

Những Bà Mẹ Yêu Quư Của Tôi (Đoàn Thanh Liêm)
(Bài
viết nhân Ngày Hiền Mẫu – Mother’s Day)
Dĩ nhiên là cũng như mọi người, tôi
chỉ có một bà mẹ ruột sinh ḿnh ra đời thôi.
Nhưng tôi lại có nhiều bà mẹ khác đă nâng
đỡ, yên ủi, lo lắng và chăm sóc cho tôi về
nhiều mặt tinh thần cũng như vật chất.
Nhân dịp Lễ Các Bà Mẹ “Mother’s Day” năm 2009 này,
tôi xin được viết về các Bà Mẹ yêu quư này.
Trước hết, bà mẹ của tôi họ
Tống sinh vào cuối thế kỷ XIX. Bà là trưởng
nữ của ông ngọai tôi là Cụ Chánh Cẩm, v́ ông
đă có thời giữ chức vụ Chánh Tổng ở
miền quê tôi gọi là Tổng Cát Xuyên, thuộc Phủ
Xuân Trường, Tỉnh Nam Định. Là người
chị cả, nên ngay khi c̣n ít tuổi bà đă phải lo
giúp cha mẹ để coi sóc các em là các cậu và d́
của tôi. V́ thế mà bà không hề được
đi học, nên chẳng biết đọc biết
viết chữ quốc ngữ. Bà ngọai tôi quê ở
Lục Thủy, thuộc họ Vũ Ngô, trong đó có
cụ Vũ Ngô Xán là vị Hiệu Trưởng Trung
Học Chu Văn An Hà Nội mà nhiều người
hồi đó đều biết đến. Mẹ tôi
kể hồi c̣n nhỏ bà ngọai muốn gửi đến
học chung với mấy con gái cụ Thượng Vũ
Ngọc Hóanh là người cùng quê ở Lục Thủy.
Nhưng ông ngọai tôi lại không muốn cho con gái đầu
ḷng phải đi xa gia đ́nh, nên mẹ tôi đă không
được đi học chung với các bà là cô
ruột của Bác sĩ Vũ Ngọc Ḥan sau này là vị
Tướng chỉ huy ngành Quân Y của Quân Lực
Việt Nam Công Ḥa.
Tuy không được đi học, nhưng với
trí óc thông minh, mẹ tôi chỉ có nghe mấy cậu tôi
học bài, mà cũng thuộc được khá nhiều
bài học, nhất là các câu chữ nho trong sách “Tam thiên
tự” v.v… Bà làm các con tính nhẩm rất mau lẹ và
chính xác, mau hơn cả lối tính của các anh chị
tôi bằng cách viết ra giấy nữa. Nhưng quan
trọng hơn cả là mẹ tôi đă dạy bảo,
uốn nắn anh chị em chúng tôi theo “đường
ngay nẻo chính”, giúp chúng tôi giữ được cái
truyền thống tốt đẹp của “gia phong gia
đạo”. Bà để lại cho lũ con 11 người
của ḿnh một tấm gương lương hảo,
trong sáng. Bằng giọng nói ôn tồn, hiền dịu,
mẹ luôn nhắc nhủ chúng tôi là “phải ráng mà
sống theo cái nền nếp đạo hạnh của cha
ông từ bao nhiêu đời xưa đă truyền lại”.
Bà cảnh giác chúng tôi là “không được làm điều
chi thất đức, khiến làm hoen ố đến danh
thơm của ḍng họ nhà ḿnh”. Mẹ tôi hay nhắc là
: Các con chỉ nên coi tài sản cha mẹ để
lại “như là hương là hoa, là cái thứ kỷ
niệm cho con cái”. Và như vậy, th́ “tuyệt đối
các con phải tránh xa cái vụ giành giật tranh chấp
về ruộng vườn, nhà cửa như thường
xảy ra trong các việc phân chia tài sản thừa kế
trong các gia đ́nh, khiến gây ra bao sự bất ḥa, thù
hận giữa anh chị em ruột thịt với nhau.”
