

Ave Maria, Mẹ Thiên Chúa (Ngày Hiền Mẫu)

Lịch
sử công nguyên khởi đầu với một phụ
nữ. Tin Mừng kể “Và thiên thần Chúa đă mang
tới cho Maria một sứ điệp”. Đó là
một cô gái từ chốn hẻo lánh không ai biết
tới Na-da-ret, và cô chẳng hiểu chuyện ǵ sẽ
xẩy đến cho ḿnh.
Người ta chỉ nhận ra được
tầm vóc lớn lao của biến cố đó qua ḍng
thời gian. Trước hết là sự xuất hiện
của thiên sứ, vị này đột ngột trao cho
Maria một sứ điệp bất thường: Cô đầy
ơn phúc, cô đă được chọn để làm
mẹ Thiên Chúa. Hẳn lúc đó Maria hốt hoảng.
Một
con người làm mẹ Thiên Chúa!
Quả là một mâu thuẫn lớn. Thiên Chúa
trở nên bé nhỏ. Ngài trở thành người, như
vậy cũng mặc lấy điều kiện đầu
thai và sinh ra của con người. Ngài có một người
mẹ, và bằng cách đó, Ngài đă thật sự
được dệt vào tấm thảm của lịch
sử loài người, đến nỗi một phụ
nữ đă có thể thật sự nói được
với đứa con ḿnh sinh ra: Chúa tể trần gian
ở trong con.
Người ta đă tranh căi nhau rất lâu về
chữ Mẹ Thiên Chúa. Nhóm
Nestorius*
bảo Mẹ không sinh ra Thiên Chúa, mà chỉ sinh ra một
con người Giê-su mà thôi. Như vậy, ngài là mẹ
của đức Ki-tô, nhưng không thể gọi là
mẹ Thiên Chúa được. Câu hỏi căn bản là
sự hoà quyện hai bản tính thiên chúa và con người
trong đức Giê-su Ki-tô sâu xa tới đâu, tới
độ nào để có thể nói được đứa
trẻ sinh ra đó là Chúa, và như vậy Maria là mẹ
Thiên Chúa. Mẹ Thiên Chúa không phải trong í nghĩa
Mẹ là người sinh ra Thiên Chúa. Nhưng trong nghĩa
Mẹ đă sinh ra một con người, và con người
đó hoàn toàn kết hiệp làm một với Thiên Chúa.
Với cách đó, mẹ Maria đă hoàn toàn kết
hiệp một cách lạ lùng với Thiên Chúa.
Maria
được kính thờ như Nữ
vương thiên đ́nh, như Nguyên ảnh của Giáo hội,
hay cũng như Mẹ của ḷng nhân ái.
Lực toả sáng của người nữ đó, đấng
vẫn luôn dấy động tâm can hàng triệu con người,
không thể nào đong đo bằng tiêu chuẩn thường
t́nh được.
Trong lịch sử, biến cố mẹ Maria càng ngày
cũng được hiểu như là nét vẻ vang
của phụ nữ. Bản chất nguyên thuỷ của
phụ nữ được biểu hiện nơi Maria, ngài
là hiện thân sự tinh tuyền của nhân loại và Giáo
hội. Và trong khi Eva - người phụ nữ đầu
tiên và là “nguyên mẫu”, như người ta vẫn nói,
và là người mẹ của mọi loài sống động
- được sinh ra trên căn bản để chết,
th́ Maria – nhờ sinh ra đấng cứu thế, đấng
đă phục sinh và mang lại sự sống – thật
sự được coi như là sự thể hiện
tinh tuyền hai yếu tố hàm chứa trong chữ Eva,
đó là niềm hứa hẹn và khả năng sinh
sản của người nữ. Maria trở thành mẹ
của sự sống, của những ǵ trao ban sự
sống và của mọi loài sống động.
Kính
Chào Maria
Lời
chào của thiên sứ đă trở thành một lời
kinh nền tảng của Giáo hội công giáo. Một vài
thiên tài lớn nhất của nhân loại như Mozart*, Rossini*
và những người khác, đă dệt Ave Maria thành
nhạc: “Kính chào Maria, đầy ơn phúc! Thiên Chúa
ở cùng cô. Cô là người trong những người
nữ được chúc phúc. Và Giê-su, con trong ḷng cô cũng
được chúc phúc”. Và thiên sứ c̣n nói: “Cô
đừng sợ”. Và Maria đă trả lời thế nào?
