đặc
thù của vụ Đồng Chiêm là : Cây Thánh Giá
bị đập phá, biểu tượng thiêng liêng
nhất của Ki-tô giáo bị xúc phạm trầm
trọng. Đây quả là một chuyện động
trời, khiến bất cứ Ki-tô hữu nào cũng
sững sờ và đau xót, nhưng lại chỉ có
các giám mục giáo tỉnh miền bắc với
một giám mục giáo tỉnh miền trung lên
tiếng. C̣n tất cả các vị khác th́ hoàn toàn
lặng thinh. Đây mới là điều gây thắc
mắc và bất b́nh cho mọi Kitô hữu. Khi đánh
vào Thánh Giá Đồng Chiêm, chính quyền cộng
sản Việt Nam đă muốn làm một phép
thử nhằm đo sức mạnh của khối Công
Giáo Việt Nam. Và nay thấy thái độ của các
giám mục trong vụ việc này, chính quyền có
thể kết luận rằng nếu không hẳn là
một con cọp giấy, th́ Công Giáo Việt Nam cũng
chỉ là một con cọp con chưa đến
tuổi mọc răng. Đất
là của toàn dân, tôn giáo cần th́ phải xin Những
thửa đất tranh chấp, đất tư nhân
hay đất tôn giáo, thường là đất
sở hữu cách hợp pháp trước khi có
cộng sản tại Việt Nam. Dưới chế
độ cộng sản, trên nguyên tắc, theo
Hiến pháp, đất đai thuộc về toàn dân,
cá nhân cũng như bất cứ một tổ
chức nào, chẳng hạn tôn giáo, có nhu cầu th́
phải xin. Nhưng đă nói chuyện “đi xin” th́
được hay không tuỳ ở người cho, và
đây là mấu chốt của vấn đề. Nhưng
làm sao t́m được một giải pháp căn cơ
cho vấn đề ? Vào năm 2002, tiếp theo sau
Hội nghị thường niên, HĐGM/VN đă
đưa ra một Thư
ngỏ
gửi các cơ quan lập pháp của Nhà Nước
Việt Nam (xem tài liệu đính kèm), trong đó các
giám mục phản bác cơ chế xin-cho của
chế độ cộng sản hiện nay. Đứa
con vô thừa nhận Lẽ
ra văn kiện này phải là niềm vinh dự cho Giáo
Hội Việt Nam, v́ là một đóng góp có ư nghĩa
cho Dân tộc, như ch́a khoá để giải
quyết tận gốc bao nhiêu vấn đề xă
hội. Nhưng đây lại không phải là giải
pháp được Nhà Nước độc tài
chấp nhận. Và chắc cũng v́ thế mà trong
những năm gần đây, hầu hết các giám
mục không buồn nhắc đến văn kiện
này nữa. Có vào trang mạng của HĐGM/VN để
t́m cũng không thấy. Và thế là Thư
ngỏ 2002
một thời nổi đ́nh nổi đám, nay thành
”đứa con vô thừa nhận”. Giải
pháp cho mọi vấn đề Đến
đây ta dễ dàng nhận ra giải pháp cho mọi
vấn đề. Tự do tôn giáo không thể là
một cái ǵ riêng lẻ. Phải có tự do cho
hết mọi người th́ mới có tự do tôn
giáo. Khi linh mục Nguyễn Văn Lư nói : “Tự do
hay là chết”, th́ nhiều người trề môi
bảo ngài làm chính trị. Nhưng nay nh́n lại,
đă đến lúc ta phải khiêm tốn nhận
rằng Nguyễn Văn Lư là người đă t́m
được ch́a khoá cho mọi vấn đề
cốt lơi liên quan đến sự sống c̣n
của Dân Tộc Việt Nam hôm nay. Người
viết bài này không hề muốn “làm chính trị”,
mà chỉ ghi lại suy nghĩ của ḿnh từ
những vấn đề thời sự. Kết
luận “Chia
để trị” hay “bẻ đũa từng
chiếc” là sách lược của mọi chế
độ độc tài. Khi chủ trương
“chuyện địa phương nào, địa phương
đó lo”, HĐGM/VN đă sa vào bẫy. Và trong hoàn
cảnh đó mà mong đối thoại, là tự ru
ngủ ḿnh. Làm sao đối thoại khi ở vào
thế yếu, khi bị coi thường, thay v́
được kính nể ! Nếu nh́n rộng ra hơn,
ta phải công nhận rằng : mọi vấn đề
liên quan đến tôn giáo chỉ có thể có
được một giải pháp căn cơ,
nếu các tôn giáo biết cùng nhau ngồi lại.
