

Tranh Đấu Bằng H́nh thức CẦU NGUYỆN ? (Nguyễn Anh Tuấn)
Đây là một câu hỏi ít được
đặt ra, mặc dù con người Việt Nam rất
tin vào Trời - Phật, và trên môi miệng của con người
vẫn thường bày tỏ ḷng tín ngưỡng của
họ qua câu "Cầu Trời Khấn Phật" để
được cái này, để được cái kia cho
riêng ḿnh, nhưng thực ra cầu nguyện c̣n có ư nghĩa
sâu thẳm hơn. Truyền thống tín ngưỡng
của quốc gia đă thể hiện trọn vẹn
trong ngày "Tế Nam Giao" của các vị Vua, lập
đàn để "Cầu Trời Khấn Đất"
cho Việt Nam được quốc thái dân an, cho trăm
họ được hạnh phúc và ấm no.
Những chiếc ngài vàng của đất
Việt đă bị những người Cộng Sản
Việt Nam Vô Thần giựt sập từ hơn 60 năm
qua để hàng ngũ này xô đẩy cả một dân
tộc có 4000 năm văn hiến vào một ḍng sống
hoàn toàn "nghịch Thiên", thay v́ "thuận Thiên"
như bao ngàn năm qua. Trong lúc tất cả mọi người
vẫn nói "thuận Thiên giả tồn, nghịch Thiên
giả vong", nhưng không mấy ai để ư đến
tội lỗi vĩ đại này. Đó là tội
lỗi vô thần chống lại đấng Tạo Hóa và
tội đại bất kính với Trời Đất. Và
v́ thế, truyền thống TẾ NAM GIAO để
cầu xin Trời Đất ban cho Việt Nam "quốc
thái dân an" của các bậc đế vương
đất Việt cũng bị chôn vùi từ hơn 60 năm
qua (1945-2008) mà cho đến nay vẫn chưa thấy ai nói
đến sự mất mát vĩ đại này. Đúng là
dân tộc này rơi vào thảm cảnh bi thương
"sẩy đàn tan nghé", hay "tan tác như đàn
gà lạc mẹ".
TẾ NAM GIAO cũng là một h́nh thức của một ngày TẠ ƠN (Thanksgiving) như Hoa Kỳ đă làm từ ngày các nhà lập quốc Hoa Kỳ đến Tân Thế Giới vào đầu thế kỷ 17 bằng hai chuyến tàu Mayflower và Speedwell. Và đó cũng là một quốc gia với muôn triệu tâm hồn hướng về Trời Đất, hướng về Thượng Đế, hay Thiên Chúa để cầu nguyện.
Cầu nguyện là ǵ?
Cầu nguyện thực sự mang ư nghĩa ǵ? Mục tiêu
của cầu nguyện hướng tới là ǵ?
Theo các Nho gia, việc trị dân, trị
nước là sứ mạng của kẻ sĩ, mà
nếu không gặp thời th́ bất đắc dĩ
phải "độc thiện" th́ ít nhất kẻ sĩ
cũng phải truyền lại cái đạo lư của
cổ xưa. Chính trị và giáo hóa cũng chỉ là
MỘT (Đạo lư chính trị). V́ thế, Khổng
Tử, Lăo Tử, Mạnh Tử, Trang Tử, Tuân Tử,...
đều đi theo "Tứ Thi Ngũ Kinh", và
tất cả đều mang tinh thần nhập thế tích
cực vào thế giới và sinh hoạt chính trị, xă
hội, kinh tế và giáo dục. Đó là tinh thần
cổ xưa của Nghiêu Thuấn, Chu Công và Khổng
Tử. Tất cả đều coi Thượng Đế,
Đấng Tạo Hóa hay Thiên Chúa là vua của Vũ
Trụ, mà họ gọi là ĐẾ, Thượng Đế.
Và loài người là con của Trời.
Trời sinh dân đó, Trời yêu dân
lắm. Cái Đạo của Đại Học là làm sáng
cái ĐẠI ĐỨC của Trời Đất, đức
đó chính là yêu dân. Người xưa muốn làm sáng cái
đức sáng trong thiên hạ, th́ trước nhất
phải trị nước ḿnh. Muốn trị nước
ḿnh th́ phải tề gia. Muốn tề gia th́ phải tu
thân ḿnh. V́ thế cả đời Phu Tử đă chu du
thiên hạ để đem ĐẠO LƯ CHÍNH TRỊ mà
giúp các bậc đế vương làm cho quốc thái dân
an.
Tuy nhiên, làm thế nào để tu thân
và tu tâm th́ các Nho gia bàn rất tổng quát. Trong lúc
Phật giáo và Kito giáo th́ lại bàn rất kỹ về
việc TU TÂM và TU THÂN. Tu tâm có mối tương quan
mật thiết đến CẦU NGUYỆN, đặc
biệt đối với những tín đồ Thiên Chúa
Giáo (Christinanity). Phật giáo cũng rất chú trọng
tới ĐỨC TIN (Faith) của người Phật
tử trên đường t́m đạo theo phái Thiền
Tông, nhưng thường khuyên tự tu, tự chứng, và
tự đốt đuốc lên mà đi, nên không mấy
chú tâm tới CẦU NGUYỆN.
-Tịnh Độ Tông
-Mật Tông
-Thiền Tông
Theo Phật giáo giải thích th́ Tịnh
Độ Tông chuyên chú vào cầu nguyện rất phổ
quát cho đại chúng, trong lúc Mật Tông và Thiền Tông
thường là con đường tu tập dành cho các
bậc thượng trí nên rất khó khăn trên
đường giảo thoát. Chính Đức Thế Tôn cũng
luôn nhắc đến CHƯ THIÊN. Như vậy Trời
của Phật giáo không khác Thượng Đế
của các Nho gia, và lại càng không khác Thiên Chúa của
Do Thái giáo và Kitô giáo.
TẤT CẢ NHÂN LOẠI CÓ CHUNG MỘT NGƯỜI
CHA , nhưng
mỗi tôn giáo đều có tên gọi khác nhau về người
CHA CHUNG đó. Ngoài người CHA CHUNG là đấng
Tạo Hóa, Ngọc Hoàng Thượng Đế, Thiên Chúa
hay bất cứ tên gọi nào khác để biểu
thị cho người CHA CHUNG của muôn người và
của cả muôn loài. Và nhân loại đều có lương
TÂM, mà theo các Nho gia th́, "Vũ trụ chi tâm", và
Phật giáo th́ quan niệm, "vạn pháp qui tâm". V́
vậy, tinh thần VẠN GIÁO NHẤT LƯ đó y cứ vào
hai chữ THIÊN và TÂM mà thôi -- nhưng khi "Thiên - Nhân
hợp nhất" th́ đó chính là cái LƯ NHẤT QUÁN,
hay VẠN GIÁO NHẤT LƯ.
Khi con người đă hiểu và ư thức được "vũ trụ chi tâm", và "vạn pháp qui tâm" là sự thật, và là chân lư th́ tại sao Vạn Giáo lại không nhất lư được?
Cầu nguyện là ǵ,
đó không phải câu hỏi dành riêng cho tôn giáo nào, mà
cầu nguyện phải được hiểu là một
việc làm cực kỳ thiêng liêng và cực kỳ
cần thiết và cực kỳ trọng đại cho
tất cả các tín hữu (believers) của tất cả
các chính giáo; bởi v́ nhân loại chỉ có một người
CHA CHUNG và nhân loại đều có LƯƠNG TÂM. V́
thế t́m hiểu ư nghĩa và mục tiêu của cầu
nguyện là một hành vi của những người con
hoang (prodigal sons) t́m về với người CHA CHUNG
của ḿnh. Muốn thế con người phải ăn năn
sám hối, tu tập để bước vào con đường
thánh tẩy và thánh hóa tâm thân của mỗi con người
để dâng lên những lời cầu nguyện.
Theo lời kể lại của Hoàng
Đế Bảo Đại, tại Việt Nam có hai ngày
tế lễ quan trọng nhất, đó là ngày tết Nguyên
Đán và ngày tế Nam Giao hàng năm do Hoàng Đế
đứng chủ tế, thay mặt cho toàn dân Việt.
Thượng Đế ban ơn hay
trừng phạt hàng năm là căn bản của Đạo
Khổng, đưa con người vào trật tự, v́
biết kính Trời, sợ Đất. Quyền năng
tối thượng của Thượng Đế chỉ
được trao cho một vị chân mạng đế
vương để cầm quyền thiên hạ (Divine
Right). V́ Hoàng Đế là Đại Diện của Thượng
Đế trên thế gian, nên được mọi người
kính trọng và vâng lời. Như vậy, Hoàng Đế
là chủ thể nắm trọn quyền hành trong các cơ
cấu xă hội.
Hoàng Đế Bảo Đại cho
rằng đây là Mỹ Tục của tất cả các dân
tộc Đông phương đă lập lên truyền
thống tế lễ và cầu nguyện này để
TẠ ƠN trời đất và Thượng Đế
đă ban ơn cho khắp thần dân.
Việc tế lễ và cầu nguyện
này chỉ dành riêng cho Hoàng Đế, vốn kiêm
nhiệm luôn chức vụ Đại Giáo Chủ để
đứng làm trung gian giữa Thượng Đế và
Con Người; và đại diện cho toàn dân và toàn
quốc gia.
Việc tế lễ và cầu nguyện
này không liên quan ǵ đến Phật giáo hay thờ cúng
tổ tiên, cũng không dính dáng ǵ đến những nghi
thức tôn giáo nào. Đây là việc cúng tế và
cầu nguyện nằm trong triều chính do nhà vua đặt
ra, để tỏ ḷng tôn sùng đối với Đức
Ngọc Hoàng Thượng Đế, cai quản chư
thần đồng thời mang một h́nh thái sám hối
để cầu xin xá tội của bậc Hoàng Đế
đối với Thiên Nhan, xin Đức Ngọc Hoàng
đại xá cho những lỗi lầm đă trót phạm
phải. V́ vậy, cuộc tế lễ phải tỏ ra
đồ sộ và vô cùng trọng thể.
Cũng theo Hoàng Đế Bảo Đại
th́ ngày tế lễ và cầu nguyện phải được
công bố trước ba tháng. Lời cáo tri được
một đại thần tuyên đọc không phải cho
thần dân, mà để báo cho các vị thần linh.
Bản cáo tri ấy đại để
như sau:
"Đại Nam quốc, tuế
thứ...
"Tiểu thần Nguyễn văn B...
phụng ngự chiếu của Đức Việt Nam Hoàng
Đế, kế thế các triều đại liệt thánh,
cẩn tấu Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế,
đến ngày..., tháng..., toàn dân nước Việt Nam
sẽ dâng lễ tế Nam Giao. Tiểu thần kính cẩn
cáo tri trước Thiên nhan và chư thần. Cẩn
Tấu.
Hai tuần lễ trước ngày tế
lế, th́ là cáo tri đối với các tiên đế
để cung nghinh các ngài về dự lễ.
Thế rồi, một sắc chỉ
của Hoàng Đế được ban bố vào ba ngày
trước ngày tế lễ, để nhắc nhở các
người dự tế lễ, phải trai giới và
dọn ḿnh cho thật là tinh khiết.
Hoàng Đế Bảo Đại cho
biết, việc trai giới đó rất quan trọng.
Để nhắc nhở nhà vua một cách cụ thể,
trước đó bốn ngày, người ta mang đến
một tượng người bằng đồng,
gọi là đồng nhân rước đến cung điện
của vua, để ngày đêm vua trông thấy vị
thần tượng trưng cho trong sạch và chay tịnh
này, hầu vua cũng giữ ḿnh như vậy.
Đúng hôm tế lễ, mới tám
giờ sáng, khi tiếng súng thần công báo hiệu mở
đầu, một đám rước đang tụ tập
sẵn ở điện Cần Chánh, được
khởi đầu rất nghiêm chỉnh ra đàn tế
ở phía nam thành phố. Đám rước chia ra làm ba
đoạn, mỗi đoạn với một đoàn quân
gọi là tiền quân, trung quân và hậu quân. Thoạt
đầu là một hàng voi choàng đầy phẩm
phục, rất lộng lẫy.
Hoàng Đế Bảo Đại kể
rằng, sau đó là nhóm người vác cờ, thuộc các
cờ biểu tượng của Thiên Đ́nh như
cờ Đại Hùng Tinh, cờ Nhật-Nguyệt và
cờ Ngũ Hành theo tinh thần Kinh Dịch. Đức vua
ngồi trong ngự liễu sơn son thiếp vàng đi
giữa, xung quanh các kiện của các hoàng thân ḍng
huyết mạch.
Đàn Tế Nam Giao ở giữa đồi,
trên có những cây thông.
Đối với đức vua Gia Long,
khi xây lên đàn tế này, là có ư minh định trước
quốc dân ngài là bậc chí tôn của toàn thể sơn
hà Việt Nam, và ngài có bổn phận phải tôn thờ
Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế đă trao
cho ngài sứ mạng lănh đạo triều đại
mới.