“Này tôi là tôi tớ của Thiên Chúa”. Vâng, ngài
đă học được cách chẳng sợ. Bởi v́
như ta thấy trong dọc dài Kinh Thánh, bất luận nơi
mục đồng hay nơi các tông đồ: Mỗi khi
con người khám phá ra ḿnh ở gần Thiên Chúa là
họ cảm thấy sợ hăi. Họ nhận ra sự bé
bỏng của ḿnh và giật ḿnh trước vinh quang và
thánh thiêng ḱ vĩ của Thiên Chúa, bởi họ thấy
ḿnh không thể nào sánh nổi. Đây là một trong
những chỗ đầu tiên trong Tân Ước xuất
hiện chữ “Đừng sợ”. Thiên Chúa không đến
để gây sợ hăi nơi ta, nhưng Ngài trở nên bé
nhỏ trong sự lớn lao của ḿnh, Ngài cởi bỏ
đi nét gây sợ, bởi Ngài tới để đem
ơn cứu độ.
Giáo
chủ Gio-an Phao-lô II đă nhắc lại câu “Đừng
sợ, anh chị em đừng sợ Chúa Ki-tô” trong bài
diễn văn đầu tiên ngày nhận chức. Tôi
muốn nói rằng, giờ đây cả hoàn vũ ki-tô giáo
nên để cho lời đó luôn thấm nhập ḿnh. Chúng
ta không cần phải sợ Chúa, không sợ Ngài sẽ
lấy mất ǵ của ḿnh hay đe doạ ḿnh, nhưng
Ngài đến để đem chở che, giúp ta thắng
vượt cả sự chết.
Kinh Kính mừng của Giáo hội gồm hai phần.
Phần đầu là lời chào của thiên thần,
phần sau là lời Ê-li-sa-bét thốt lên khi Maria tới
thăm ḿnh: “Con trong ḷng em cũng được chúc phúc”.
Và Ê-li-sa-bét tiếp: “Em là người có phúc hơn
mọi người nữ”. Với câu này, Ê-li-sa-bét cũng
đă tiên đoán về sự tôn kính Maria. Thánh Thần
đă giúp bà tiên tri nói lên điều đó. Nói cách khác:
Ki-tô hữu cũng sẽ ca ngợi Thiên Chúa, bằng cách
họ vui mừng chào đón những con người, mà
qua đó Chúa tỏ cho thấy sự lớn lao và ḷng
tốt của Ngài.
Mẹ
Maria có í nghĩa nào đối với cá nhân ngài?
Ngài tượng trưng cho sự gần gũi
với Thiên Chúa. Nhờ ngài, ta mới hiểu ra việc
nhập thể. Tôi rất cảm động việc Con
Thiên Chúa có một người mẹ, và người
mẹ đó được tất cả chúng ta tín thác.
Lời đấng bị đóng đinh trao mẹ ḿnh
lại cho Gio-an đă từ giây phút đó đi vào
suốt chiều dài lịch sử. Nhờ lời trối
trăn đó mà khi cầu nguyện cùng Mẹ, ta có
được niềm tin tưởng đặc biệt,
cảm thấy được gần gũi và nhất là
có được quan hệ với Chúa. Cá nhân tôi trước
đây bám chặt vào phong trào phụng vụ duy ki-tô, quan
điểm đó càng được đẩy mạnh
qua việc đối thoại với các bạn tin lành. Nhưng
càng ngày, qua việc sùng kính Maria với các ngày lễ
của Mẹ, các buổi chầu tháng năm, các chuỗi
mân côi tháng mười, Mẹ càng có í nghĩa đối
với tôi. Và càng về già, tôi càng cảm thấy
gần Mẹ Thiên Chúa hơn.