Cuối cùng th́ những người có tôn giáo cũng
sẽ chỉ thành công, nếu có sự hỗ trợ
từ phía nhân dân, nghĩa là nếu các tôn giáo có
được tiếng nói chung với cả cộng
đồng dân tộc. Từ đó chúng ta khám phá ra
rằng : phương châm “Đồng hành với Dân Tộc” hay “Sống
Phúc Âm giữa ḷng Dân Tộc” (xem tài liệu
đính kèm) đích thực là chiếc đũa
thần cho mọi giải pháp. Với điều
kiện : đó không chỉ là một nguyên tắc
trừu tượng, một chủ trương trên
giấy, nhưng đích thực là kim chỉ nam cho
mọi hoạt động của người Công Giáo
Việt Nam. Bao lâu v́ chăm chú “lo chuyện đạo”
mà chúng ta lạnh lùng với các tôn giáo bạn, xa
rời quần chúng nhất là đại đa số
dân nghèo, hững hờ với vận mạng Dân
Tộc, th́ Đồng Chiêm chưa phải là điểm
dừng. Sài-g̣n, ngày 15 tháng 01 năm 2010
|
|
(THƯ
CHUNG 1980 VÀ THƯ NGỎ 2002) THƯ CHUNG 1980 CỦA HỘI
ĐỒNG GIÁM MỤC VIỆT NAM Hội
đồng Giám mục Việt Nam gửi toàn thể
linh mục, tu sĩ và giáo dân cả nước: THÔNG
TIN VỀ ĐẠI HỘI GIÁM MỤC TOÀN QUỐC 1. Trong tâm t́nh biết ơn Anh
chị em thân mến, Anh
chị em hăy cùng chúng tôi dâng lời tạ ơn Thiên
Chúa về Hội nghị các giám mục toàn quốc,
tổ chức tại Hà Nội, thủ đô Nước
Cộng Hoà Xă Hội Chủ Nghĩa Việt Nam chúng
ta, từ 24-4 đến 1-5-1980. Kể
từ lúc thành lập Hàng Giáo phẩm Việt Nam vào
năm 1960, và nhất là từ ngày nước nhà
được thống nhất, chúng ta đều
ước mong có cuộc họp này. Toà Thánh và riêng
Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II mỗi khi có dịp cũng
luôn bày tỏ một tâm t́nh như vậy, diễn
tả ư muốn của chính Công đồng Vatican II. V́
thế chúng ta thành thật biết ơn Chính Phủ
đă giúp đỡ và tạo điều kiện
thuận lợi cho Đại hội này. Chúng tôi cũng
cám ơn anh chị em đă cầu nguyện nhiều
cho Đại hội này được thành công
tốt đẹp. 2. Một tuần lễ làm
việc Chúng
tôi vui mừng được gặp nhau, và trong
suốt một tuần lễ làm việc, chúng tôi
được dịp hiểu biết t́nh h́nh giáo
phận trong cả nước. Nhờ đó chúng tôi
thấy rằng, mặc dù sống xa nhau, tâm hồn chúng
tôi vẫn là một, và cùng chia sẻ những
nỗi âu lo, niềm phấn khởi và nguyện
vọng của toàn thể Dân Chúa trên đất nước
thân yêu này. Trong
tinh thần hợp nhất ấy, chúng tôi đă
cầu nguyện và suy nghĩ nhiều về nhiệm
vụ của Giáo Hội chúng ta trong giai đoạn
lịch sử này. Chúng tôi đă duyệt lại
nội quy và đặt lại cơ cấu của
Hội đồng Giám mục Việt Nam. Chúng tôi cũng
đă chuẩn bị việc tham dự Thượng
Hội đồng Giám mục Thế giới khoá V
về “các chức năng của gia đ́nh Kitô giáo
trong thế giới hôm nay”, và việc các giám
mục Việt Nam đi viếng mộ hai thánh Tông
đồ Phêrô và Phaolô tại Toà Thánh Roma năm nay
theo quy định của Giáo luật. Trước
khi bế mạc Đại hội, chúng tôi đă vào
lăng kính viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh, và
đă đến yết kiến Thủ tướng Chính
phủ. 3. Ư nghĩa việc đi Roma Việc
đi viếng mộ các Tông đồ và việc tham
dự Thượng Hội đồng Giám mục
Thế giới tại Roma nói lên hai đặc tính
của Hội Thánh Chúa Kitô là phổ quát và hợp
nhất, đồng thời thể hiện tinh
thần tập thể và đồng trách nhiệm
của các giám mục đối với Hội Thánh
toàn cầu. Xin anh chị em cầu nguyện nhiều
để chúng tôi hoàn thành tốt đẹp sứ
mạng này. 4. Tổ chức Hội đồng
Giám mục Việt Nam Chúng
tôi cũng phải cùng nhau gánh vác mọi trách
nhiệm của chức vụ giám mục trong tinh
thần tập thể và đồng trách nhiệm.
Bởi thế, việc thành lập Hội đồng
Giám mục Việt Nam là để phục vụ anh
chị em đắc lực hơn, v́ như ư Công
đồng Vatican II, Hội đồng Giám mục là
nơi quy tụ các vị lănh đạo Giáo Hội
trong một quốc gia hay một lănh thổ để
hợp nhất với nhau thi hành mục vụ theo
thể cách và phương thức thích hợp với
hoàn cảnh (GM 30,1).
ĐƯỜNG
HƯỚNG MỤC VỤ A.