Hoàng Đế Bảo Đại c̣n
tiết lộ thêm, "Đến hôm cúng tế, mới
hai giờ sáng, đại kỳ được kéo lên.
Thật lạ lùng, dù cho đêm trước và hai ngày trước
có mưa, thời hôm nay trời quang mây tạnh trong
suốt buổi tế lễ. Tôi rời khỏi Trai cung, lên
kiệu và vào cửa Tây. Ở đó, tôi đi bộ leo
lên về phía phải, và cửa Nam tiến vào, và
dừng lại là một nơi làm lễ rửa tay
gọi là Mục dục.
Nhiều bó đuốc thắp sáng
tế đàn. Về góc Đông Nam có một đám
lửa thiêu lớn, nay là nơi làm lễ tam sinh, gọi là
thần trù, trên đó thiêu cả một con nghé để
hy sinh.
Trên tất cả các bàn thờ,
những cây nến khổng lồ cả thước tây,
cháy rực khắp nơi. Bóng tối đă lui... Trong ánh
lửa bập bùng, nhạc bát âm ḥa nhịp theo điệu
của từng cử động làm cho con người
bị say sưa quyến rũ vào một cơi u minh bát ngát
nhiệm màu."
"...Tôi dâng ngọc ngà, vóc lụa.
Sau đó rót rượu cúng để lên bàn thờ cùng
các lễ vật khác. Một chiếc khay có đựng
thịt tam sinh (thịt nghé, thịt heo và dê) cũng
được đặt lên bàn thờ."
"Một viên quan Đại Thần
đến trước hương án, lấy một bài văn
tế do tôi đứng chủ tế. Ông ta qú xuống và
tiến qú trước mặt tôi, và đây là giờ hành
lễ."
Bằng giọng văn tế, viên quan
đọc lên:
"Tấu
lạy Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế
"Hạ
thần truyền nhân của liệt vị Hoàng Đế
nước Đại Nam Quốc, nhân dịp đầu xuân,
kính dâng Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế và
Đức chúa tể cơi Trần, ḷng tôn thờ bất
diệt.
"Nhân
dịp xuân về, giang sơn tô thắm, cây cỏ tốt
tươi, người vật tràn trề nhựa sống,
hạ thần thay mặt toàn thể thần dân, cùng các
triều thần, hạ thần xin kính dâng lên Đức
chúa tể muôn loài của cơi Trời và cơi Đất,
lễ vật tam sinh, ngọc ngà, tơ lụa, gạo rượu,
hương hoa phẩm vật.
"Theo
lệ ba năm một lần, lễ Nam Giao năm nay,
hạ thần kính cẩn cầu xin Đức Ngọc Hoàng
Thượng Đế cũng như chư Thánh tiền
triều Hoàng Đế."
Hoàng Đế Bảo Đại sau
đó viết lên lời kết luận: "Nhiều
người đă muốn so sánh cúng tam sinh ở Tế
Nam Giao nay với lễ dâng ḿnh thánh của Thiên Chúa giáo.
Tất nhiên hai cuộc lễ này cũng có nhiều
chỗ gần như nhau; như chỗ trai giới, chỗ
dâng vật cúng, chỗ khấn nguyện và chỗ chia
phần, và hưởng lộc cúng tế. Để có
một h́nh ảnh y hệt ngày Chúa Kito bị đóng
đinh, đ̣i hỏi vị chủ tế phải tự dâng
ḿnh hy sinh cho đúng lế nghi. Bên Trung Hoa đă có vị
Hoàng Đế tự sát làm vật hy sinh trong buổi
tế lễ."
Hoàng Đế Bảo Đại cho
rằng, thật sự những điểm tương
đồng này chỉ chứng tỏ niềm khát vọng,
th́ ở đâu cũng thế thôi. Khát vọng về
lẽ huyền vi, khát vọng được che chở, khát
vọng được b́nh an ở cơi đời này cũng
như ở kiếp sau. Cũng do nguyện vọng tín ngưỡng,
nguyện vọng được Trời chiếu cố và
cứu rỗi, nên dù ở phương Tây hay phương
Đông, mong mỏi những kết quả y như nhau, nên
đă thể hiện bằng những lễ nghi có
nhiều điểm tương đồng giống nhau y
hệt mà thôi.
"Đối với tôi, bao giờ tôi cũng hoàn
tất lễ tế Nam Giao như một h́nh thức công
khai của vị Hoàng Đế đă phục tùng vương
đạo để giữ niềm tin kính Trời sợ
Đất, vốn đem đến trật tự ḥa b́nh
cho con người trong cuộc sống hàng ngày. Đó là hành
động mang tính chất của một NỀN VƯƠNG
CHÍNH, để đưa con người vào vị trí
đúng với đại nghĩa, mà trong nền vương
chính này, nhà vua phải có một thái độ khuôn
mẫu gấp đôi.
“Có một người đă hỏi Khổng
Tử là tại sao con người lại phải kính
Trời? Khổng Tử đáp: "Chính ta cũng
chẳng rơ. Nhưng ai hiểu rơ, th́ trị dân dễ như
trở bàn tay."
(Viết
theo Hoàng Đế Bảo Đại " Con Rồng Vàng
Việt Nam" (1990), CA, USA).
Tinh thần của ngày tế Nam Giao
của các vị Hoàng Đế của Đại Việt
là một kinh nghiệm quá lớn lao trong lịch sử
của Dân Tộc Việt. Tinh thần đó không khác ǵ
lời phán của Thiên Chúa với Do Thái và các quốc
gia:
"Nếu dân của Ta, chúng kêu
gọi tên Ta, và tự biết ḿnh để sống khiêm
cung và cầu nguyện và t́m kiếm Nhan Ta, và từ
bỏ con đường tội lỗi hư hỏng,
từ đó Ta sẽ lắng nghe chúng từ Trời cao, và
sẽ tha thứ tội lỗi cho chúng và đất nước
quê hương của chúng sẽ được cứu
vớt và được chữa trị để trở
nên mạnh. (2 ch 7:14)
Nhà thần học Bernie Smith cho rằng, "What
is pray?" -- cầu nguyện là ǵ? Đây là một
câu hỏi rất quan trọng, bởi chúng ta phải
nắm bắt được ư nghĩa của cầu
nguyện nếu chúng ta muốn cầu nguyện.
Như Spurgeon đă nói, cầu nguyện
là nắm bắt lấy sợi giây chuông trên Thượng
Giới, và sự lắng nghe tiếng chuông rung lên từ
chiếc ngai của Thiên Chúa. Cầu nguyện chân chính
nhất là ḥa đồng hợp nhất -- để thành
MỘT với Thiên Chúa (Thiên Nhân hợp nhất của
Đông phương) như con người đang cúi đầu
trước đấng Tạo Hóa.
Nếu cầu nguyện là biểu
lộ sự dâng hiến của Tâm Hồn cho Thiên Chúa,
nếu sự tĩnh lặng trong tâm hồn có thể
được lắng nghe trên Thiên quốc th́ cầu
nguyện có thể và không thể ồn ào. Cầu
nguyện là chuyện tṛ bày tỏ tâm sự của ḿnh
với Thiên Chúa. V́ thế cầu nguyện là một
sợi giây chuyền vàng nối kết Tâm của chúng ta
với Giới Tâm Linh của Thiên Chúa hay Thượng
Đế (vũ trụ chi tâm).
B. Smith nhận thấy, thế hệ này
thường xuyên sống trong sợ hăi, thất vọng
chán chường căng thẳng, phiền nhiễu vây
bủa, lo âu và ham muốn. Và cầu
nguyện là hướng về Trời cao để t́m
kiếm sự an lạc trong một đời sống
đầy bất an, bất ổn và bất định.
Khi con người nhận thấy đời sống tinh
thần suy vi tàn tạ, th́ cầu nguyện là nâng tinh
thần lên vút cao hơn cả những đám mây, vượt
xa cả những v́ sao và tinh tú để đưa tâm
hồn đứng trước mặt Thiên Nhan.
Sự
yếu đuối và rũ liệt trong đời sống
tinh thần đă tạo cơ hội cho các quyền
lực chính trị xấu xa tồi bại làm t́nh làm
tội con người mà con người không làm ǵ chúng
được, đành thúc thủ chịu đựng
trong uất nghẹn tủi buồn, và câm nín. Trong lúc
đó các nhà thần học Kito giáo cho rằng cầu
nguyện là đưa sự yếu đuối của tâm
hồn tiếp cận và nương tựa với sức
mạnh của Thiên Chúa Toàn Năng. Cầu nguyện, v́
thế, là một nguồn mạch để Thiên Chúa tuôn
quyền năng của Thần Khí (khí hạo nhiên trong
trời đất) đến tràn ngập trong tâm hồn
con người. Đó là thứ vơ khí tuyệt vời
để phá vỡ triệt để bức màn sắt
của ngờ vực nghi kỵ trong tâm con người.
Các nhà thần học
Hoa Kỳ cũng tiết lộ rằng, các cuộc
chiến thắng nhờ cầu nguyện nhiều hơn là
các cuộc chiến thắng trên các trận tuyến
hữu h́nh. Họ cho rằng, cầu nguyện hàng ngày
sẽ đưa sức mạnh tinh thần vào cuộc
sống, và tự nhiên có sự bảo đảm khi các tín
hữu có thể đối mặt với sự can trường
đảm lược và Chúa Kitô là trung tâm điểm
để hướng tới và hy vọng (vũ trụ
chi tâm) -- bởi v́ ḷng can đảm và hy vọng chính là
những v́ tinh tú mà Thiên Chúa đă ra lệnh chiếu ánh
sáng lung linh vào tâm hồn con người (ánh sáng giác
ngộ).
Tâm hồn của chúng ta giống như
một thế giới mà trong đó Chúa Kitô đă
sống (vạn pháp qui tâm). Trong lúc con người
phải sống trong những xă hội đang suy vi tàn
tạ, với những rối loạn tơi bời về
chính trị, nỗi lo âu về kinh tế và nỗi đe
dọa của chiến tranh, chỉ dẫn đến
sự đổ vỡ, mất mát, đau khổ và sự
chết. Và con người đă có một vị THẦY
(Master) đă mở ra cuộc cách mạng tâm linh (spiritual
revolution) để chống lại sự suy vi mục nát và
sự chết ấy.
Đó là Thiên Chúa của chúng ta và Chúa
Kitô của chúng ta. Đó là người mà tâm hồn
của chúng ta hướng về để cầu
nguyện. Các thần học cho rằng, ân sủng
hồng ân đặc biệt biết bao khi con người
chuyện tṛ tâm sự với Chúa. Hăy suy nghĩ về
điều đó, tức là tạo ra một cuộc hàn
huyên với đấng Tạo Hóa. Thiên Chúa tạo nên con
người để đồng hành trong việc sáng
tạo. Chúng ta là tạo vật của sự sáng tạo
trong bàn tay đầy quyền năng của Thiên Chúa.
V́ thế Chúa là đấng Tối Cao
(Most Height) --- là trung tâm của ư thức hoạt động
trong sáng tạo --- người CHA CHUNG trên Thượng
Giới, là người đang chờ đợi trợ giúp
tất cả con cái của Thiên Chúa trên khắp trần
gian này. Chúa đă ngưng lại các hoạt động sáng
tạo để làm ra những thế giới mới trong
vũ trụ để xuống với trần thế, giúp
đỡ những tâm hồn tan nát đau khổ và tuôn
sức mạnh đến các tâm hồn tan nát khổ
đau và chúc phúc lành cho con người khi c̣n đang
phải gánh những gánh nặng trên đôi vai, vỗ
về an ủi những kẻ ră rời suy liệt bơ
phờ, và cho con người được sống trong an
lạc khi con người t́m đến với Chúa trong
sự cầu nguyện. Ôi! Ân sủng lớn lao biết
bao cho con người biết cầu nguyện.
Thánh Kinh nói rằng, Thiên Chúa lắng
nghe chúng ta; v́ thế chúng ta không cần van nài ỉ ôi.
Chúng ta cứ can đảm bước tới trước
mặt Chúa. V́ thế chúng ta không cần thiết "kêu
nài xin xỏ như những kẻ nô lệ tôi đ̣i".
Hăy mạnh dạn bước tới trước Ngai Thiên
Chúa xin được trợ giúp. Từ đó, chúng ta
nhận được ḷng nhân từ và sẽ t́m
thấy sự trợ giúp khi nào chúng ta cầu nguyện
để xin sự trợ giúp (Hebrew 4:16).
Thánh Kinh cũng nói rằng, con người
có một thứ "Quyền" (Right), đó là
quyền được xin và quyền được
nhận, và tất cả điều ǵ, dù bất cứ
điều ǵ, ta kêu xin trong lúc cầu nguyện với
ĐỨC TIN mạnh mẽ, th́ ta sẽ nhận được
(Mathew 21:22).
Điều quan trọng hơn cả là:
THÁNH KINH CŨNG NÓI RẰNG, CHÚNG TA
PHẢI CẦU NGUYỆN VỚI TÂM HỒN TRONG SẠCH, VÔ
T̀ VẾT và THÁNH THIỆN. Từ đó chúng ta
biết, CHÚA KHÔNG LẮNG NGHE NHỮNG
KẺ TỘI LỐI , nhưng nếu họ thực
sự ăn năn sám hối để thành kẻ thờ
lạy Thiên Chúa và làm theo lời Chúa đă dậy, Chúa
sẽ lắng nghe họ cầu xin (John 9:31).