Tôi hay được ở gần mẹ, hay
được kéo vơng cho mẹ v́ bà thường không
được khỏe và nằm ngủ trên vơng nhiều
hơn trên giừơng. V́ thế tôi thường
được nghe mẹ tâm sự tỉ tê nhiều
thứ chuyện của gia đ́nh nội ngọai, của
bà con trong làng xă. Mẹ tôi kể về một số gia
đ́nh bị sa sút, lụn bại ở địa phương,
bởi lư do ngày trước cha ông của họ đă
ăn ở đồi bại, thất nhân thất đức,
cho nên đă không dạy bảo được con cháu thành
người lương thiện và ngay trong nội bộ
gia đ́nh th́ anh chị em cũng đă bất ḥa,
dối trá, giành giật căi lộn với nhau về
nhiều thứ chuyện rồi. Bà nói đó là cái gương
xấu “nhà dột từ nóc”, “thượng bất chánh,
hạ tắc lọan”, các con phải biết nhắc
nhở lẫn nhau để mà tránh khỏi t́nh trạng
sa đọa. Bà nghiêm ngặt như thế, cho nên anh
chị em chúng tôi đều răm rắp tuân theo lời
mẹ dậy, và nhất là chúng tôi đều rất
thuận thảo, yêu mến bảo bọc lẫn nhau. Các
bà chị và ông anh cả của tôi đều nâng đỡ
và chăm sóc cho tôi và các em rất chu đáo tận t́nh,
nhất là sau khi mẹ mất vào năm 1952 và cha tôi
lại bị công sản Việt Minh bắt đi mất tích
kể từ năm 1948. Tôi thật tâm yêu mến mẹ và
thương mẹ khôn tả sau bao nhiêu đau đớn
dồn dập vào 2 năm 1947-48, khi cậu út chúng tôi là
Tống Văn Dung cũng bị Việt Minh hạ sát và
quẳng xác xuống sông Tŕ Chính, Phát Diệm giữa năm
1947 và rồi vào cuối năm đó, th́ cậu Lư Đạc
là em kế của mẹ cũng từ trần v́ bệnh
đường ruột. Vào cuối đời, mẹ thường
ít ngủ và hay thở dài v́ những mất mát đau thương
của gia đ́nh chúng tôi giữa cái thời lọan
lạc tàn bạo như thế ấy. Tôi sẽ viết
chi tiết hơn về cuộc đời của mẹ
để lũ con và các cháu của tôi hiểu biết hơn
về cái truyền thống gia đạo trong gia đ́nh
chúng tôi tại miền quê thuôc vùng đồng bằng sông
Hồng, trong tỉnh Nam Định.
Riêng đối với tôi, th́ có một chi tiết này
thật là ngộ nghĩnh. Đó là mẹ tôi hay kể
về sự lụn bại của mấy gia đ́nh có người
cha xưa kia đi làm cái “Nghề thầy c̣, thầy
kiện”, chuyên môn xúi bảy hai bên tranh chấp lẫn
nhau như kiểu “đâm bị thóc, chọc bị
gạo”, để mà ở giữa ăn tiền. Người
cha làm cái tṛ thất đức như thế, cho nên bây
giờ con cháu nhà ấy đâu có “mở mày mở
mặt” lên được ? “Cha ăn mặn, con khát nước
mà!” Sau này lớn lên, tôi lại đi học và làm
việc trong ngành luật pháp. Tôi cứ ngẫm nghĩ
nếu mẹ mà c̣n sống, chắc bà đă can ngăn không
cho tôi chọn cái ngành nghề như thế!
Một bà mẹ khác mà tôi cũng rất quư mến
và biết ơn, đó là bà ngọai của các con tôi và
là mẹ của bà xă nhà tôi. Bà họ Trịnh gốc
ở miệt Hải Dương, gần với thành
phố Hải Pḥng.Tôi chỉ được gặp bà khi
đă vào miền Nam sau 1954 và theo học ở trường
Luật Sàig̣n. So với mẹ tôi, th́ bà được
học hành đày đủ đến nơi đến
chốn và có bằng nữ hộ sinh ngay từ hồi
1930 dưới thời Pháp thuộc. Bà đọc và nói
được tiếng Pháp và đă từng làm việc bên
cạnh các bác sĩ người Pháp tại mấy
tỉnh ở miền Bắc hồi đó. Bà chắc cùng
lớp với mẹ của anh Đặng Nguyên Phả, v́
anh Phả cũng cho tôi biết là mẹ anh là nữ
hộ sinh đă làm việc tại tỉnh Ninh Giang hồi
trước 1945. Bà thấy tôi siêng học, nên đă luôn
khuyến khích nâng đỡ tinh thần cho tôi để
tiếp tục theo đuổi việc học tập có
kết quả tốt đẹp. Dĩ nhiên là tôi biết
ơn bà nhất là bà đă chấp nhận tác thành cho
cuộc hôn nhân của hai vợ chồng tôi, mà cho đến
nay đă trải qua được gần 50 năm rồi.