MỘT HỘI THÁNH V̀ LOÀI NGƯỜI 5. Ánh sáng từ một thông
điệp Anh
chị em thân mến, Bước
vào giai đoạn mới này của dân tộc, chúng
tôi muốn nh́n vào gương Đức Phaolô VI khi
người mới làm giáo hoàng. Trong thông điệp
đầu tiên của người nhan đề “Giáo
Hội Chúa Kitô”, người đă suy nghĩ
nhiều về sứ mạng của Hội Thánh trong
thế giới hôm nay. Mối bận tâm chính của
người xoay quanh 3 tư tưởng lớn. Tư
tưởng thứ nhất là đă đến lúc Giáo
Hội phải có một nhận định sâu xa
về chính ḿnh, phải suy gẫm về mầu
nhiệm của ḿnh. Tư tưởng thứ hai là
“đem bộ mặt thực của Giáo Hội ngày
nay đối chiếu với h́nh ảnh lư tưởng
của Giáo Hội như Đức Kitô đă
thấy, đă muốn và đă yêu như bạn thánh
thiện và tinh tuyền của ḿnh” (Ep 5,27), từ
đó “sinh ra một ước muốn quảng đại
và bức thiết là phải canh tân”. C̣n tư tưởng
thứ ba như là kết luận của hai tư tưởng
trên, nói về những quan hệ phải có giữa
Giáo Hội và thế giới (GHCK 9-14). Đức
Thánh Cha nhận định thêm rằng, ba đề tài
trên cũng là mối bận tâm của mọi thành
phần Dân Chúa. Vậy chúng tôi giới thiệu
những đề tài ấy với anh chị em để
chúng ta tâm niệm hằng ngày. 6. Hội Thánh là Dân Thiên Chúa Công
đồng dựa vào lịch sử cứu chuộc
để t́m hiểu và tŕnh bày bản chất
của Hội Thánh. Trong chương tŕnh cứu
chuộc loài người, Thiên Chúa đă lấy giao
ước quy tụ một ḍng dơi làm dân riêng
của Người. Và qua lịch sử dân ấy, Người
đă mạc khải chính ḿnh Người và ư định
cứu chuộc của Người cho toàn thể nhân
loại. Nhưng dân ấy chỉ là h́nh bóng và là công
cuộc chuẩn bị cho dân mới của Thiên Chúa,
sẽ được quy tụ bằng giao ước
mới mà Chúa Giêsu Kitô đă thiết lập bằng
Máu Thánh Người. Dân
giao ước mới này chính là Hội Thánh Chúa Kitô,
quy tụ mọi người từ khắp mọi nơi
mọi nước trên trần gian, vượt
thời gian và biên giới các dân tộc. Chúa Thánh
Thần nối kết họ nên một khi giải phóng
họ khỏi tội lỗi và ban cho họ được
làm con cái Thiên Chúa. Họ có giới răn mới là
bác ái yêu thương (Ga 13,34) và ngay từ buổi
đầu, họ đă là một cộng đoàn có
tổ chức với những phận vụ khác nhau
do chính Chúa Giêsu Kitô đă thiết lập hầu mưu
ích cho toàn Nhiệm Thể (GH 18). Mục đích
của dân mới là “phát triển Nước Chúa
cho tới khi hoàn tất” (GH 9,3). 7. Hội Thánh v́ loài người Dân
cũ có sứ mạng đón nhận ơn cứu
chuộc cho cả nhân loại. Dân mới có sứ
mạng đem ơn cứu chuộc đến
từng dân tộc và từng người qua mọi
thời đại, như lời Công đồng
Vatican II: “Dân mới được Chúa Kitô thiết
lập để thông dự vào sự sống, bác ái
và chân lư, được Người sử dụng
như khí cụ cứu rỗi cho mọi người,
và được Người sai đi khắp thế
giới như ánh sáng trần gian và như muối
đất” (Mt 5,13-16; GH 9,2). Người
sử dụng họ làm khí cụ cứu rỗi,
bởi v́ “Thiên Chúa không muốn thánh hoá và cứu
rỗi loài người cách riêng rẽ và thiếu liên
kết, nhưng muốn quy tụ họ thành một dân
để họ nhận biết chính Người trong
chân lư và phụng sự Người trong thánh
thiện” (GH 9,1). Do đó, mục tiêu cuối cùng
trong mọi sinh hoạt của Hội Thánh là
đưa loài người và tất cả thực
tại của thế giới loài người đến
thông dự vào sự sống, bác ái và chân lư của
Thiên Chúa. Theo ư nghĩa này, Công đồng gọi
Hội Thánh là “Bí tích, nghĩa là dấu chỉ và
khí cụ của sự kết hợp mật thiết
với Thiên Chúa và của sự hợp nhất toàn
thể nhân loại” (GH 1). Bởi
vậy, sứ mạng của Hội Thánh không
những là đem Phúc Âm thấm nhuần và hoàn
thiện những thực tại trần thế (TĐ
5). Không có sinh hoạt nào của con người
lại xa lạ đối với sứ mạng
của Hội Thánh, và ngược lại không có sinh
hoạt nào của Hội Thánh không liên quan tới
tất cả cuộc sống con người. Lời
rao giảng Tin Mừng và các cử hành bí tích đem
ân sủng của Thiên Chúa vào đời sống con
người, c̣n sinh hoạt trần thế của tín
hữu đem thực tại của con người
đến với Thiên Chúa. Do đó đối
với người tín hữu, xao lăng bổn phận
trần thế tức là xao lăng bổn phận đối
với tha nhân, và hơn nữa đối với chính
Thiên Chúa, khiến phần rỗi đời đời
của ḿnh bị đe doạ (MV 43). Tóm
lại, sứ mạng của Hội Thánh là tiếp
nối sứ mạng của Chúa Giêsu Kitô, Đấng
đă đến không phải để được
người ta hầu hạ, nhưng để
phục vụ tất cả loài người. Đúng
như Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đă giải thích
trong thông điệp “Đấng Cứu Chuộc Con
Người” rằng: “Con người là con
đường của Hội Thánh”. Nghĩa là
tất cả mọi con đường của Hội
Thánh đều dẫn tới con người (ĐCCCN
14). Đây cũng là điểm gặp gỡ giữa
Hội Thánh và xă hội trần thế, v́ “dù tin
hay không tin, con người đều phải góp
phần xây dựng thế giới cho hợp lư, v́
họ cùng chung sống trong thế giới này” (MV
21,6).
B.