Thêm vào đó, Thánh Kinh cũng dặn ḍ,
con người phải cầu nguyện với ĐỨC
TIN, v́ không có đức tin th́ không làm hài ḷng được
Thiên Chúa. V́ thế người nào đến với Chúa
phải có niềm tin mănh liệt nơi Thiên Chúa, th́ người
đó sẽ nhận được phần thưởng
khi họ tận tụy và thành khẩn t́m kiếm Chúa. Thánh
Kinh nhắc nhở con người rằng, cầu
nguyện là mở cánh cửa Thiên Đàng, là làm cho
mặt trời ngương lại, và làm cho nước
bắn lên tung tóe, là làm cho miệng sư tử khép
lại, và làm nguội lại cơn lửa cháy. V́ lẽ
đó, tại sao chúng ta cầu nguyện mà vẫn
sống trong ngờ vực nghi kỵ?
ĐỨC TIN KHÔNG ĐEM
RA THỰC HÀNH LÀ ĐỨC TIN CHẾT, và cầu
nguyện không có đức tin cũng là CẦU
NGUYỆN CHẾT. Hăy tin vào sức mạnh đầy
quyền năng của Thiên Chúa -- đừng tin vào
sự yếu đuối vật vờ của chính ḿnh,
bởi v́ Chúa sẽ xây dựng từng bước cho chúng
ta bước qua những đỉnh núi cao và băng qua
những chiếc cầu đầy mê hoặc. Nếu có
một đức tin bằng hạt cải có thể
dời núi, và con người sẽ thành can đảm
lạ thường.
B. Smith cho rằng, cầu nguyện có
những mục đích của nó. Mục đích cầu
nguyện không phải t́m đến với Chúa như
kẻ nô lệ tôi đ̣i: "give me, give me" --- "cho
tôi xin, cho tôi xin" --- làm như Chúa chẳng khác ǵ hơn
là một ông già Noel đầu tóc bạc phơ đến
cho ta. Cầu nguyện c̣n mang một ư nghĩa sâu thẳm
vô cùng.
Chúa là Thiên Chúa, không phải của riêng
ai --- mà là Thiên Chúa của tất cả nhân loại.
Tối thượng của toàn thể vũ trụ siêu
nhiên và thiên nhiên. Từ vĩnh cửu đi vào thiên thu
vạn đại. Ngài là Thiên Chúa của tất cả chúng
ta --- và chúng ta là tạo vật sáng tạo của Thiên Chúa.
V́ thế cầu nguyện không phải kêu xin với cái tâm ích kỷ, vị kỷ, vị ngă đến xin cái này cái nọ, cũng không phải nói về cái "ta" của chúng ta, từ đó tự xây nên hàng rào ngăn cách giữa CHA và CON.
MỤC
TIÊU LỚN NHẤT CỦA CẦU NGUYỆN LÀ H̉A ĐỒNG,
HIỆP NHẤT VÀ HIỆP THÔNG (Harmony) VỚI THIÊN CHÚA.
Khi chúng ta cầu nguyện, nhớ thưa rằng, ANH
EM YÊU THIÊN CHÚA, SẼ SỐNG V̀ THIÊN CHÚA, VÀ SẼ
PHỤC VỤ THIÊN CHÚA ĐẾN MUÔN ĐỜI.
Nhà thần học B. Smith nói trong hân hoan:
Ôi! Phúc đức lớn lao thay về sự H̉A
ĐỒNG HỢP NHẤT GIỮA TÂM CỦA CON NGƯỜI
VỚI THẾ GIỚI TÂM LINH NHIỆM MÀU CỦA THIÊN CHÚA.
(Thiên - Địa - Nhân đồng nhất thể). Làm
sao tưởng tượng ra được chúng ta có
thể bước đi bên Chúa và tṛ chuyện hàn huyên
với thiên Chúa. Tâm hồn của chúng ta dâng lên
những cảm xúc bồi hồi khi tâm ấy có thể ḥa
đồng hợp nhất với Thiên Chúa hằng
sống, luôn luôn có đó và ở đó đến muôn
đời.
Hăy để những v́ sao và tinh tú rơi
xuống từ trời cao. Hăy để mặt trăng
khuất mặt đi, và mặt trời phải lùi bước
khi có sự hiện hữu của Thiên Chúa. Hăy để
những bầu trời cuốn tṛn như những
cuộn giấy và quăng nó vào quên lăng. Hăy để
những đại dương trở nên khô cạn và núi
non vỡ ra như cát bụi. Nhưng Thiên Chúa vẫn
đời đời c̣n đó, và ngai của Thiên Chúa
sẽ vĩnh cửu đời đời, và đó là
đấng đang lắng nghe chúng ta --- đó là đấng
mà chúng ta cận kề gắn bó trong lời cầu
nguyện để ḥa đồng hiệp nhất và
hiệp thông (Communion).
Các nhà thần học Kito giáo Hoa Kỳ
tiếp tục ca ngợi:
--
Phúc thay cho sự ḥa đồng hiệp nhất, v́ sẽ
mang sức mạnh để chiến đấu trong các
trận chiến trong đời.
--
Phúc thay cho sự ḥa đồng hiệp nhất, v́ sẽ
đem đến cho thân tâm ta thường an lạc
giữa một thế giới đảo điên cuồng
loạn.
--
Phúc thay cho sự ḥa đồng hiệp nhất, v́ sẽ
đem đến "nguồn cội nương tựa êm
đềm vững chắc trong cơn hỗn loạn đang
chờ đợi kéo đến.
--
Phúc thay cho sự ḥa đồng hiệp nhất, v́ sẽ
chỉ cho anh em thấy rằng anh em đang sống trong
trung tâm của phép lạ.
--
Phúc thay cho sự ḥa đồng hiệp nhất, v́ sẽ
mang đến cho anh em sức mạnh nội tâm để
đương đầu với bao biến đổi vô
thường.
--
Phúc thay cho sự ḥa đồng hiệp nhất, v́ sẽ
mang đến cội nguồn của sự thanh b́nh trong
một thời đại khi con người phải đối
mặt với mọi vấn nạn lớn lao khi khả năng
con người lại quá giới hạn.
--
Phúc thay cho sự ḥa đồng hiệp nhất, v́ sẽ
giúp anh em tưởng như đă bị thảm bại
diệt vong trong đời nào ngờ lại dẫn ta
đến với chiến thắng tối hậu.
Nếu có những giọt nước
mắt ứa ra trên khóe mắt trong đời th́ nên
nhớ rằng đó là những viên ngọc lung linh
được khóa lại trong ngăn kéo chứa đựng
tài sản trên Thiên quốc. V́ thế hăy cầu
nguyện -- bởi v́ cầu nguyện là câu trả
lời đơn giản cho cuộc sống quá nhiều
phức tạp và rối rắm phải chịu đựng.
Và anh em hăy thoáng nh́n xem cầu
nguyện là ǵ, và nhớ đó là một ĐẶC ÂN, và
anh em sẽ nhớ lại quyền năng thực sự
của cầu nguyện và tầm quan trọng của
sự cầu nguyện. Tâm anh em sẽ thấy tiếng
gọi để nhớ rằng Thiên Chúa là đấng
tối cao với quyền năng vô hạn.
V́ vậy khi anh em đến bên Thiên Chúa
trong sự cầu nguyện, hăy xin Thiên Chúa chữa lành
lạnh xác thân, lành lạnh trí tuệ và lành lạnh tâm
hồn. Hăy kêu xin Thiên Chúa vỗ về băng bó lại
trái tim tan nát -- Hăy kêu xin Thiên Chúa đưa anh em đến
một định hướng để vượt qua
những khó khăn và những thất vọng ê chề. Hăy
thú nhận với Thiên Chúa sức mạnh của anh em
đang suy sụp ră rời và kêu xin Thiên Chúa nâng đỡ
cho gánh nặng để anh em có thể vượt qua. Hăy
xin th́ anh em sẽ được chúc phúc trong phút giây
cầu nguyện.
Nguyên tắc đầu tiên của đạo
lư hiện nay là ĐỨC TIN -- đó là sức mạnh
của niềm tin yêu. Con người vinh danh ngợi khen
Thiên Chúa khi chúng ta tin tưởng vào Thiên Chúa -- Sự
tin tưởng vào Thiên Chúa dẫn ta đến với
ĐỨC TIN. Chúng ta được quyền tin vào Thiên
Chúa -- và Thiên Chúa có tất cả quyền để
đ̣i hỏi chúng ta tin vào Thiên Chúa. Sự hỗn
loạn bệnh hoạn trong thế giới tinh thần
thời hiện đại chỉ v́ con người
thiếu đức tin.
Tôi phải có đức tin vào Thiên Chúa,
do đó Thiên Chúa có thể tin vào nơi tôi.
Nhà thần học Bernie Smith cho rằng,
đức tin là ch́a khóa dẫn đến kho tàng của
nước trời. Với ch́a khóa này, chúng ta có thể
t́m thấy sức mạnh cần thiết để vượt
qua sự đau khổ và đưa đến một hướng
đi cho sự bấn loạn và những vấn đề
sẽ trở thành thảm họa cho con người.
MẤT
CH̀A KHÓA ĐỨC TIN, ĐỜI SỐNG TINH THẦN
SẼ PHÁ SẢN.
Đây là ch́a khóa có thể thay đổi sức
khỏe.
Đây là ch́a khóa có thể thay đổi đời
sống.
Đây là ch́a khóa có thể cứu rỗi linh
hồn anh em.
Đây là ch́a khóa
để giải quyết mọi vấn đề.
Thiên
Chúa biết chúng ta hơn chúng ta biết về ḿnh.
Thiên Chúa không đáp lại lời
cầu nguyện mà không có ch́a khóa -- là ĐỨC TIN.
NHỮNG CUỘC CHIẾN THẮNG TRONG ĐỜI T̀M
THẤY TRONG PHẠM VI TINH THẦN , và chúng ta t́m thấy
tinh thần ấy trong ĐỨC TIN. V́ vậy ch́a khóa này
trở thành một vơ khí siêu việt. Với nó, chúng ta vượt
qua những khó khăn trở ngại, và thắng các
trận chiến đấu trong hành tŕnh của đời
sống.
Phần lớn con người đă
sống với đời sống ngoại tại, cùng
với tiếng than khóc trong đời sống nội tâm.
Họ lang thang mất lối như con tàu lênh đênh trên
biển đời đầy băo tố, và không thấy
bến bờ là đâu! Đây là một thế giới
nhiều người cảm thấy họ không đủ
sức chịu đựng sức ép của đời
sống để t́m thấy một sự thanh b́nh trong
một thời đại quá nhiều điên loạn; và
họ cảm thấy bị bấn loạn.
Nhưng những nỗ lực t́m
kiếm sự sống thanh b́nh an lạc mà không nương
tựa vào Thiên Chúa, hoặc cầu nguyện không có đức
tin th́ sự t́m kiếm sẽ thành ảo vọng hăo
huyền.
Trong cầu nguyện con người
đă t́m được cho chính họ sự sống, và
v́ Thiên Chúa đă ban cho họ thần khí và thần khí
đă đem đến cho họ sự hồi sinh. Và
cầu nguyện với đức tin là một khuôn thước
-- đây là một thứ quyền năng bí mật. Hăy
xin Thiên Chúa ban cho anh em đức tin mạnh mẽ. Đức
tin có thể đưa đến sự lớn mạnh và
phát khởi. Một đức tin mạnh mẽ là sức
mạnh chống lại sự tăm tối của đời
sống tinh thần.
--
Cầu nguyện với đức tin có thể chữa lành
bệnh.
--
Cầu nguyện với đức tin có thể được
cứu rỗi.
--
Cầu nguyện với đức tin có thể được
thánh hóa.
--
Cầu nguyện với đức tin có thể phục
hồi.
--
Cầu nguyện với đức tin làm cho con người
thành dũng mănh trước Thiên Chúa.
Thánh Augustine nói, "Thiên Chúa có một
người con không có tội lỗi, hoàn toàn trong
sạch vô t́ vết, nhưng không có ai không chịu đau
khổ. Nếu Thiên Chúa không cho phép Chúa Jesus thoát khỏi
khổ đau, th́ Thiên Chúa không có ngoại lệ nào dành
cho con người. "CHÚNG TA PHẢI
TRẢI QUA CÁC THỬ THÁCH KHỔ ĐAU ĐẺ BƯỚC
VÀO NƯỚC TRỜI".
Thiên Chúa không hứa sẽ có ngoại
lệ từ khổ đau cho con người, nhưng Chúa
đă hứa sẽ trợ giúp cho con người vượt
qua mọi thử thách gian nan và đau khổ -- nếu con
người cầu nguyện với đức tin.
Khi cầu nguyện, hăy trao lên Thiên Chúa
tất cả những gánh nặng trong ḍng đời; hăy
để lại trong tay Thiên Chúa tất cả gánh
nặng để tiếp tục bước đi.