Tôi càng biết ơn v́ bà đă rất mực chăm sóc
thật chu đáo cho các con của chúng tôi là cháu
ngọai của bà.
Về phía các bà bạn thân thiết của bà, th́ tôi
phải kể đến các bà bác sĩ Ḥang Cơ B́nh,
Phạm Văn Phán, các bà hay sinh họat trong Nhóm Các Bà
Mẹ Công Giáo. Bà cũng rất gần gũi với Bà
Khâm (thường được gọi là Bà Lục
Lộ v́ ông cụ xưa làm trong ngành xây dựng kiều
lộ), và Bà Giáo Ngọ là mẹ của các anh giáo sư
Nguyễn Hải, Nguyễn Dương, và nhất là
với Bà Phán Mẫn là mẹ của các anh bác sĩ
Phạm Tu Chính, Phạm Sĩ Khải. Nhạc mẫu tôi
đă qua đời năm 1986 tại Saigon, giữa cái
thời đen tối ở Miền Nam Việt nam kể từ sau 1975. Nhưng
cái kỷ niệm sâu đậm gắn bó trong nội
bộ gia đ́nh bên ngọai các cháu lúc tụi chúng
vừa mới lớn lên giữa cái thời buổi
nhiễu nhương lọan lạc đó, th́ không bao
giờ phai lạt được. Tất cả các con tôi
sinh trưởng ở miền Nam, th́ không hề được
biết bà nội của các cháu mà đă mất từ lâu
ở ng̣ai Bắc. Nhưng, bù lại th́ các cháu
lại rất gần gũi, quyến luyến xung
quanh bà ngoại rất quư mến của tụi chúng.
Mấy ḍng chữ mộc mạc này cũng là nhằm
nhắc nhở cho các con tôi luôn giữ được
trong cuộc đời của mỗi một cháu cái h́nh
ảnh rất là đẹp đẽ, nhân hậu,
thiết tha mà chí t́nh của bà ngọai các cháu vậy
đó.
Ng̣ai hai bà mẹ là bà nội và bà ngọai của các
con tôi như đă viết trên đây, th́ tôi c̣n có
mấy bà mẹ tinh thần khác nữa, mà tôi rất vui
mừng để viết ra đây một ít ḍng chữ vào
dịp Lễ Các Bà Mẹ năm 2009 này nữa. Trước
hết là Bà Ba Loan ở Mỹ Tho. Vào năm 1954, th́
một số em và cháu của tôi được Bà cho trú
ngụ tại căn nhà của bà tại thành phố
Mỹ Tho, v́ hồi đó ḥa b́nh rồi bà trở về
miệt vườn bên kia bến bắc Rạch Miễu
để coi sóc vườn dừa, nên căn nhà vẫn c̣n
chỗ trống. Hồi đó tôi học ở Saigon, nhưng
hay về Mỹ Tho thăm các em, các cháu v́ có đường
xe lửa đi lại rất tiện lợi. Một cách
rất tự nhiên Bà Ba coi tôi như con và chuyện tṛ
rất tự nhiên thân t́nh với gia đ́nh chúng tôi. Vào
dịp Tết đầu năm 1956, tôi đă qua bên vườn
dừa ăn Tết với gia đ́nh của bà. Mẹ
của tôi đă mất từ lâu ở ng̣ai Bắc, nay di
cư chạy lọan vào miền Nam mà được
gặp một bà má ở miền quê “Nam kỳ Lục
tỉnh” hết ḷng bảo bọc nâng đỡ tinh
thần cho, th́ thật là niềm an ủi rất lớn
lao cho một học tṛ mồ côi như tôi vậy. Dĩ
nhiên lúc đó tôi đă vào tuổi 20, đă tự
lập được rồi, nên không cần phải làm
phiền đến bà về chuyện tiền bạc
vật chất này nọ. Nhưng cái đáng quư nhất nơi
Bà là nơi tấm ḷng nhân hiền đạo hạnh mà
Bà bày tỏ đối với bản thân tôi cũng như