HỘI THÁNH TRONG L̉NG DÂN TỘC 8. Hội Thánh của Chúa Giêsu
Kitô Để
sống trung thành với bản chất và sứ
mạng của Hội Thánh như vừa nói ở trên,
chúng tôi đề ra đường hướng
mục vụ sau đây: chúng ta phải là Hội Thánh
của Chúa Giêsu Kitô trong ḷng dân tộc Việt Nam. Trước
hết, chúng ta phải là Hội Thánh của Chúa Giêsu
Kitô nghĩa là: -
Gắn bó với Chúa Kitô và hợp nhất với
Hội Thánh toàn cầu. -
Gắn bó với Đức Giáo hoàng, vị đại
diện Chúa Kitô, người được Chúa giao
trách nhiệm “chăn dắt đoàn chiên của Người”
(Ga 21,15-18), và “làm cho anh em vững mạnh” (Lc 22,32). -
Gắn bó với nhau trong t́nh huynh đệ theo
kiểu mẫu Hội Thánh thời sơ khai:
“Chỉ có một tấm ḷng, một linh hồn, không
một người nào nói là ḿnh có của riêng nhưng
đối với họ, mọi sự là của chung”
(Cv 4,32; 2,42). -
Trung thành với tinh thần của Công đồng
Vatican II là tinh thần cởi mở, đối
thoại và hoà ḿnh với cộng đồng xă
hội ḿnh đang sống. Để
đạt mục đích ấy, trước hết
chúng ta phải không ngừng hoán cải lương tâm
và thay đổi cách sống của mỗi cá nhân cũng
như mỗi cộng đoàn Dân Chúa trong Hội Thánh
ở Việt Nam sao cho phù hợp với Phúc Âm hơn.
Công việc này chúng ta thực hiện nhờ lắng
nghe Lời Chúa, lănh nhận các bí tích, chuyên cần
cầu nguyện và thành tâm kiểm điểm đời
sống (LBTM 15). 9. Gắn bó với dân
tộc và đất nước Là
Hội Thánh trong ḷng dân tộc Việt Nam, chúng ta
quyết tâm gắn bó với vận mạng quê hương,
noi theo truyền thống dân tộc hoà ḿnh vào
cuộc sống hiện tại của đất nước.
Công đồng dạy rằng “Hội Thánh phải
đồng tiến với toàn thể nhân loại và
cùng chia sẻ một số phận trần gian
với thế giới” (MV 40,2). Vậy chúng ta
phải đồng hành với dân tộc ḿnh, cùng
chia sẻ một cộng đồng sinh mạng
với dân tộc ḿnh, v́ quê hương này là nơi
chúng ta được Thiên Chúa mời gọi để
sống làm con của Người, đất nước
này là ḷng mẹ cưu mang chúng ta trong quá tŕnh
thực hiện ơn gọi làm con Thiên Chúa, dân
tộc này là cộng đồng mà Chúa trao cho chúng ta
để phục vụ với tính cách vừa là công
dân vừa là thành phần Dân Chúa. Sự
gắn bó hoà ḿnh này đưa tới những
nhiệm vụ cụ thể mà chúng ta có thể tóm
lại trong hai điểm chính: -
Tích cực góp phần cùng đồng bào cả nước
bảo vệ và xây dựng tổ quốc. -
Xây dựng trong Hội Thánh một nếp sống và
một lối diễn tả đức tin phù hợp
với truyền thống dân tộc. 10. Cùng đồng bào cả
nước bảo vệ và xây dựng tổ quốc Về
nhiệm vụ thứ nhất là tích cực góp
phần cùng đồng bào cả nước bảo
vệ và xây dựng tổ quốc, chúng tôi muốn
khẳng định rằng: yêu tổ quốc, yêu
đồng bào, đối với người Công giáo
không những là một t́nh cảm tự nhiên
phải có mà c̣n là một đ̣i hỏi của Phúc
Âm, như Công đồng nhắc nhở: “Các người
Kitô giáo từ mọi dân tộc tụ họp trong
Hội Thánh, không phân cách với những người
khác về chế độ, cũng như về
tổ chức xă hội trần gian, nên họ
phải sống cho Thiên Chúa và cho Chúa Kitô trong nếp
sống lành mạnh của dân tộc ḿnh; là công dân
tốt, họ phải thật sự và tích cực vun
trồng ḷng yêu nước” (TG 15). Ḷng
yêu nước của chúng ta phải thiết thực,
nghĩa là chúng ta phải ư thức những vấn
đề hiện tại của quê hương,
phải hiểu biết đường lối, chính sách
và pháp luật của Nhà Nước, và tích cực cùng
đồng bào toàn quốc góp phần bảo vệ và
xây dựng một nước Việt Nam giàu mạnh,
tự do và hạnh phúc. Trong
công cuộc phục vụ quê hương, Phúc Âm cho
chúng ta ánh sáng và sức mạnh để khắc
phục các khó khăn và các xu hướng cá nhân ích
kỷ, nêu cao tinh thần phục vụ của bác ái
phổ quát, hướng tới cảnh “Trời
Mới Đất Mới” (Kh 21,1), trong đó tất
cả đều hoà hợp hạnh phúc. Và khi
phải phấn đấu xoá bỏ những điều
tiêu cực, chúng ta có ơn của Chúa Kitô Phục
Sinh để mặc lấy con người mới công
chính và thánh thiện. 11. Xây dựng trong Hội Thánh
một nếp sống và một lối diễn tả
đức tin phù hợp với truyền thống dân
tộc Về
nhiệm vụ thứ hai là xây dựng trong Hội Thánh
một lối sống và một lối diễn tả
đức tin phù hợp hơn với truyền
thống dân tộc. Chúng tôi muốn thực hiện
điều Công đồng Vatican II đă tuyên bố:
“Những ǵ tốt đẹp trong tâm hồn và tư
tưởng của loài người hoặc trong
lễ nghi và văn hoá riêng của các dân tộc,
hoạt động của Hội Thánh không nhằm tiêu
diệt, nhưng làm cho lành mạnh, nâng cao và kiện
toàn, hầu làm vinh danh Thiên Chúa và mưu cầu
hạnh phúc cho con người” (GH 17,1). Muốn
thế, một đàng chúng ta phải đào sâu Thánh
Kinh và Thần học để nắm vững
những điều cốt yếu của đức
tin, đàng khác, phải đào sâu nếp sống
của từng dân tộc trong nước, để
khám phá ra những giá trị riêng của mỗi dân
tộc. Rồi từ đó, chúng ta vận dụng
những cái hay trong một kho tàng văn hoá và xây
dựng một nếp sống và một lối
diễn tả đức tin phù hợp hơn với
truyền thống của mỗi dân tộc đang cùng
chung sống trên quê hương và trong cộng đồng
Hội Thánh này.