Chính Chúa Kito đă hứa:
"I will never leave thee -- never forsake
thee"
"Ta sẽ không bao giờ rời
bỏ các con ra đi -- không bao giờ bỏ bê các con
đâu".
Các nhà thần học Kito giáo cũng
nhận rằng, đời sống là một đấu trường
xung đột. Cuộc đời là một hành tŕnh
ngắn ngủi, nó đánh dấu bằng mồ hôi và nước
mắt với tất cả những thử thách gian nan, và
v́ được thí nghiệm nên được gọi là
hóa chất nhiệm màu của Trời cao -- v́ thế hăy
cầu nguyện!
Để nỗ lực chạy trốn
trước những khổ đau, điều đó
chỉ làm cho đời sống tinh thần thêm non nớt
yếu đuối mà thôi.
--
Tôi đă bước qua lửa bỏng da người
của thù nghịch.
--
Tôi đă lảo đảo ngả nghiêng, nhưng không
gục ngă dưới một cây Thánh Giá.
--
Tôi đă biết khổ đau rồi sẽ rơi
xuống như cơn mưa phùn.
Chúng ta đều là những con người
đă bước qua những thung lũng của khổ
đau nghiệt ngă và tủi nhục, biết rằng
cầu nguyện không phải bất động. Cầu
nguyện là một quyền năng. Chúng ta đều
đă học ở nơi thế giới đầy thương
đau này rằng -- một tâm hồn đau khổ,
nếu không cầu nguyện và tin tưởng vào
quyền năng vô biên trợ giúp của Thiên Chúa, th́
đời sống này nương tựa vào ngọn
cỏ hay sao?
Kết
cục các nhà thần học Hoa Kỳ khuyên con người
rằng, để chiến thắng các trận đồ
cám dỗ, người Kitô hữu phải cầu
nguyện và giữ lấy TÂM LINH làm hàng rào chống
đỡ. Bởi v́ ma quỉ đang t́m mọi cách để
tàn phá đời sống tâm linh của con người. Chúng
ta phải cầu nguyện và vượt thoát ra ngoài hàng
rào của tham lam, sự xấu xa tồi bại, sự ích
kỷ, kiêu căng tự măn, nỗi ngờ vực, sự
sợ hăi --- tất cả những thứ đó đều
dẫn ta đến sự nghèo nàn khánh tận giá trị
tâm linh. Hăy cầu nguyện và lấy đức tin che
chở, hăy bước đi đồng hành với Thiên
Chúa, với sự thật và với t́nh yêu -- tất
cả những thứ đó đưa dẫn ta đến
sức mạnh của tâm linh và tinh thần.
Hăy t́m cách chế ngự những cơn
gió băo của si mê vừa bắt đầu thổi lên, và
hăy tự dập tắt những ngọn lửa của
dục vọng thấp hèn, và hăy thanh lọc thánh hóa tâm
ḿnh trước khi cầu nguyện.
Và Thiên Chúa nh́n vào tâm con người.
Nếu chúng ta không dùng tâm trong sạch để cầu
nguyện, th́ sức mạnh tinh thần và tâm linh không bao
giờ đến với chúng ta.
Isaiah có lần nói rằng, khi kẻ thù
xuất hiện như một cơn nước lụt,
thần khí của Thiên Chúa sẽ nâng tâm hồn con người
lên một tiêu chuẩn thật cao để chống
lại chúng (Isaiah 59:19).
Và sau chót, cầu nguyện đưa
đến hy vọng cho cá nhân và đưa đến
chung cho cả xă hội. Nếu cầu nguyện có thể
giải quyết những vấn đề riêng tư cho
con người, th́ cầu nguyện cũng đem hy
vọng đến cho cả quốc gia và thế giới.
(Viết
theo Bernie Smith "Meditation on Prayer" (1966), Baker Book House Co.,
Michigan)
Tất cả mọi người đều
biết, ư nghĩa và mục tiêu của cầu nguyện
của các chính giáo là để giúp cho con người
nối lại đời sống tinh thần của
nội tâm với quyền năng vô biên của vũ
trụ và Tạo Hóa. Để chữa trị sự băng
hoại rũ liệt của đời sống tinh
thần con người, nhất là đối với
một xă hội vô đạo đức và một
quốc gia đă tự tàn phá hủy hoại chính lương
tâm của quốc gia ḿnh, th́ cầu nguyện trở thành
một nhu cầu khẩn thiết và cực kỳ nghiêm
trọng cho đời sống của mỗi con người
và đời sống của cả xă hội.
Sống trong xă hội và quốc gia
ấy, con người đă mất ánh sáng, mất
niềm an vui hạnh phúc, mất t́nh yêu chân thật,
mất t́nh người, mất niềm tin, và có thể
mất cả đời sống tinh thần và sức
khỏe. Trong xă hội và quốc gia đó, con người
có tai không biết nghe, mắt có nhưng đă thành mù ḷa
tăm tối, chân bước đi vất vưởng không
định hướng, miệng lưỡi xấu xa nói
toàn lời gạt gẫm điêu ngoa, trí tuệ bị u
trầm đọa lạc và tâm hồn bấn loạn u
tối dầy đặc.
Đó là chỗ tai hại của con người
đă tự nhận ḿnh là những kẻ vô thần;
đă vô thần, th́ sẽ sống vô tâm, vô tính, vô t́nh,
vô đạo và vô pháp. Đă hơn 60 năm qua, kể
từ ngày Hồ Chí Minh và đảng CSVN đem chủ
nghĩa cộng sản vô thần vào Việt Nam, họ
đă bắt dân tộc đó uống những viên
thuốc độc mang tính chất tàn phá lần ṃn
lục phủ ngũ tạng trên ḍng sống của
một dân tộc. Những con người này đă
chống lại đấng Tạo Hóa, chống lại
tất cả luật lệ thiên nhiên, và chống lại
tất cả mọi giá trị nhân bản của xă
hội con người. Thật chưa thấy có giai đoạn
lịch sử nào mà thiện tâm và chân tâm của con người
bị chính con người tàn phá hủy hoại tận t́nh
đến như thế. Chế độ chính trị
đầy tính chất yêu ma quỉ quái này đă liên
tục xô đẩy con người vào những cảnh
sống làm cho con người từ từ biến thành
những con người chỉ c̣n cái tâm mù ḷa, tâm độc
ác, tâm gian dối điêu ngoa, tâm phàm phu tục tử lúc
nhúc khắp nơi, khắp chốn.
Đúng là con người là sản
phẩm của xă hội, và xă hội cũng là sản
phẩm của con người. Cá nghiệp và cộng
nghiệp, cũng có nghĩa là tội lỗi của
mỗi cá nhân, đem cộng chung lại th́ thành cộng
nghiệp của một quốc gia.
Và Việt Nam ngày nay có lẽ là một
quốc gia tội lỗi nhất (The most sinful nation) trên trái
đất này. Hai tội lỗi lớn nhất của
chế độ chính trị CS là tội NGHỊCH THIÊN.
Đây là tội đại bất kính với vũ
trụ thiên nhiên và siêu nhiên của Tạo Hóa hay Thiên Chúa.
Kế đó là tước đoạt quyền sống
của người dân Việt trong khi họ đều là
con cái của Trời hay của Thiên Chúa.
Khi một chế độ chính trị
chống lại tôn giáo là họ vi phạm luật của
tôn giáo và làm ngăn trở vai tṛ và chức năng
của tôn giáo gồm có sự truyền bá mệnh
lệnh của Trời:
1
- Tạo Hóa là công chính cai quản cả vũ trụ.
2
- Truyền dậy đạo lư và ban phát công lư.
3
- Đem luật thiên nhiên đến cho con người và
quốc gia của họ để xây dựng con người,
gia đ́nh và quốc gia.
4
- Thực thi trách vụ đạo đức trong sáng
tạo.
5
- Xây dựng ư thức về sự tối cao của đạo
đức.
Đời
sống quốc gia và xă hội có ba cơ cấu chính:
- Gia đ́nh
- Các giáo hội các tôn giáo
- Guồng máy chính quyền
Hiện nay
ba cơ cấu rường cột của đời
sống xă hội và quốc gia gần như mục nát
hay yếu đuối vật vờ. V́ thế lương
tâm của quốc gia cũng mục nát hay rơi xuống
hố thẳm mù ḷa tăm tối của tội lỗi và
xấu xa mà không có mấy ai thực sự quan tâm đúng
mức.
Nếu quốc gia có luật pháp công
minh và nghiêm minh th́ luật đó không thể vi phạm
luật đạo đức vĩnh cửu trời đất,
và càng không thể vi phạm luật lệ của
trật tự thiên nhiên và luật đạo đức
trong lương tâm con người mà Thiên Chúa đă
viết xuống, đúng như Thiên Chúa đă phán trong
giao ước mới:
"Ta sẽ viết với chúng một giao ước
mới." Thiên Chúa phán rằng, "Ta sẽ đem
luật của Ta khắc sâu vào phần sâu thẳm, và
khắc vào Tâm chúng, và Ta viết xuống. Ta sẽ tha
thứ mọi tội lỗi, và tội lỗi của chúng,
Ta sẽ cho vào quên lăng." (Jeremiah
29:13)
Chúa phán thêm: "Ngươi
sẽ t́m Ta và sẽ gặp Ta. Khi ngươi t́m kiếm
th́ t́m kiếm với tất cả tâm hồn ngươi."
(Jeremiah 31:31, 33).
Luật của Thiên Chúa là luật thiên
nhiên đă làm nên trật tự Trời đất. Khi con
người sống "nghịch Thiên" th́ con người
phải chết. Luật ấy Thánh Kinh gọi là Luật
Công Chính.
Thánh Kinh nói rằng, CHÍNH SỰ CÔNG CHÍNH
NÂNG QUỐC GIA LÊN CHỖ VINH QUANG SÁNG NGỜI. V́ thế
theo luật đạo đức vĩnh cửu th́ sự
công chính của quốc gia c̣n quan trọng hơn tất
cả quyền lực quốc gia.
Tại Việt Nam hiện nay, luật pháp
đă chống lại Trời đất, đă chống
lại Tạo Hóa, và đă chống lại luật đạo
đức và luật yêu thương trong lương tâm
con người. Luật pháp đó bất minh và bất công,
tệ hơn nữa, luật pháp đó đă viết ra
để bảo vệ những kẻ cầm quyền cai
trị đầy tội lỗi với Tạo Hóa, với
Dân Tộc và với toàn dân Việt. V́ thế luật pháp
đó đang đồng lơa với tội ác, với cường
quyền bạo lực và đồng lơa với đủ
mọi h́nh thái đọa đầy con người.
Trong khi ấy, trong cuốn “Man and the
State”, tác giả Jacques Maritain đưa ra nhận định
rằng, trong đời sống cộng đồng
quốc gia, có cộng đồng chính trị để
chu toàn các chức năng của chính trị và các
hoạt động xă hội. Người ta thường
có sự lúng túng khi đứng giữa quốc gia và nhà
nước. Sự lúng túng này là nhà nước đă
nắm trọn quyền sinh sát toàn bộ xă hội;
bởi v́ nhà nước (state) đă tự đồng hóa
ḿnh với quốc gia (nation), khi hai bộ phận này hoàn
toàn khác nhau.
Trước đây quốc gia nằm
trong tay quyền hành thế tục của nhà nước
tự coi ḿnh như Thiên Tử để nắm hết
quyền hành chính trị, kinh tế và xă hội. Họ
đánh mất trật tự khách quan của xă hội
phải có công lư và luật pháp. Từ bộ lạc
chuyển qua phong kiến, rồi quân chủ chuyên chế
được tái lập lại trong một guồng máy
lớn nhất và một nhóm người nắm giữa
toàn bộ để lập lên một chế độ
độc tài. Độc tài cá thể như các vua ngày xưa,
và ngày nay là độc tài tập thể: CẢ HAI ĐỀU
ĐÁNH MẤT TRẬT TỰ CỦA ĐẠO ĐỨC
VÀ CÔNG LƯ.
Quốc gia tùy thuộc vào sự
hiện hữu của xă hội chính trị. Quốc gia là
quốc gia, nhà nước là nhà nước. Nhà nước
chỉ là một bộ phận của quốc gia. Quốc
gia là một tổng thể và nhà nước là một
bộ phận tùy thuộc vào quốc gia, dù là bộ
phận quan trọng nhất. Quốc gia không trở thành
nhà nước, mà nhà nước v́ quốc gia mà thành nhà
nước.
V́ thế hệ thống chính trị
phải phát triển như sau:
1.Phải
xây dựng đạo đức chính tri.
2.Phải
thực thi công lư bằng luật của đạo đức.
3.Phải
tôn trọng tự do của dân.
4.Phải
tôn trọng tài sản của dân.
5.Tôn
trọng tất cả quyền căn bản và quyền
tự nhiên của dân, đó là những quyền không
thể thiếu được.
Và nhà nước phải phục vụ
quốc gia, và cộng đồng chính trị phải
phục vụ cộng đồng quốc gia.