với các em, các cháu của tôi, giữa cái thời chúng
tôi c̣n chân ướt chân ráo di cư từ miền
Bắc với bao nhiêu nỗi lo âu lúng túng. Sau năm 1975,
tôi cũng có vài lần đến thăm bà lúc đó
đă già yếu rồi. Đến năm 1980-81, th́ tôi
nhận được bức thư của cháu nội
của bà báo cho tôi biết là bà đă qua đời. Cháu
viết : “Bà nội con dặn là sau khi bà mất th́ con hăy
viết thư cho bác, để xin bác góp lời cầu
nguyện cho linh hồn Madelena của bà nội con.” Sau
đó ít lâu, tôi đă đến viếng mộ của bà
ở bên khu vườn dừa, nay thuộc tỉnh Bến
Tre. Vào năm 1990, khi ở tại pḥng biệt giam trong tù,
tôi đă nhớ nhiều đến bà Ba Loan là má nuôi
tinh thần rất đáng quư này.
V́ tôi mồ côi mẹ từ lúc mới có 18 tuổi,
chưa học xong bậc trung học, nên luôn luôn tôi
thấy thiếu vắng t́nh mẫu tử. V́ thế khi
gặp các bà mẹ của bạn hữu, th́ tôi thật
ḷng quư mến và tâm sự với các bà như là đối
với người mẹ đă khuất của ḿnh
vậy. Trong số các bà mẹ này, tôi phải kể
đến Bà Chánh Hùng là mẹ của Vơ Thế Hào, người
bạn thân thiết của tôi từ hồi cùng học
thi Tú tài 2 tại Hà Nội năm 1954. Năm 1955, tôi đến
ở chung nhà với Hào và được bà cụ chăm
sóc việc ăn uống thật là tươm tất.
Cụ coi tôi như con và hay tâm sự với tôi. Hồi
đó ông cụ bị Việt Minh bắt, nên bị
kẹt lại ng̣ai Bắc; chỉ có một ḿnh bà đem
các em của Hào vào Miền Nam mà thôi. Bà cụ thương
tôi mồ côi cả cha lẫn mẹ, mà có chí theo đuổi
việc học hành, lại là chỗ thân thiết với
Hào là con trưởng của bà. Tôi thật cảm động
v́ mối thâm t́nh của bà đối với tôi. Cụ
rất siêng năng đạo hạnh và hay bảo tôi
đọc sách báo cho cụ nghe. Sau năm 1975, th́ cụ ông
ở ng̣ai Bắc đă vào đ̣an tụ với gia đ́nh
ở trong Nam và đến năm 1989, th́ Bác sĩ Vũ
Thế Truyền con trai út đă bảo lănh cho cả hai ông
bà sang đ̣an tụ tại thành phố New Orleans.
Và
nay, th́ cả hai ông bà đều đă quy tiên. Nhưng cái
kỷ niệm thân thương gắn bó của tôi
với bà Cụ th́ không bao giời phai lạt được.
Ng̣ai ra, tôi cũng xin kể lại một số
kỷ niệm với vài vị nữ tu mà đă góp
phần rất lớn cho đời sống tâm linh của
tôi nữa. Điển h́nh như Soeur Berte là người
đă hướng dẫn tôi lúc mới có 9-10 tuổi
tại Nhà Người Câm Điếc ở thị xă Thái
B́nh trước năm 1945. Bà hối đó cỡ 30
tuổi, người tầm thước, khuôn mặt đày
đặn trắng hồng. Bà hay khuyên nhủ, khích
lệ tôi trong việc học tập, và nhất là về
“lối sống đạo đức theo tinh thần Thiên
Chúa Giáo”. Cái tuổi thơ ấu của tôi đă in sâu
lời giáo huấn dịu dàng của Bà. Bà mất v́
đạn pháo kích vào thành phố Mỹ Tho năm 1968,
để lại trong tôi một niềm thương
cảm sâu xa.