NGỎ
LỜI VỚI CÁC THÀNH PHẦN DÂN CHÚA 12. Ngỏ lời với giáo
dân Với
anh chị em giáo dân, chúng tôi muốn nói lên ḷng
cảm phục tâm hồn đạo đức
của anh chị em trong việc đọc kinh cầu
nguyện, hiệp dâng thánh lễ và lănh nhận các bí
tích. Chúng tôi cảm ơn anh chị em xưa nay
vẫn một ḷng kính yêu, vâng phục, giúp đỡ
chúng tôi và các người làm việc tông đồ. Chúng
tôi xin dựa vào Công đồng để nói với
anh chị em rằng: Ơn gọi của anh chị em
là nên thánh giữa đời bằng cách sống Phúc
Âm của Chúa Kitô trong các phận sự trần
thế (GH 31; MV 43). Nhờ anh chị em, Giáo Hội
hiện diện ngay trong xă hội và góp phần xây
dựng đời sống vật chất và tinh
thần của dân tộc. Nghĩa vụ cao cả
của anh chị em là sống làm người tín
hữu trung thành của Hội Thánh Chúa Kitô và làm người
công dân tốt của tổ quốc. Để giúp
anh chị em chu toàn nghĩa vụ đó, chúng tôi
đặc biệt nhắc nhở anh chị em vài
điểm sau đây: Anh
chị em hăy tin vào ơn Chúa Thánh Thần đă
được đổ xuống trong ḷng để
nuôi dưỡng đời sống cầu nguyện
của anh chị em: cầu nguyện riêng, cầu
nguyện chung trong gia đ́nh và trong xứ đạo,
và nhất là anh chị em hăy đào sâu đức tin
bằng việc học và dạy giáo lư ngay trong gia
đ́nh của ḿnh. Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II,
trong Tông huấn về việc dạy giáo lư, đă lưu
ư chúng ta rằng: “Việc dạy giáo lư trong gia
đ́nh đi trước, kèm theo và phong phú hoá
mọi h́nh thức dạy giáo lư khác” (DGL). Gia đ́nh
của anh chị em phải trở nên như một trường
học về đức tin, một nơi để
cầu nguyện, một môi trường sống bác
ái yêu thương và rèn luyện tinh thần tông
đồ để làm chứng nhân cho Chúa (Cv 22, 42;
1, 8 GH 11; TĐ 11; LBTM 71). Nhưng
trước tiên gia đ́nh của anh chị em
phải được xây dựng theo phép đạo.
Chúng tôi tha thiết kêu gọi anh chị em thanh niên
quan tâm vun trồng t́nh yêu trong sạch, và khi lập
gia đ́nh, liệu cho hôn nhân của ḿnh chan chứa
phúc lành của Thiên Chúa. Các
nỗ lực để xây dựng gia đ́nh Công giáo
theo tinh thần Phúc Âm phải đồng thời làm
phát triển nơi anh chị em và con cái những
đức tính của người công dân tốt,
nhất là ư thức về chân lư và công b́nh, và tinh
thần sẵn sàng phục vụ lợi ích của
Tổ Quốc. Nhờ hiện diện và sinh hoạt tích
cực giữa đời như vậy, anh chị em
sẽ làm sáng danh Chúa và góp phần hữu hiệu vào
việc xây dựng đất nước. 13. Ngỏ lời với các
tu sĩ Đối
với các tu sĩ nam nữ, chúng tôi đánh giá cao
sự hiện diện và đóng góp của anh chị
em trong đời sống của Dân Chúa. Giáo Hội
qua mọi thời luôn quư trọng ơn gọi tu sĩ
như một dấu hiệu chứng tỏ sự trưởng
thành và sức sống phong phú của Hội Thánh
tại các địa phương. Do đó chúng tôi
muốn nói với anh chị em: hăy xác tín về ư nghĩa
và giá trị cao quư của ơn gọi ḿnh. Dầu
sinh hoạt bên ngoài có thay đổi, sứ mạng
đặc biệt của anh chị em vẫn luôn là
“hiện thân của một Hội Thánh muốn
hiến ḿnh cho đường lối triệt để
của các Mối Phúc Thật”, và anh chị em “dùng
chính cuộc sống của ḿnh làm dấu chỉ cho
tinh thần sẵn sàng phục vụ Thiên Chúa, Giáo
Hội và anh em đồng loại” (LBTM 60; GH 44). Chính
anh chị em sẽ tự thấy được
rằng đường hướng mà chúng tôi
vạch ra cho cả Hội Thánh ở Việt Nam:
sống Phúc Âm giữa ḷng dân tộc với tinh
thần sẵn sàng phục vụ, phù hợp cách riêng
với ơn gọi của anh chị em. Do đó, anh
chị em hăy nêu gương cho giáo dân bằng
việc tích cực đi vào con đường ấy. Chúng
tôi đặc biệt kêu mời anh chị em hăy quan tâm
tuân giữ Luật ḍng, rồi cùng nhau t́m ra, qua suy
nghĩ chung và đối thoại, một thế quân
b́nh lành mạnh cho đời sống tận hiến
của ḿnh: làm sao dung hoà giữa lao động và
cầu nguyện, giữa việc hoà ḿnh vào các sinh
hoạt xă hội - không chỉ v́ kế sinh nhai, nhưng
nhất là để làm chứng nhân cho Chúa - và
sự trung thành với đời sống cộng
đoàn, dung hoà giữa các tổ chức riêng của
mỗi hội ḍng và sự hội nhập vào đời
sống của Giáo hội địa phương trong
sự hiệp thông với cộng đồng Dân Chúa
và Hàng Giáo phẩm. 14. Ngỏ lời với các
linh mục Sau
hết, đối với các linh mục, triều cũng
như ḍng, là những cộng sự viên gần gũi
nhất của Hàng Giám mục, chúng tôi cám ơn anh