Tại Việt Nam
hiện nay cả một quốc gia phải phục vụ
nhà nước, và nhà nước phải phục vụ
đảng CSVN và bắt cả quốc gia phải phục
tùng toàn bộ mệnh lệnh của đảng.
Hậu quả, như Sir Acton đă nói, “người
nắm giữ quyền hành tuyệt đối sẽ
dẫn đến sa đọa tội lỗi tuyệt
đối.”
Trong hệ thống chính trị Việt
Nam hiện nay, theo hiến pháp đă tổ chức,
một chính quyền với tam quyền phân lập:
lập pháp, hành pháp và tư pháp. Lập pháp để làm
luật. Hành pháp để thi hành luật. Và tư pháp
để giải thích, bảo vệ luật pháp quốc
gia và xét xử tất cả mọi vi phạm hiến pháp
và luật pháp, kể cả tội phạm của lập
pháp và hành pháp.
Nhưng khốn thay, đảng CSVN và
tất cả những đảng viên cao cấp nằm
trong bộ chính trị và trung ương đảng đă
nắm hết các chức vụ trong lập pháp, hành pháp
và tư pháp, nên thay v́ lập pháp làm luật để
bảo vệ hiến pháp, bảo vệ quốc gia và
bảo vệ dân th́ lại bảo vệ chính họ và
bảo vệ đảng của họ. Bên
cạnh đó cơ quan hành pháp đứng đầu là
thủ tướng là cơ quan thi hành luật pháp
quốc gia, bảo vệ hiến pháp, bảo vệ
quốc gia, và bảo vệ toàn dân – th́ cơ quan hành pháp
cũng chỉ bảo vệ đặc quyền, đặc
lợi của riêng họ và bảo vệ đảng.
Cuối cùng cơ quan tư pháp th́ cũng là một cơ
quan của đảng, v́ đảng và cho đảng, nên
luật pháp được xử dụng như phương
tiện để hiếp đáp dân.
Trong lúc bộ phận nhà nước là
nhà nước của đảng, do đảng và v́
đảng, th́ nhà nước c̣n tự ư đồng hóa
ḿnh với quốc gia, đồng hóa ḿnh với toàn dân,
đồng hóa ḿnh với dân tộc, và đồng hóa ḿnh
luôn với cả tổ quốc để làm ǵ, để
nắm lấy trọn vẹn quyền hành, quyền
lực, quyền uy, quyền thế và quyền lợi
của cả một cộng đồng quốc gia và dân
tộc để khống chế và đè bẹp cơ
cấu gia đ́nh và các cơ cấu tôn giáo.
Hai cột chính là gia đ́nh và tôn giáo,
trong ba cột trụ của đời sống của toàn
dân và đời sống quốc gia, bị ăn ruỗng
lần ṃn như một căn bệnh ung thư không c̣n
thuốc chữa. Tất cả mọi giá trị làm nên
đời sống lành mạnh của xă hội đều
sụp đổ. Đạo lư, tôn giáo, văn hóa, đạo
đức, nhân cách, nhân phẩm, nhân tâm, nhân tính, nhân t́nh
và nhân vị lại bị chính những con người
CẦM QUYỀN và LĂNH ĐẠO QUỐC GIA, LÀ NHỮNG
NGƯỜI CỘNG SẢN, DANG TAY PHÁ HỦY TẬN
GỐC RỄ NỀN TẢNG ĐỂ XÔ ĐẨY CHÍNH
DÂN TỘC CỦA M̀NH VÀO T̀NH TRẠNG RŨ LIỆT
VỀ ĐỜI SỐNG TINH THẦN ĐỂ KHI BỊ
BỌN GIẶC GIÀ PHƯƠNG BẮC XÂM CHIẾM LĂNH
THỔ, LĂNH HẢI, TRƯỜNG SA, và HOÀNG SA TH̀ ĐĂ
MẤT HẾT KHẢ NĂNG CHỐNG ĐỠ. ĐÀNH ÔM
MỐI HẬN TRONG CÂM NÍN ĐỂ NHẬN CHỊU SỰ
KHIẾP NHƯỢC TÔI Đ̉I HÈN HẠ CHƯA TỪNG
THẤY TRONG SUỐT D̉NG LỊCH SỬ CHỐNG NGOẠI XÂM
HÀO HÙNG CỦA DÂN TỘC VIỆT.
Trên thực tế đó, lại thêm
một chiếc mặt nạ của đảng CSVN rơi
xuống để lộ nguyên h́nh là những kẻ
KHIẾP NHƯỢC, HÈN HẠ. Từ nay dân tộc
bất hạnh này nếu mỗi lần nhắc đến
đảng CSVN th́ đừng gọi là đảng CS
nữa, mà hăy gọi họ là ĐẢNG CỦA NHỮNG
KẺ KHIẾP NHƯỢC, HÈN HẠ -- bởi v́
những người CSVN đúng là những kẻ “khôn
nhà dại chợ”, những kẻ “hết khôn dồn
ra dại”, những kẻ “khôn quá hóa rồ”,
những kẻ “đánh đĩ mười phương
không biết để một phương lấy chồng”,
nên đă lập nên cái ĐẢNG CỦA NHỮNG KẺ
KHIẾP NHƯỢC, HÈN HẠ đó để tự rước
lấy cái nhục ngàn năm.
Bài học mà đảng của
những kẻ khiếp nhược hèn hạ đó bây
giờ là bài học lịch sử dành cho bất cứ ai
vỗ ngực xưng tên là “những người vô
thần” cần lưu tâm. Những người này có
thể nói, “tôi không theo tôn giáo nào hết”, nhưng –
là con người họ phải có LƯƠNG TÂM, LƯƠNG
TRI và LƯƠNG NĂNG, nếu ai từ chối ba giá
trị nhân bản đó th́ họ có thực sự c̣n là
người không, hay chỉ là những con thú đội
lốt người?
Những con người tự nhận là
“vô thần” có thở ra thở vô để t́m sự
sống và để duy tŕ sự sống của họ
từng giây từng phút không? Nếu có, th́ họ có
biết sự sống ấy --- một sự sống mà muôn
người, muôn vạt và tất cả cỏ cây hoa lá
trên trái đất này đều phải tùy thuộc
để sống và duy trị sự sống từng giây
từng phút? Chỉ cần con người ngưng thở
đôi ba phút thôi, con người có c̣n sống được
không?
Thiên Chúa là ǵ, Tạo Hóa là ǵ, Thượng
Đế là ǵ? Không ai biết, kể cả Phu Tử, nhưng
Phu Tử và tất cả các nhà Đạo Học Đông
phương đều tin tưởng rằng, Trời
Đất tôn trọng nhất là ĐỨC HIẾU SINH,
tức là sự sống của con người và của
muôn vật. Như vậy sự sống ấy có thật,
và nhờ sự sống ấy con người mới
sống được.
Trong lúc Thiên Chúa, Tạo Hóa hay Thượng
đế vô h́nh, vô ảnh, vô thanh, vô xú, con người
không thể nh́n thấy được; cũng như con
người cũng không thể nh́n thấy hơi thở
ra thở vô từng giây từng phút để con người
có thể sống và duy tŕ sự sống. SỰ SỐNG
HOÀN TOÀN VÔ H̀NH, VÀ SỰ SỐNG ẤY CHÍNH LÀ THIÊN CHÚA,
LÀ TẠO HÓA, hay THƯỢNG ĐẾ , hay con người
muốn đặt tên về SỰ SỐNG ẤY là tên
gọi ǵ cũng được, thế giới thiên nhiên
(natural world) hay năng lực vũ trụ (cosmic energy) –
tất cả chỉ là những tên gọi khác nhau để
nói về SỰ SỐNG ẤY – bởi v́ Thánh Kinh
vẫn nói, “Chúa ở khắp mọi nơi”, và chính Chúa
Jesus đă nói:
“I am the Way, the Truth, and the Life. No man cometh unto the Father
but me.”
“Ta là ĐẠO, là SỰ THẬT, và là SỰ
SỐNG, không có ai đến được Cha Ta mà không
qua trung gian của Ta.” (Ga
13:6)
Từ những sự thật cho chúng ta
thấy ǵ? Con người đă quay mặt, chống đối,
nổi loạn và thù nghịch với tôn giáo, chống báng
lại Thiên Chúa, Tạo Hóa, hay Thượng Đế
(anti Christ), hay tự nhận là những kẻ “vô
thần” – bởi v́ sao? Chỉ v́ phần đông con người
không hiểu hay chưa hiểu sự sống của chính
họ có mối tương quan mật thiết, mang tính cách
tuyệt đối với Thiên Chúa, Tạo Hóa hay Thượng
Đế. Cả hai chỉ là MỘT. SỰ SỐNG ĐÓ
CHÍNH LÀ THIÊN CHÚA HẰNG SỐNG--- LIVING GOD, HAY THIÊN CHÚA
HẰNG SỐNG CHÍNH LÀ SỰ SỐNG đă đến
với tất cả con người và mỗi người
trong những hơi thở ra thở vô từng giây
từng phút.
V́ thế đă đến lúc tất
cả con người tự nhận là vô thần có
thể chống cái mà họ gọi tên là “Thiên Chúa”,
“Tạo Hóa”, hay “Thượng Đế”, nhưng
họ không thể chống lại SỰ SỐNG của chính
họ -- ĐÓ LÀ TẤT CẢ SỰ NHIỆM MÀU THIÊNG LIÊNG
của SỰ SỐNG mà con người có thể t́m
thấy trong chính sự sống của họ và sự
sống của muôn sinh vật. Luật Hiếu Sinh của
Tạo Hóa nói: “Ngươi không
được giết người.”
Đó là luật buộc con người
sống và phải tôn trọng sự sống của
kẻ khác và của muôn loài, muôn vật. Bên cạnh
luật đó, Thiên Chúa đă viết luật của Thiên
Chúa ngay trong TÂM của mỗi con người. Sống theo
luật ấy, th́ con người có LƯƠNG TÂM, LƯƠNG
TRI, và LƯƠNG NĂNG. Khi con người đánh
mất ba giá trị cao quư ấy, con người không khác
ǵ loài dă thú. Hăy lắng nghe Pascal đưa ra nhận xét
của ông về con người, “Đây là điều
đă được chứng minh trên những thảm
họa của con người. Bởi v́ bản chất ǵ
có trong loài vật, lại trở thành bản tính tự
nhiên của chúng ta và nó đă đưa đến
thảm họa cho con người – bởi v́ chính ở
đó, chúng ta nhận ra rằng, sự sống tự nhiên
của chúng ta bây giờ giống như loài thú vật,
con người đă sa ngă hư hỏng từ một
bản tính vô cùng tốt đẹp.”
Từ nhận định của Pascal,
chúng ta thấy cái bản tính tốt đẹp của con
người chỉ có thể bắt nguồn và phát
khởi từ lương tâm, lương tri, và lương
năng của con người. Việt Nam ngày nay dưới
sự lănh đạo của ĐẢNG KHIẾP NHƯỢC
ƯƠN HÈN là những người CS muốn rửa
mối nhục ngàn năm do những tên “Giặc già phương
Bắc” để đ̣i lại những mảnh giang sơn
gấm vóc của tổ tiên vừa mất th́ phải có
khả năng t́m mọi cách để phục hồi
lại mẫu người của HÙNG GIA ĐẠI
VIỆT. Đó mới là những con người BẦN
TIỆN BẤT NĂNG DI, PHÚ QUÍ BẤT NĂNG DÂM, UY VŨ
BẤT NĂNG KHUẤT.
Muốn làm sống lại tinh thần Phù
Đổng Thiên Vương, tinh thần của Hùng Gia
Đại Việt – một tinh thần đă viết lên
những trang sử lẫy lừng khi phải tranh hùng
với Hán – Đường – Tống – Nguyên – Minh –
Thanh suốt bao ngàn năm qua để sống, tồn
tại và tiến hóa. Hăy đứng lên! Dũng mănh như
tinh thần của B́nh-Ngô-Đại-Cáo, hỡi những
kẻ khiếp nhược ươn hèn kia.
Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân.
Quân điếu phạt trước v́ khử bạo.
Nước Đại Việt ta nền văn
hiến cũ;
Tuy mạnh yếu từng thời có khác,
Nhưng hào kiệt chẳng thủa nào không.
Rút lại, th́ lấy đại nghĩa mà thắng
hung tàn.
Lấy chí nhân mà thay cường bạo.
Đó không phải tiếng réo gọi
của riêng chúng tôi, mà đó là lời NHẮN NHỦ
CỦA HỒN THIÊNG ĐẤT VIỆT gởi cho những
người CSVN, những kẻ khiếp nhược
ươn hèn đă để cho cả dân tộc này
phải chịu cảnh QUỐC NHỤC hôm nay. Đúng là
:
Đẵn hết trúc Nam Sơn chẳng đủ
để biên ghi tội ác.
Múc cạn nước Đông Hải chẳng đủ
để rửa sạch tanh nhơ.