Người nữ tu khác nữa mà tôi rất quư
mến, đó là Bà Mẹ Marie-Thérèse de Maleyssie, ngưới
Pháp trước kia làm Giám Tỉnh Tỉnh Ḍng Paris
của Ḍng Phan Sinh (Mère Provinciale des Franciscaines de Paris). Năm
1968, Bà tới thăm công việc chỉnh trang tái
thiết của chúng tôi tại các Quận 6, 7, 8 Sàig̣n và
đă rất chú ư đến chương trính công tác xă
hội này. Đến năm 1970, do sự giới thiệu
của Bà, tôi được mời tham gia vào Nhóm Sáng
lập Viện Đại Kết Phát Triển Các Dân
Tộc tại Paris (INODEP = Institut oecuménique au service du développement
des peoples). Bà là người học rộng và họat
đông lâu năm tại nhiều quốc gia trên thế
giới và đă giới thiệu cho tôi gặp gỡ trao
đổi với nhiều bậc thức giả ở Pháp
cũng như ở mấy nước khác ở Âu châu. Nơi
bà, tôi nhận ra một tâm hồn đạo hạnh
bền vững và một trí tuệ uyên bác năng động.
Bà khích lệ tôi rất nhiều trong sự dấn thân
phục vụ xă hội và mở rộng tầm sinh
họat văn hóa với thế giới nữa.
Về bên phía nữ tu Phật Giáo, th́ tôi cũng có
duyên được tiếp xúc và cộng tác với Sư
Bà Như Thanh, Sư Cô Như Châu tại Chùa Huê Lâm, khu bùng
binh Cây Gơ, Quận 6. Sư Bà người thấp bé, nhưng
có tầm hiểu biết rộng răi và nhất là có uy tín
lớn trong giới Tăng Ni và Phật tử. Sư Cô cũng
vậy là một Phụ tá đắc lực và tín
cẩn của Sư Bà. Vào các năm 1966-71, tôi thường
có dịp đến phụ giúp các công tác xă hội,
mở lớp dậy nghề, mở pḥng phát thuốc
tại chùa, và nhận thấy nơi đây việc
tổ chức quản lư rất chặt chẽ và hiệu
quả. Hiện Sư Cô Như Châu vẫn tiếp nối
sự nghiệp do Sư Bà khởi xướng và tôi
được nghe là các Phật tử vẫn quy tụ
đông đảo xung quanh ngôi chùa đă từng
được tiếng là họat động rất
phấn khởi sinh động tại vùng ngọai ô nghèo
túng này.
Tôi rất vui mừng phấn khởi để ghi
lại một số kỷ niệm thân thương quư báu
này với các Bà Mẹ nói trên, về cả phương
diện thể chất cũng như tinh thần của tôi.
Nhờ tấm ḷng nhân ái bao la dịu hiền của các Bà
đă chăm sóc, nâng đỡ
và hướng dẫn cho tôi trong suốt cuộc đời
từ thuở lọt ḷng cho đến ngày nay đă trên
70 năm, mà tôi đă mạnh dạn dấn thân nhập
cuộc trong nhiều công tác nhân đạo từ
thiện xă hội. Mỗi khi nhớ đến các Bà
Mẹ này, th́ ḷng tôi rộn lên một niềm vui
ngọt ngào và sự biết ơn thật là sâu đậm.
Và tôi nguyện sẽ luôn cố gắng để
sống làm sao cho thật xứng đáng với tấm ḷng
yêu thương tŕu mến đó của các Mẹ đă
dành cho tôi. Và bài viết này, tôi muốn đặc
biệt dành để nhắc nhủ riêng cho lớp con và
cháu của tôi nhân dịp Lễ Mother’s Day năm nay./
California,
Tháng Năm 2009
Đoàn Thanh Liêm





![]()
![]()
![]()
![]()
![]()
![]()
![]()
![]()
![]()
![]()
![]()
![]()
Diễn Đàn Giáo Dân xin quí vị thêm lời cầu nguyện cho Việt Nam:
có công lư và hoà b́nh, có dân chủ và tự do,
không c̣n bất công và gian dối.