em vẫn tận tuỵ phục vụ cộng đồng
Dân Chúa. Anh em hăy lấy làm hănh diện v́ anh em đang
được ḷng tin tưởng, mến yêu của
đoàn chiên. Chính Chúa Thánh Thần đă cùng với
anh em trực tiếp h́nh thành nên đoàn chiên
hiện nay. Anh em hăy tiếp tục làm công việc cao
quư ấy trong sự hiệp thông mật thiết
với Hàng Giám mục chúng tôi. Thư
Chung này vạch ra đường hướng rơ
rệt: chúng ta hăy làm cho mọi tín hữu biết
sống Phúc Âm trong tinh thần yêu mến và trung thành
với Hội Thánh, trước hết bằng chính
đời sống của chúng ta. Công đồng
Vatican II lưu ư: “Trong những đức tính
cần thiết hơn cả cho chức vụ linh
mục, phải kể đến tâm trạng này là
bao giờ cũng sẵn sàng t́m ư muốn của
Đấng đă sai ḿnh chứ không phải t́m ư riêng”
(LM 15). Anh em hăy áp dụng những lời này tiên vàn
cho việc rao giảng Lời Chúa và cử hành
Phụng vụ Thánh, là những phương tiện mà
Chúa Giêsu Kitô muốn dùng, xuyên qua thừa tác vụ
linh mục của anh em, để xây dựng Nhiệm
Thể Người một cách đặc biệt.
Trong những ǵ liên quan tới đường hướng
mục vụ và đời sống phụng vụ
của Giáo Hội, anh em hăy thống nhất hành động
với nhau và với Hàng Giám mục v́ lợi ích
của Dân Chúa, bởi v́ anh em là những “nhà giáo
dục đức tin” (LM 6; DGL 64). Anh
em cũng hăy làm cho Chúa Giêsu Kitô hiện diện
thật sự giữa đoàn chiên, khi anh em phục
vụ các tín hữu cách tận tâm và khiêm tốn (LM
15). Nhất là được nh́n nhận như là người
đại diện chính thức của Hội Thánh
tại địa phương, anh em hăy trở nên h́nh
ảnh của Chúa Cứu Thế, vị Mục Tử
hiền lành và khiêm nhường, để cống
hiến ơn cứu độ cho mọi người.
Xin anh em hăy cùng với chúng tôi đưa Hội Thánh
ở Việt Nam đi vào con đường đă
lựa chọn: là sống Phúc Âm giữa ḷng dân
tộc để phục vụ hạnh phúc của
đồng bào.
KẾT
LUẬN 15. Quá khứ, hiện tại
và tương lai Anh
chị em thân mến, hơn ai hết, các giám mục
chúng tôi ư thức về giới hạn trong khả năng
và tài đức của ḿnh trước nghĩa
vụ đối với Thiên Chúa và Tổ Quốc.
Anh chị em hăy cầu nguyện nhiều cho chúng tôi. Nh́n
về quá khứ, chúng tôi cảm mến sâu sắc bàn
tay nhân lành của Thiên Chúa đă êm ái và mạnh
mẽ hướng dẫn Hội Thánh Người trên
đất nước Việt Nam chúng ta. Chúng tôi
biết ơn công lao của vô vàn tín hữu, đă làm
sáng tỏ đức tin và ḷng yêu nước của
ḿnh. Đừng nh́n quá khứ với mặc cảm
và phán đoán tiêu cực. Lịch sử luôn pha
lẫn ánh sáng và bóng tối, cũng như đời
sống những người con của Chúa vẫn có
cả ân sủng và tội lỗi. Nhưng dựa vào
t́nh thương của Chúa Cha, dựa vào Lời ban
sự sống của Chúa Giêsu Kitô và sức mạnh
của Chúa Thánh Thần, chúng ta hăy mạnh dạn nh́n
vào hiện tại và tin tưởng ở tương
lai. Chúng
ta có giáo lư của Công đồng Vatican II như
luồng gió mát của Chúa Thánh Thần thổi trong
Hội Thánh; chúng ta tự hào là công dân nước
Việt Nam anh hùng độc lập thống nhất;
và trong đà phát triển chung của cả nước,
chúng ta được t́nh đồng bào thông cảm
và giúp đỡ trong khối đại kết dân
tộc, nên chúng ta hăy hân hoan chu toàn sứ mạng
vinh quang của ḿnh. Rồi
đây với ơn Chúa giúp và hoàn cảnh cho phép, chúng
tôi hy vọng sẽ có thể dần dần đề
ra những công việc cụ thể để hết
thảy chúng ta cùng làm, mỗi người tuỳ cương
vị khả năng của ḿnh, hầu góp phần xây
dựng Tổ Quốc và Giáo hội Việt Nam. Nguyện
xin Thiên Chúa, nhờ lời chuyển cầu của
Đức Trinh Nữ Maria, Thánh cả Giuse và các Thánh
Bổn mạng của Hội Thánh Việt Nam, ban muôn
phúc lành cho anh chị em. Hà
Nội, ngày 1 tháng 5 năm 1980 HỘI
ĐỒNG GIÁM MỤC VIỆT NAM
THƯ
NGỎ CỦA CÁC GIÁM MỤC VIỆT NAM 2002 Kính
gửi Quư
vị lănh đạo các cơ quan lập pháp của
Nhà nước Việt Nam: Quốc
hội và các Hội đồng Nhân dân “Phục
vụ con người là mục đích tối cao”
của mọi tổ chức và cơ chế xă
hội (xem Nghị quyết Đại hội Đảng
lần VI), v́ lẽ con người là mục đích,
là cứu cánh, là trọng tâm của mọi hoạt
động văn hóa, kinh tế, xă hội. Từ chân
lư căn bản này về con người với nhân
phẩm và nhân quyền của họ, nảy sinh
những nhu cầu, những đ̣i hỏi bức
thiết phải đáp ứng để xây dựng và
phát triển một xă hội nhân bản, một xă
hội không làm què quặt và hủy hoại con người.