Hiện
nay những con người trong ĐẢNG KHIẾP NHƯỢC
VÀ ƯƠN HÈN sống với tiền rừng bạc
bể. C̣n chúng tôi – những con người của Hùng
Gia Đại Việt và là những con người
THỜI ĐẠI NĂM 2000, hăy nh́n đến vị trí
và thân phận chúng tôi:
Từ chiến tranh đau khổ và nghèo đói,
Từ lam lũ và cheo leo,
Từ những phản tỉnh thâm uyên,
Từ những thử thách kinh hoàng,
Từ những cơn lốc,
Nhưng dù nghèo khó khổ sở điêu
linh tới đâu, chúng tôi vẫn thấy, muốn
sống và chết đi như những tay hào kiệt
của Hùng Gia Đại Việt th́ đừng bao giờ
rời xa ĐẠO LƯ của TRỜI và ĐẠO LƯ
của TỔ TIÊN ĐẤT VIỆT . Đó là những
con người phú quư bất năng dâm, bần tiện
bất năng di, và uy vũ bất năng khuất.
Đúng
là: Trăm năm danh tiết cũng v́
đêm nay.
(Nguyễn Du)
V́ thế, tất cả những con người
của thời đại phải t́m mọi cách để
học KINH NGHIỆM CHUYỂN MỆNH của người
thi sĩ tóc trắng Nguyễn Du đă dặn ḍ giới sĩ
phu Đất Việt.
Thân
tàn gạn đục khơi trong,
Là
nhờ quân tử khác ḷng người ta.
Bởi v́ xă hội Việt Nam ngày nay là
một xă hội vô đạo đức, và lương tâm
của một quốc gia (conscience of a nation) đă mất,
v́ những người lănh đạo đất nước
và xă hội – v́ tự nhận là vô thần nên đă
tự hủy chính đời sống nội tâm của chính
ḿnh nên đă trở thành những con người cực
kỳ mù quáng để rơi xuống vực thẳm
của khiếp nhược ươn hèn. Đây là
một bi kịch thê thảm nhất của nhân sinh mà dân
tộc Việt phải gánh chịu từ bao ngàn năm
qua.
V́ thế đă đến lúc chính
những kẻ cầm quyền hành quốc gia phải
đi đến cho họ một lựa chọn SINH –
TỬ. Sự sống của họ tùy thuộc vào
từng hơi thở ra thở vô, nghĩa là tùy thuộc
trọn vẹn, và tuyệt đối vào Thiên Chúa,
Tạo Hóa hay Thượng Đế và tùy thuộc vào lương
tâm, lương tri và lương năng của họ.
Nếu họ tiếp tục chống lại tôn giáo,
chống lại đạo lư, chống lại sự
thật và chống lại sự sống của toàn dân
Việt Nam và của chính họ, họ sẽ tự rước
lấy thảm họa từ trời giáng xuống. Nếu
con người không thể lọt lưới trời
lồng lộng th́ những người CSVN sẽ không có
ngoại lệ cho họ. Tất cả tiền rừng
bạc bể có thể mua được nhiều thứ,
nhưng họ không thể mua được sự
sống mà sự sống màu nhiệm của Đất
Trời đem đến cho họ từng phút từng giây
qua hơi thở vô và hơi thở ra của họ.
Tất cả những người CSVN
muốn sống, họ phải bảo lẫn nhau nằm
đất, trai giới, ăn chay và sám hối như Hoàng
Đế Bảo Đại và các quan trong triều dọn
ḿnh cho thật sạch để tế lễ Nam Giao, dâng
lễ vật lên Thượng Đế để thú
nhận mọi tội lỗi với Trời Đất,
với tổ tiên, tiền nhân và cả khối quốc dân
Việt. Để làm ǵ? Để đoạn tuyệt vĩnh
viễn với chủ nghĩa cộng sản vô thần,
để t́m lại sự sống tốt đẹp cao quư
với lương tâm, lương tri và lương năng
của chính họ. Đừng tiếp tục chống
lại luật đạo đức của Trời Đất,
bởi v́ nó chỉ đưa đến bại vong cho
họ mà thôi. Làm như thế là chống lại sự
sống của chính ḿnh.
Ngươi không được giết người,
Và ngươi không được tham lam của người!
Những người CSVN phải khôn
ngoan sáng suốt t́m lại sự sống trong sự
sống chung của cả một dân tộc—trên một
nền tảng vững chắc cho mối tương quan không
chỉ giữa người và người, mà c̣n giữa
người và Trời Đất vũ trụ thiên nhiên và
siêu nhiên—đó chính là Tạo Hóa hay Thiên Chúa, tức tương
quan mật thiết với nguồn mạch của sự
sống (living God), mà trong mối tương quan ấy chính
là lương tâm, lương tri và lương năng
của mỗi con người.
Muốn cứu văn một xă hội
đang tan ră như xă hội Việt Nam hiện nay th́
phải cứu văn giá trị đạo đức và công
lư cho xă hội ấy. Quốc gia muốn ra khỏi sự
mù quáng và bóng tối của lương tâm để có
ánh sáng chỉ đường th́ những người
CSVN phải qui tâm hướng nội để t́m lại
sự phục sinh của lương tâm, lương tri và
lương năng. Đó là cách duy nhất để
cứu một quốc gia.
Theo nhà thần học Kyle M. Yates,
những điều giảng dậy của các tiên tri
thời Cựu Ước (805 BC) mang tính chất rất
linh động. Mỗi thời đại đều có
tiếng nói cất lên nói cho chính thời đại
của ḿnh.
Họ đă chiếu rọi ánh sáng vào
thời đại của chính chúng ta bằng cách nói
về những nguyên tắc vĩnh cửu của Trời
Đất, luôn luôn cần thiết cho bất cứ hoàn
cảnh nào tương tự như nhau của các thời
đại. Công tŕnh của Thiên Chúa từ bao ngàn năm
qua vẫn c̣n giá trị thiết thực cho ngày hôm nay.
Nếu chúng ta cũng phạm những tội lỗi như
thế th́ chúng ta sẽ lănh nhận h́nh phạt như
thế. Thánh Kinh cũng đề cập nhiều lần
tới luật nhân quả. Con người gieo nhân nào
chỉ gặp quả ấy.
Các tiên tri của thời Cựu Ước,
cũng như Chúa Jesus, đều sống cuộc đời
đơn độc, cô đơn để cầu
nguyện, để ḥa đồng hiệp nhất với
Thiên Chúa. Họ đều qui tâm hướng nội để
lắng nghe tiếng réo gọi của đấng Tạo Hóa.
Các tiên tri lên tiếng để chỉ
trích các thói hư tật xấu trong đời sống xă
hội, trong đó các vua, các tầng lớp tu sĩ hay tư
tế, các vương tôn và các nhà quư tộc đă
được đề cập tới.
Nhóm tiên tri thứ nhất gồm có Moses, Samuel, Elijah,
Elisha, Joel, Jonah.
Nhóm thứ hai vào thế kỷ thứ 8 BC gồm có
Amos, Hosea, Isaiah, và Micah.
Nhóm thuộc thế kỷ thứ 7 gồm có Zephaniah,
Jeremiah, Nahum, Habakkuk.
Nhóm thời lưu đày gồm có Obadiah, Ezikiel.
Nhóm hậu thời lưu đày gồm có Haggas,
Zechariah và Malachi.
Đặc biệt là phần đông các
tiên tri để ư đến vấn đề TÂM ĐẠO
của con người.
Trong cuốn Preaching From The Prophets,
xuất bản năm 1942, tác giả là Kyle M. Yates, cho
biết trong lịch sử tôn giáo của thế giới có
hai loại người khó tránh được sự va
chạm với nhau. Đó là hàng ngũ tư tế và các
tiên tri. Tầng lớp tư tế nhấn mạnh trước
tiên là việc tế tự với niềm hân hoan trong các
cuộc lễ, dù luân lư đạo đức có trong
thần học, nhưng không phải ưu tiên số
một.
Tôn giáo h́nh thức (formalism) đă
phạm những tội lỗi lớn nhất với tôn
giáo, nó có chiều hướng trở thành một h́nh
thức. C̣n các tiên tri th́ muốn làm sáng tỏ ngay trong
đời sống. Các tiên tri, như các nhà hiền
triết Đông phương, đều chủ tâm tới
việc d́u dắt hướng dẫn con người cách
sống và tiếp vật xử thế. Cũng giống như
Chúa Jesus, tất cả đều chỉ trích thường
xuyên để chống lại loại người chỉ
muốn làm tṛn phận sự bên ngoài như một
bổn phận thường xuyên. Các tiên tri thường
nổi giận, hối thúc, lên tiếng phản đối,
đứng một ḿnh với những đ̣i hỏi
mạnh mẽ việc đem áp dụng những nguyên
tắc đạo đức vĩnh cửu trong đời
sống xă hội như các linh mục Nguyễn Văn Lư,
Nguyễn Văn Lợi, Nguyễn Hữu Giải và nhóm
linh mục Nguyễn Kim Điền, hay các linh mục
thuộc ḍng Chúa Cứu Thế Hà Nội làm. Họ cho
rằng d́u dắt hướng dẫn con người trong
đời sống quốc gia và xă hội quan trọng hơn
lễ lạy nhiều. Các tiên tri đều có chủ trương
Đem Đạo Vào Đời, là nhà luân lư đạo
đức, nhà cải cách đạo đức xă hội
(moral reformed), và báo động về sự nguy hại khi
đời sống tâm linh của con người bị sao
lăng bỏ bê.
Chính trong Tân Ước, Chúa Jesus đă
chống lại và đối kháng lại với tinh
thần hư văn, năng thuyết bất năng hành;
nhất là những người Pharisees của Do Thái, đó
là những ai chỉ chú tâm tới ăn chay, luật
lệ, lễ lạy và thờ cúng. Chính Chúa Jesus thường
nhắc đến các tiên tri.
Vào thời Moses, ông đă đứng trước
những khó khăn và những nguy hiểm, cũng như
những thử thách khốc liệt, và theo sự hướng
dẫn trực tiếp của chính Thiên Chúa. Moses đă
giải phóng người Do Thái thoát khỏi kiếp nô
lệ tại Ai Cập (exodus 1447 BC). Đây là thời gian
Ai Cập chiếm ưu thế nhất thế giới.
Moses nh́n vào hoàn cảnh xă hội
thấy dân Do Thái bị tước đoạt quyền
tự do và bị xô đẩy vào những cảnh
sống rất đau khổ. Trong lúc triều đ́nh Ai
Cập sống xa hoa phung phí, Moses nh́n thấy sự đau
khổ của dân nên đă dấn thân vào con đường
giải phóng dân tộc Do Thái, dưới ánh sáng chỉ
đường của Thiên Chúa.
Về phương diện tôn giáo, người
Do Thái có những đức tin nền tảng mà Jacob
đă đem đến cho hậu duệ của ông từ
Palestine. Moses đă bắt đầu dậy dân về
những nguyên tắc đạo lư của Yaweb. Ông đă
t́m ra một nền tảng vững chắc để
dậy dân. Ông cho rằng, dân của ông có một Thiên Chúa
của sự CÔNG CHÍNH, THÁNH THIỆN, và L̉NG NHÂN TỪ, nên
muốn tất cả con cái của Thiên Chúa phải
trở nên như thế. Moses muốn d́u dắt giáo hóa dân
ông để tạo ra một thế giới có những
con người có nhân cách, nhân phẩm, nhân tâm, nhân tính
và nhân vị như Thiên Chúa.
Điều đáng ưu tư hơn
cả là hiểu biết về Thiên Chúa và làm theo thiên ư
của Thiên Chúa.
Đạo lư này cho biết những con
người vô kỷ, vô ngă, tự quên thân ḿnh để
lo cho dân là những bậc vĩ nhân. Các lănh tụ
phải thương yêu dân và sẵn sàng chết v́ dân.
Đó là đạo lư của những người lănh
tụ.
Đạo lư của Thiên Chúa cũng
đưa ra những giá trị vĩnh cửu dành để
xây dựng gia đ́nh gồm có như:
1
– Gia đ́nh phải có đạo lư.
2
– Người cầm đầu phải có tài năng và
đức độ.
3
– Tránh những chuyện phù phiếm để qua mặt
Thiên Chúa.
4
– Phải luôn luôn cầu nguyện.
5
– Nếu vi phạm luật, Thiên Chúa sẽ trừng
phạt.
6
– Người nắm quyền th́ phải nghiêm minh.
7
– Hăy cầu xin để có quyền năng, minh triết
và quyền hành.
8
– T́m kiếm ánh sáng chiếu rọi vào tâm hồn.
9
– Phải trừng phạt những kẻ bất tuân
luật lệ.
10-
Thiên Chúa luôn réo gọi con người.
Ba trăm năm sau khi Moses nằm
xuống, Do Thái lại rơi vào khổ đau tăm
tối. Ngoại thù vây quanh, khi dân Do Thái không thể nào
đoàn kết được. Tinh thần phe phái đă
chia rẽ quốc gia, v́ chỉ bảo vệ cho riêng phe phái
của ḿnh. Khi cả quốc gia đau khổ v́ các nước
thù nghịch xung quanh vây hăm và tàn phá đất Do Thái,
trong giờ phút hiểm nguy, con người đă tự
đứng lên đánh đuổi kẻ xâm lăng, nhưng
không có sự trợ giúp của bàn tay Thiên Chúa. Con người
không đủ sức để chống cự lại
với hoàn cảnh hiểm nghèo, đó là hoàn cảnh chính
trị của Do Thái.