Những đ̣i hỏi bức thiết đó là: I-
Xóa giảm những khuyết tật hiện hữu
của xă hội; II- Phát huy những giá trị nhân bản làm cho con người ngày càng trở nên người hơn, sống xứng với phẩm giá của ḿnh hơn. I. XÓA GIẢM NHỮNG KHUYẾT TẬT HIỆN HỮU CỦA XĂ HỘI 1. Khuyết tật thứ nhất là hiện tượng tha hóa con người. Sự
tha hóa con người xuất hiện và lớn
dần trong xă hội hiện nay: -
khi chủ nghĩa tiêu thụ đưa đẩy con
người vào trong một mạng lưới
những thỏa măn hời hợt, giả dối; -
khi lao động được tổ chức
nhằm bảo đảm tối đa cho lợi
nhuận mà không lưu tâm cải thiện đời
sống và thăng tiến phẩm giá người lao
động; -
khi diễn ra sự đảo ngược giữa phương
tiện và mục đích: con người vốn là
mục đích của sự phát triển th́ lại
bị biến thành đơn thuần là phương
tiện sản xuất; -
khi tự do được coi như là quyền
được làm bất cứ điều ǵ ḿnh thích,
bất cứ điều ǵ mà cảm tính của ḿnh
cho là có lợi trước mắt cho bản thân, cho
phe phái, đang khi tự do đích thực là quyền
làm những ǵ mà lương tâm thấy được
phép làm v́ công ích, v́ lợi ích của thế hệ
hiện tại và mai sau. Thực tế cuộc
sống hiện tại cho thấy: khi tách ĺa chân lư
về con người với nhân phẩm và nhân
quyền của họ, tự do trở thành sự tùy
tiện hoặc ngẫu hứng của những kẻ
có quyền thế. 2. Khuyết tật thứ hai là cơ chế bất công và tha hóa con người. Cơ
chế xin-cho là một điển h́nh. Cơ chế
xin-cho là một cơ chế bất công và tha hóa con
người v́ những lư do sau đây: -
Cơ chế xin-cho biến những quyền tự do
của công dân thành những thứ quyền mà Nhà Nước
nắm trong tay và ban bố lại cho người dân dưới
dạng những cái phép, đồng thời biến
Nhà Nước từ một tổ chức có chức
năng phục vụ công ích trở thành một
chủ nhân ông nắm các quyền tự do của người
dân và ban phát các phép tự do lại cho họ thường
theo sự tùy tiện chủ quan hơn là theo những
tiêu chuẩn khách quan. Như thế cơ chế
xin-cho vừa đi ngược lại công ích và xóa
đi các quyền tự do của người dân,
vừa bôi đen h́nh ảnh của một Nhà Nước
của dân, do dân và v́ dân. Đó là điều làm
tha hóa con người. - Theo thông tin của báo chí, cơ chế xin-cho c̣n là nguyên nhân làm thất thoát 50% các nguồn thu vào công quỹ, và làm thất thoát 50% phần c̣n lại khi phải chi ra cho công ích. Điều này có nghĩa là 5% hoặc 7% dân số là những người có thế lực và quyền lực th́ hưởng 75% từ công quỹ quốc gia (trong con số 75%, có 50.000 tỷ đồng/năm của riêng ngành xây dựng), phần c̣n lại của dân số là hơn 70 triệu dân chỉ hưởng được 25%. Thực tế này tạo ra một t́nh trạng bất công trầm trọng trong xă hội và không ngừng làm gia tăng hố sâu cách biệt giàu nghèo trong ḷng một dân tộc. Chính v́ thế mà tham nhũng một cách có hệ thống quy mô trong xă hội ngày nay không những là một quốc nạn, song c̣n là một tội ác đối với đất nước và dân tộc. II. PHÁT HUY NHỮNG GIÁ TRỊ NHÂN BẢN LÀM CHO CON NGƯỜI NGÀY CÀNG TRỞ NÊN NGƯỜI HƠN, SỐNG XỨNG VỚI PHẨM GIÁ CỦA M̀NH HƠN 1.