Về phương diện xă hội, v́
mới vào đất Hứa, hoàn cảnh và môi trường
sống c̣n quá mới mẻ, chưa đủ khả năng
thích ứng với hoàn cảnh mới trên đất
mới.
Về phương diện tôn giáo, con người
chạy theo tà thần, chạy theo bái vật, phong tục,
tập quán và tế lễ, nhưng xă hội không có
đạo đức và tiêu chuẩn đạo đức
bị hạ xuống rất thấp. Vẫn tế tự
thờ cúng, nhưng không c̣n giá trị tinh thần.
Và Samuel đă xuất hiện trong
giờ phút đen tối nhất của Do Thái. Dân trông
đợi Samuel cầu nguyện cho quê hương đau
khổ của họ, và ông được coi là tiên tri
lớn nhất v́ đă đưa dân lại với Thiên
Chúa. Samuel dặn dân,
-
Hăy lắng nghe tiếng réo gọi của Trời cao.
-
Hăy tuân giữ luật của Thiên Chúa hơn là tế
lễ.
-
Người chân chính phải nhắm hướng dẫn
lớp trẻ.
-
Không cần thiết phải quay mặt với chính
trị để chỉ lo cho việc tế lễ và
thờ lạy.
V́ thế Samuel không bao giờ nắm
quyền hành chính trị, mà chỉ giúp vua và cả hàng tư
tế làm sao lănh đạo cho đúng luật và ông cũng
giữ vai tṛ thay mặt Thiên Chúa để giám sát,
bảo đảm việc chính trị và tôn giáo của
quốc gia theo đúng luật của Thiên Chúa.
Vào thời tiên tri Elijah, sau khi Samuel
nằm xuống nữa, Do Thái lại sống quằn
quại trong tay ngoại thù là Philistine. Quốc gia đă
phản đạo, bỏ luật của Moses và Samuel để
xây đền thờ thần “Baal”. Trước t́nh
trạng đạo đức suy đồi, và đời
sống tinh thần xuống dốc rũ liệt, Elijah
đă kêu gọi cải cách lại đạo đức
quốc gia bằng luật công chính của Thiên Chúa đă
trao cho Moses để xây dựng quốc gia Do Thái.
Những điều để cứu văn quốc gia
gồm có:
-
Cần xây dựng lực lượng tinh thần trong
đời sống.
-
Phải tôn trọng nhân quyền, quyền tự do và
quyền tư hữu của dân là thiêng liêng mà con người
phải có.
-
Sự chân chính của một quốc gia c̣n cần hơn
là quyền hành quốc gia.
-
Quốc gia cần người đại hùng, đại
lực, đại bi th́ mới có thể thay đổi
vận mệnh của quốc gia được.
-
Phải cầu nguyện v́ trong giờ phút đen tối
nhất th́ cần có Thiên Chúa v́ đó là ánh sáng.
-
Phục hồi lại sức mạnh tâm linh.
Vào thời đại của Amos là giai
đoạn lịch sử đánh dấu sự phá sản
đạo lư của dân Do Thái. Nh́n vào bối cảnh
lịch sử của quốc gia này vào năm 845 BC, Assyria
đă xâm lăng và thống trị Do Thái. Sau khi quốc
gia này sụp đổ, Do Thái được độc
lập. Từ khoảng thời gian từ 805-740 BC,
triều đại của vua Jeroboam II, Do Thái đă đi
từ chiến thắng này qua chiến thắng khác. Sau
đó là các triều đại của vua David và Salomon
đánh dấu giai đoạn thanh b́nh và thịnh trị
nhất, và giầu có nhất.
Về phương diện xă hội,
nhờ giầu có, cuộc sống của những người
quyền thế bước vào sa xỉ. T́nh trạng phát
triển đô thị lớn mạnh, v́ thế đất
đai gom góp vào tay thiểu số. Đời sống
quốc gia rơi vào sự suy đồi của đạo
đức. Những người cầm quyền rơi vào
lạm dụng quyền thế. Những kẻ giầu có
t́m kiếm của cải bất chính và khai thác trục
lợi nơi người dân nghèo khó. Người dân
bị áp chế, hiếp đáp mà không có ai bảo
vệ họ. Dân được Thiên Chúa chọn để
sống theo giao ước là phải là những con người
thánh thiện (Holy Nation), v́ được cai trị
bởi luật của Thiên Chúa (a nation under God) – nhưng
quốc gia vi phạm luật đạo đức của
giao ước.
Về phương diện tôn giáo th́
đền thờ lộng lẫy nguy nga hướng
ngoại, không có mấy ai chú ư tới đời sống
đạo đức. Các lănh tụ tôn giáo chỉ năng
thuyết bất năng hành, sống thiếu tiêu chuẩn
đạo đức. Người thanh liêm chính trực
bị thù ghét. Dối trá, mê tín dị đoan, bái vật,
đú đởn, say sưa và hối mại quyền
thế, làm cho nền tảng đạo lư lung lay tận
gốc rễ. Vương quyền và giáo quyền bắt
tay với nhau. Luật căn bản dành cho con người
như chính trực, liêm chính, lương thiện và trong
sạch trong xă hội hoàn toàn vắng bóng trong lúc Thiên Chúa
chọn Do Thái để gánh lấy trách nhiệm làm gương
cho các quốc gia khác.
V́ thế Amos tấn công mạnh mẽ
vào văn minh tôn thờ vật chất và bái vật và kêu
gọi quay về để cải cách đạo đức,
đem luật đạo đức vào đời sống
và chú trọng vào giá trị tinh thần của quốc
gia.
Hosea là tiếng kêu trong sa mạc.
Triều đại của Jeroboam II, Hosea
đă cất lên lời báo động nóng bỏng để
báo động về thảm họa sẽ đến
với Do Thái. Ông rất lo ngại về đời
sống tâm linh.
Các hàng tư tế được
chọn để đại diện Thiên Chúa lại là
những kẻ đứng đầu các phe nhóm cục
bộ. Chính Hosea đă lên án Do Thái là quốc gia đầy
tội lỗi (sinful nation), và kêu gọi mọi người
hăy quan tâm đặc biệt đến đời
sống quốc gia. Các hàng tư tế th́ là những con
người như sau:
1
– Thiếu kiến thức,
2
– Kiêu căng,
3
– Tâm bất định,
4
– Sống như phàm phu,
5
– Sống sa đọa,
6
– Bái vật.
Hosea rất chú tâm tới đạo
đức xă hội, và luôn kêu gọi con người
ăn năn sám hối để cầu nguyện, xây
dựng và t́m kiếm thêm sự hiểu biết về Thiên
Chúa, phải biết đáp lại với t́nh yêu của
Thiên Chúa đă dành cho quốc gia. Ông cho rằng, sự
thờ lạy không làm Thiên Chúa hài ḷng ngoại trừ
kẻ thờ lạy đến với Chúa với tinh
thần thánh thiện. Với Hosea, quốc gia suy sụp mau
chóng khi các lănh tụ trở nên hư đốn tồi
bại. Ông cho rằng, SỰ HƯ HỎNG TRONG ĐỜI
SỐNG NỘI TÂM CỦA QUỐC GIA C̉N NGUY HIỂM
VỚI QUỐC GIA HƠN LÀ KẺ NGOẠI THÙ.
Thời đại của Isaiah đánh
dấu một giai đoạn lịch sử với
những thử thách chính trị lớn lao của thế
giới. Các đế quốc tranh dành sâu xé lẫn nhau.
Đó là ngày tàn của Jeroboam II. Vào năm 734 BC, Assyria
lại trở lại tàn phá Samaria trong lúc Babylon đang làm
chủ thế giới.
Về phương diện xă hội, người
dân sống lầm than nghèo khổ v́ những người
cầm quyền và giai cấp thẩm phán quá nhiều
dục vọng và bất công.
V́ thế Isaiah cũng lên tiếng
chỉ trích vua, và lớp quư tộc với những thông
điệp nóng bỏng để báo động về
sự suy đồi của đạo lư. Con người
chỉ chạy theo mê tín dị đoan nên làm mất
cả đời sống tâm linh. Cũng không c̣n mấy ai
chịu quan tâm tới đời sống tinh thần và các
giá trị đạo đức. V́ thế xă hội đầy
dẫy sự bất công, độc ác, bất lương,
áp chế dân và sống vô luân.
Chính Isaiah đă báo trước Jesus, là
đấng Cứu Thế của Do Thái và thế giới,
sẽ đến để đem đạo lư, sự
thật và sự sống đến cho nhân loại. Chúa
sẽ chịu chết để vui ḷng Chúa Cha, chết cho
công lư và chết thay cho những kẻ có tội.
saiah cũng kêu gọi con người bước
vào thiền định, an định tâm thân để
cầu nguyện và để gặp gỡ lại Thiên Chúa.
Thiên Chúa nói qua Isaiah với dân
được chọn:
“V́
những tội lỗi xấu xa mà đă tách rời các
ngươi ra khỏi Thiên Chúa của các ngươi. Và
tội lỗi của các ngươi đă làm cho Thiên Chúa
ẩn ḿnh với các ngươi, và không muốn nghe các
ngươi nói nữa – bởi v́ bàn tay của các ngươi
nhuốm đầy máu, và những ngón tay của các ngươi
đầy dấu vết của sự xấu xa tồi
bại " (Isaiah
59:2, 3). Với Isaiah,
-
Cuộc đời sẽ không bao giờ thất bại khi
ta sống theo Thiên ư của Thiên Chúa.
-
Xây dựng đức tin mạnh mẽ nơi Thiên Chúa
sẽ đưa đên sức mạnh và can đảm
cần thiết trong giờ phút lâm nguy và đen tối.
-
Thay đổi chuyển hóa TÂM c̣n quan trọng hơn là các
luật lệ tế lễ và tế tự.
-
Khi Thiên Chúa kêu gọi một tiên tri, Thiên Chúa sẽ ban
cho họ quyền năng cần thiết để
chiến thắng.
Có thể nói Micah là một tiên tri đứng
ra tranh đấu cho những kẻ nghèo khó và đ̣i các
tầng lớp lănh đạo chính trị, tôn giáo và
luật pháp phải thực thi công lư xă hội. Lúc đó
các thẩm phán và các hàng tư tế đều hư
hỏng nên những kẻ có quyền thế luôn luôn áp
chế và hiếp đáp người dân. T́nh trạnh
quốc gia h́nh như không tránh được sự
sụp đổ. Và Micah cho rằng, vương quyền,
các tư tế và các thẩm phán phải chịu hoàn toàn
trách nhiệm. Thiên Chúa đă mặc khải cho Micah nói
lời lên án giới cầm quyền: “Các người thù
ghét công lư, và vo tṛn bóp méo sự thật và lẽ
phải. Xây dựng Zion trên những đống máu và
Jerusalem với tất cả tội lỗi xấu xa. Các
thẩm phán ở trên th́ hối mại quyền thế. Các
tư tế giảng dậy v́ đồng tiền.
T́nh trạnh vô đạo xảy ra
khắp nơi. Các tu sĩ hư thân mất nết, ích
kỷ, vô đạo đức, tham lam. Không c̣n thấy ǵ
tốt đẹp nơi tầng lớp lănh đạo.
Những con người này phạm đủ mọi
thứ tội, chẳng c̣n nhân phẩm, nhân tính và nhân tâm,
đă giết chết ánh sáng tâm linh. Họ chỉ
muốn tiền. Micah nói tiếp”
“Con người lương thiện
đă biến khỏi đất Do Thái; những nhà luân lư
đạo đức chẳng c̣n một ai. Tất cả
đang nằm chờ tiếng réo gọi của máu, con người
giăng bẫy để săn đuổi anh em của
họ. Con người có nhân phẩm và nhân cách th́
sống như bụi gai, chẳng tin được
bạn bè nữa. Những kẻ thù của con người
xuất hiện ngay trong nhà.
Sinh hoạt tôn giáo chỉ c̣n phù
thủy, mê tín, tiên tri giả và say mê bái vật.
Những tà thần của ngoại giáo ảnh hưởng
nặng nề đến sinh hoạt tôn giáo. Con người
thiếu hẳn sự chính trực liêm chính để cho
người khác có thể tin. Quốc gia th́:
Áp chế kẻ nghèo, lạm dụng
quyền lực, bất chính bất nhân, bừa băi
cẩu thả trong sinh hoạt tôn giáo, tiên tri giả
xuất hiện để lừa đảo. Đồi
trụy, tham lam trong tổ chức chính quyền và tôn giáo.
Micah cho biết, quư tộc, thẩm phán,
nhà cai trị, tu sĩ phải có đạo đức, liêm
chính, can đảm và phải tin vào sự thật và
lẽ phải. Để phục vụ con người và
xă hội, tôn giáo phải là công b́nh, tự chế,
tiết độ, lương thiện, cẩn trọng, công
chính và bước đi cận kề với Thiên Chúa.
Theo Jeremiah th́ tôn giáo là vấn để
nội tâm của con người (inner heart) (spiritual
religion). Ông cho rằng, “khi TÂM ĐẠO không thể c̣n
là quốc giáo của Do Thái nữa, Jeremiah chuyển đạo
lư đó thành đạo lư chung cho toàn cầu (universal
spiritual religion), quyền của tất cả nhân loại
từ lúc sinh ra là một người th́ chỉ cần
trở thành một con người là đă có ngay và
trực tiếp về sự đồng hành với Thiên
Chúa. Từ chiều hướng đó có một hy
vọng vĩ đại dành cho thế giới ngoại giáo
(heathen world), và một sự bảo đảm cho sự
truyền đạt đạo lư.
The soul was made for God and will never rest in peace
till it rests in Him.
Tâm hồn con người được
tạo ra để dành cho Thiên Chúa và tâm hồn ấy
sẽ không bao giờ được an lạc đến
khi t́m thấy sự an lạc ấy trong Thiên Chúa.
All sins lies in the individual heart.
Tất cả tội lỗi đều
xuất phát từ tâm con người.
V́ thế Jeremiah khuyên con người bước
vào thiền định (meditation, meditation and meditation).
Jeremiah cho rằng, tôn giáo công truyền
(public religion) phần lớn đă ĺa xa đạo đức.
Những con người sống đă vi phạm tất
cả luật lệ của Thiên Chúa đă khắc trong tâm
con người th́ đến đền thờ để
làm ǵ?
“Đừng vinh danh ngợi khen sự
khôn ngoan của con người. Đừng khoác hào quang
cho những anh hùng, cho những kẻ giầu có, mà hăy khoác
hào quang tại đây này – đó là sự hiểu
biết – và biết đến Ta v́ Ta là Thiên Chúa
của các ngươi.
Hăy để TÂM con người sống
với niềm an vui hạnh phúc trong Thiên Chúa.
Thông điệp của Jeremiah do Thiên Chúa
mặc khải cho ông là,
Hăy
thực thi những giá trị vĩnh cửu.
Tội
lỗi là chuyện của TÂM và tội lỗi phải
được giải phục tẩyn
trừ gội rửa ngay từ cội nguồn đă phát
sinh ra tội lỗi ấy.
Sự
ăn năn sám hối hiển nhiên là nhắm trực
tiếp để chờ đón ânn
sủng của Thiên Chúa trong đời sống của
mỗi cá thể.
Tôn
giáo và đạo lư chân chính (true religion) là một
việc quin
tâm hướng nội, là đời sống tâm linh, là
sự qui hướng của chân tâm về Thiên Chúa công
chính.
Con
đường dẫn đến quyền năng của
sức mạnh là t́m kiếm trongn
nội tâm sâu thẳm, qua kinh nghiệm riêng tư với
quyền năng vô hạn của Thiên Chúa.
Đạo
lư có thể nh́n thấy giá trị bằng cách nh́n vào cái
quản
phát xuất từ sự hành xử chân chính và nh́n vào nhân
phẩm và nhân cách của con người.
Tội
lỗi không thể có chiến thắng – bởi v́
sự chiến thắng tốin
hậu với tội lỗi đến từ Thiên Chúa.
Giao
Ước mới được đem đến sẽ lưu
ư đến TÂM của con người. Từn
tâm đó, con người mới bảo đảm sự
sống đích thực.
Khi nh́n vào vận mệnh của một
quốc gia, người ta nh́n ngay vào ba khía cạnh chính
yếu thuộc ba cơ cấu cột trụ đă làm nên
đời sống và vận mệnh của một
quốc gia ấy: gia đ́nh, tôn giáo và chính quyền. Hay
đó là xă hội, tôn giáo và chính trị. Qua suốt
chiều dài của lịch sử, người Do Thái đă
để biết bao kinh nghiệm cho con người
thấy. Con người muốn sống th́ phải
THUẬN THIÊN, c̣n thuận thiên th́ phải như thế nào
th́ phần đông các dân tộc chưa hiểu rơ, chưa
biết. Thực ra thuận thiên là sống theo thiên lư theo
các Nho gia đă từng nói: Thuận theo Thiên lư, thiên nhiên
và ḷng người. Cũng trên tinh thần ấy, Do Thái
giáo và Kito giáo gọi bằng ngôn ngữ khác là Thiên Chúa,
luật của Thiên Chúa và luật lương tâm mà Thiên
Chúa đă ghi khắc trong tâm của mỗi con người.
Và vận mệnh của một quốc
gia sẽ tùy thuộc vào mức độ tuân hành
được bao nhiêu, hay không tuân hành theo ba giá trị
nền tảng của các luật lệ đó. Thiên Chúa có
luật siêu nhiên, vũ trụ có luật thiên nhiên và con
người có luật lương tâm. Dân Do Thái trong
những thời đại tuân thủ theo ba luật
ấy th́ quốc gia của họ sống trong hạnh phúc
và vinh quang. Ngược lại nếu họ đi ngược
lại, phản bội lại, họ đă bị Thiên Chúa
trừng phạt thật nghiêm khắc như tất cả
những người nào trên 20 tuổi sẽ phải
chết trong sa mạc, không được vào Đất
Hứa. Thiên Chúa đă không cho mưa rơi xuống để
làm tàn lụi tất cả hoa màu của họ. Thiên Chúa
đă quay mặt đi khi họ bị bao đế
quốc xâm lăng và thống trị. Và bao lần họ
phải sống kiếp lưu đày từ bao ngàn năm
qua.
Khi Thiên Chúa giáng xuống, dân được
chọn (chosen people), bao thảm họa kinh hoàng để
khi nào họ ăn năn sám hối tội lỗi, cầu
nguyện và trở về sống với ba luật lệ
đó, Thiên Chúa lại dang tay đón họ trở về.
V́ không hiểu được ư nghĩa và mục tiêu
của sự đau khổ mà Thiên Chúa đem đến
cho dân người, con người đă oán trách và than
phiền là “Thiên Chúa độc ác quá”, để có lư
do không có đức tin vào Thiên Chúa nữa.
Thực ra sự đau khổ là điều
quá cần thiết cho con người – bởi v́ đó là
cách Thiên Chúa tạo ra để con người quay đầu
lại với Thiên Chúa. Muốn thay đổi vận
mệnh của một quốc gia, con người phải
trở về lại với ba luật lệ căn bản
đó. Luật căn bản nhất là LUẬT CỦA LƯƠNG
TÂM. V́ thế trong mỗi cơn suy thoái của xă hội
Do Thái, Thiên Chúa đă sai các tiên tri của Chúa đến
để cảnh cáo về những thảm họa mà Thiên
Chúa sẽ giáng xuống quốc gia của họ. Họ không
thể tránh được – nếu họ chống
lại ba luật căn bản đó.
V́ thế các tiên tri của thời
Cựu Ước đều là những người ĐEM
ĐẠO VÀO ĐỜI bằng cách xiển dương TÂM
ĐẠO và kêu gọi CẢI CÁCH ĐẠO ĐỨC
XĂ HỘI (social ethics) để thay đổi VẬN
MỆNH QUỐC GIA.
Ngày nay nh́n vào xă hội Việt Nam,
cả ba luật căn bản đó đă hoàn toàn suy vi và
mục nát nên đời sống và sức mạnh tinh
thần đă rũ liệt thê thảm. Tất cả
hậu quả lịch sử lớn lao đó đều do
sự lầm lạc quá tai hại của Hồ Chí Minh và
đảng CSVN khi rước về quê cha đất
tổ của ḿnh một chủ nghĩa chính trị mang
đầy tính chất quỉ quái điêu ngoa, chỉ
dẫn đến sự chết và sự mục nát
mọi giá trị tinh thần của xă hội Việt Nam.
Họ không chỉ hủy hoại cuộc sống và
vận mệnh của cả một dân tộc, mà họ c̣n
tự hủy hoại tất cả giá trị cao quư làm nên
cuộc sống của chính họ như nhân tâm, nhân tính,
nhân t́nh, nhân đức, nhân cách, nhân phẩm và nhân
vị của chính họ.
Sự sống của họ cũng tùy
thuộc vào từng hơi thở ra hơi thở vô
từng giây từng phút. Sự sống đó đến
từ Thiên Chúa, đến từ Tạo Hóa, hay Thượng
Đế. Nên tự nhận là “vô thần” là tự
nhận ḿnh chỉ là cái “xác không hồn”, tự
nhận ḿnh không phải là người, mà là những loài
ma quái đến để gieo tai vạ cho xă hội con người.
Đừng bày đặt chống lại tôn giáo,
chống lại Thiên Chúa, Tạo Hóa. Đó là tṛ chơi
của những con người non nớt, chưa thực
sự chín chắn trưởng thành để thành
những con người thực sự.
Hăy tự ḿnh thức dậy và đi ra
khỏi cơn mê sảng của lư tưởng CS, rơ ràng
bây giờ chỉ là một ảo vọng hăo huyền,
đầy tội lỗi và mù quáng nên mới bị
bọn GIẶC GIÀ PHƯƠNG BẮC hiếp đáp
thật trắng trợn mà không làm ǵ chúng được.
Hăy rủ nhau đi vào ăn năn sám
hối – tất cả những con người trong cái
đảng khiếp nhược và ươn hèn kia, chính
các người là nạn nhân của chính ḿnh. Chúng tôi nói
lên điều này không phải thù ghét các người, mà
nói là v́ chúng tôi phải tôn trọng sự thật, và cũng
chính các người, các người th́ tự hỏi chính
ḿnh xem đó có phải là sự thật không? Có phải
tự chính các người làm cho ḿnh thành khiếp nhược
ươn hèn không?
Vận mệnh quốc gia và sự
sống của cả dân tộc Việt đang nằm
trong tay đảng CSVN. Muốn thay đổi th́ chỉ
cần quay về lại với ḿnh, chính lương tâm,
lương tri và lương năng của chính các người,
và quay lại với Thiên Chúa, Tạo Hóa hay Thượng
Đế, tức là quay về với sự sống
của chính các người mà từng giây từng phút các
người đă thở ra thở vô.
Tất cả hăy rủ nhau bắt chước
Hoàng Đế Bảo Đại và các quan trong triều
đ́nh xưa kia, ăn chay nằm đất, trai giới,
giữ ḿnh trong sạch để sửa soạn cùng
với toàn dân Việt đăng đàn tế lễ Nam
Giao để thú nhận tất cả mọi tội
lỗi với Trời đất, với Thiên Chúa, Tạo
Hóa, hay Thượng Đế để xin ân xá. Hăy hành
xử khôn ngoan sáng suốt như tên đồ tể buông
đao xuống để thành Phật. Hăy thức dậy
từ những cơn mê sảng đă kéo dài hơn 60 năm
rồi, và các người không c̣n nhiều th́ giờ
nữa đâu để lựa chọn một lần sau
chót: TỰ CỨU HAY TỰ DIỆT.
Trước cơn suy liệt tột cùng
tinh thần của một dân tộc, và trước cơn
suy liệt tột cùng tinh thần của chính những người
CSVN, không có kẻ ngoại thù nào đem đến cho chúng
ta cả. Chính các người đă tạo tác và xây lên
tất cả. Ai, ai trồng khoai đất này, ngoài
những người vô thần như các người ?
Bởi v́ đă vô thần th́ c̣n t́m đâu ra sức
mạnh và khả năng chống đỡ để vượt
qua bao thử thách kinh hoàng hiện nay mà một quốc gia
đang phải đối đầu. ĐÓ LÀ SỨC
MẠNH TINH THẦN , một sức mạnh không thể
thiếu cho một dân tộc muốn sống c̣n, tồn
tại và tiến hóa. Tại sao các người lại
đi tàn phá sức mạnh của dân tộc ḿnh để
tự rước lấy quốc nhục như hôm nay?
Muốn rửa cơn quốc nhục
đó th́ hăy vứt bỏ và đem chôn sống, chôn
thật mau, và chôn vĩnh viễn cái chủ nghĩa
cộng sản quỉ quái tai hại đó vào một
nấm mồ -- một nấm mồ của lịch sử
dân tộc Việt – tại sao th́ xin những người
CSVN hăy một lần lắng nghe những con người
đă thay đổi định mệnh quốc gia của
dân tộc họ,
Và tại Việt
Nam, ai là người đă làm nên sự mục nát
nội tâm của quốc gia Việt Nam từ hơn 60 năm
qua? Đó là câu hỏi mà những
người CSVN hăy tự trả lời lấy.
Nguyễn Anh Tuấn
Phát biểu trong nước về: Cờ Đỏ - Cờ Vàng & Tội ác Cộng Sản (Sinh viên - nhấn vào để nghe)
Tội
Ác Cộng Sản Việt Nam

![]()
![]()
![]()
![]()
![]()
![]()
![]()
![]()
![]()
![]()
![]()
![]()
Diễn Đàn Giáo Dân xin quí vị thêm lời cầu nguyện cho Việt Nam:
có công lư và hoà b́nh, có dân chủ và tự do,
không c̣n bất công và gian dối.