Phát huy phẩm giá con người. Điều
này đ̣i hỏi trong các quan hệ xă hội phải
quan tâm tôn trọng con người như là trọng tâm
của mọi hoạt động văn hóa, kinh
tế, xă hội, nghĩa là các sinh hoạt văn hóa,
kinh tế, xă hội phải hướng đến
sự phát triển và thăng tiến con người
toàn diện cả mọi mặt vật chất, tinh
thần và tâm linh. Khi một trong ba mặt thiếu phát
triển, con người trở nên hụt hẫng, què
quặt, dị tật. 2.
Phát triển xă hội và thăng tiến con người
trên nền tảng chân lư. Một xă hội
được coi là có trật tự và phù hợp
với nhân phẩm khi đặt nền tảng trên
chân lư. Chân lư căn bản trong quan hệ giữa người
với người là mọi người đều b́nh
đẳng về nhân phẩm. Chân lư này đ̣i
hỏi phải gạt bỏ mọi kỳ thị và
phân biệt đối xử, phải xóa đi
những h́nh thức chuyên chế, phải loại
trừ mọi gian dối xảo trá ngày nay đang tràn
lan trong mọi lănh vực của cuộc sống con người
và xă hội. 3.
Phát huy t́nh liên đới trong mọi sinh hoạt
gia đ́nh và xă hội. T́nh liên đới
chỉ được xây dựng và phát huy vững
bền trên nền tảng tôn trọng con người,
tôn trọng các quyền của họ, tôn trọng
sự tự lập chính đáng và quyền tự
quyết của con người, tôn trọng các giá
trị đạo đức trong truyền thống văn
hóa. T́nh liên đới đ̣i hỏi phải nh́n xa hơn
bản thân của tổ chức, của phe phái để
phục vụ cho sự phát triển của xă hội,
cho sự thăng tiến của con người và
gia đ́nh. 4.
Phát huy tính phụ đới. T́nh liên đới
trong sự tôn trọng các quyền tự do của con
người đ̣i hỏi tổ chức xă hội
phải mang tính phụ đới. Tính phụ đới
là một đặc tính của tổ chức xă
hội trong đó một tập thể cấp cao không
can thiệp vào nội bộ của một tập
thể cấp thấp, không làm mất thẩm
quyền và tính tự lập của nó, song tạo
điều kiện giúp nó phối hợp hoạt
động của ḿnh với những hoạt động
của tập thể khác nhằm mưu cầu công ích.
Do đó, con đường phát huy tính phụ đới
đ̣i hỏi: Chính
quyền tạo điều kiện cho các cá nhân và
tập thể công dân sử dụng
các quyền của con người. Trong các quyền
đó, phải kể đến quyền b́nh đẳng,
quyền và bổn phận chu cấp cho các nhu cầu
vật chất, tinh thần và tâm linh của cuộc
sống con người, gia đ́nh và tập thể,
quyền sáng kiến và tham gia các hoạt động
phát triển xă hội, thăng tiến con người
và gia đ́nh, cả việc củng cố nền
tảng pháp lư của cộng đoàn chính trị
trong một quốc gia. Dành
cho ḿnh độc quyền hay một quyền hành quá
lớn trong các lĩnh vực của đời
sống gia đ́nh và xă hội, đó là con
đường dẫn đến chuyên chế và
độc tài, quan liêu và bao cấp, áp bức và
bất công, là những tệ nạn làm tha hóa con người. Tính
phụ đới theo nghĩa trên là nền tảng
để xây dựng một xă hội dân chủ,
một Nhà Nước của dân, do dân và v́ dân.
Thiếu nền tảng này, Nhà Nước với
chức năng phục vụ công ích trở thành
một cỗ máy thống trị độc tài, và nhân
dân từ địa vị làm chủ đất nước
trở thành phương thế phục vụ cho
cỗ máy đó. Đó là điều làm tha hóa con người
và phân hóa xă hội. 5.
Phát huy ư thức và thiện chí phục vụ công
ích. Trước hết công ích đ̣i hỏi
phải tôn trọng con người, tôn trọng nhân
phẩm và các quyền tự do của họ. Do đó,
chức năng phục vụ cho công ích đ̣i
buộc chính quyền: (1)
tạo điều kiện bảo đảm cho
mọi công dân hưởng những nhu yếu sao cho
xứng hợp với phẩm giá con người; (2)
xóa bỏ những luật lệ bất công và
những biện pháp trái với luân thường
đạo lư trong truyền thống văn hóa của
dân tộc, v́ lẽ đây là những cơ chế và
biện pháp làm tha hóa con người. Cơ chế
xin-cho là một điển h́nh về luật lệ
bất công. Phá thai hằng năm hơn cả
triệu trường hợp là một điển h́nh
về biện pháp trái với luân thường đạo
lư mà những hậu quả đă và đang diễn
ra không biết đưa tương lai dân tộc
đi về đâu. Kính
thưa Quư Vị, Là
những người yêu mến quê hương, ai trong
chúng ta cũng mong muốn xây dựng Việt Nam thành
một đất nước giàu đẹp, văn
minh, giàu tính nhân bản. Chính trong tinh thần đó,
chúng tôi xin gửi đến Quư Vị thư ngỏ
này. Kính
chúc Quư Vị luôn an lành, mạnh khoẻ và thành
đạt. Trân
trọng kính chào. HỘI
ĐỒNG GIÁM MỤC VIỆT NAM
|
![]()
![]()
![]()
![]()
![]()
![]()
![]()
![]()
![]()
![]()
![]()
![]()
Diễn Đàn Giáo Dân xin quí vị thêm lời cầu nguyện cho Việt Nam:
có công lư và hoà b́nh, có dân chủ và tự do,
không c̣n bất công và gian dối.