Các
Tin Mừng ít đề cập tới Maria. Ngài hoàn toàn
vắng mặt trong những giai đoạn cuộc đời
quan trọng của đức Giê-su, hoặc nếu có, th́
cũng xuất hiện dưới dáng tiêu cực hoặc
chẳng phải là một người mẹ đáng yêu.
Đúng là truyền thống tin mừng không quan tâm ǵ
tới Maria. Mẹ hầu như chẳng có vai tṛ ǵ trong
Mát-thêu. Trong Mát-thêu, thời niên thiếu của đức
Giê-su gắn liền với cha Giu-se. Lúc này đây tôi có
thể nói, rơ ràng người ta đă muốn tránh nói
tới Mẹ, bao lâu Mẹ c̣n sống. Và cả chính
Mẹ cũng muốn giữ kín đáo.
Đức
Giê-su kiến tạo một gia đ́nh mới, và ở
đâu người ta ca tụng bà mẹ nào đă cưu
mang Ngài và vú nào đă cho Ngài bú, th́ Ngài liền sửa
ngay cái h́nh ảnh lúc đó về quan hệ gia đ́nh.
Đối với Ngài, quan trọng là: “Phúc thay những
ai nghe và tuân giữ lời Chúa”. Đó là tính chất
mới về gia đ́nh và về người mẹ. Ngài
diễn tả như vầy: Ai làm theo í của tôi, là anh
em, mẹ, chị em tôi. Như vậy, Ngài nâng khái
niệm gia đ́nh mà con người vẫn hiểu lên thành
một loại gia đ́nh lớn mới, gia đ́nh
cộng đoàn trong í muốn Thiên Chúa, và đó là điểm
quan trọng. Lu-ca cho ta hay về chuyện cải chính trên,
nhưng ngài đă nối sự việc đó một cách
văn hoa với cuộc đời niên thiếu của
đức Giê-su và với câu chuyện gặp gỡ bà Ê-li-sa-bet.
Trong Lu-ca, Maria xuất hiện không những như một
người mẹ xác phàm, mà cả như một người
lắng nghe, một kẻ tin, một kẻ đứng
trong cộng đoàn của Chúa. Theo Lu-ca, Mẹ là điển
h́nh của những ai lắng nghe và tuân giữ lời Chúa.
Đức
Giê-su có nhiều t́nh cảm và gần gũi hơn
với những phụ nữ khác. C̣n đối với
mẹ ḿnh th́ Ngài nhiều khi tỏ ra cộc cằn.
Chẳng hạn trong tiệc cưới Ca-na, khi mẹ yêu
cầu phải làm ǵ để giúp người ta có đủ
rượu cho khách, Ngài đă thô lỗ: “Này bà, có chi
liên quan tới tôi và bà đâu!” Có thật Ngài đă
xử tệ với mẹ như thế không? Có lẽ
đôi lúc Ngài đă cắt đứt liên hệ với
mẹ ḿnh?
Anh đang đề cập tới một đoạn
trong Tin Mừng Gio-an. Thánh Gio-an đưa ra một môn Maria
học hoàn toàn đặc biệt. Trong bản Tin Mừng
xuất hiện tương đối trễ này vai tṛ
của Mẹ đă được diễn đạt rơ hơn,
không như trong Mat-thêu. Chẳng hạn, bất cứ
chỗ nào đức Giê-su nói với Mẹ, Gio-an đều
dùng từ “Bà”. Ta có thể nh́n ra í nghĩa thần
học trong từ xưng hô đó. Bởi v́, nếu
giờ đây Maria đơn thuần được
gọi là “bà” (gynae), nếu từ tiệc cưới
Ca-na cho tới núi Sọ Maria cũng bước vào một
vai tṛ vượt lên trên vai tṛ cá nhân, th́ h́nh ảnh
của Eva mới đă sáng tỏ. Ta phải đọc các
màn / cảnh trong mối liên hệ chung của chúng, trong
trường hợp này là cảnh thánh giá núi Sọ
với cảnh tiệc cưới Ca-na, để thấy
rằng, thoạt tiên đức Giê-su bước ra
khỏi gia đ́nh Ngài, cho tới khi một gia đ́nh
mới xuất hiện trong giờ của Ngài – trên thánh
giá -, và trong gia đ́nh mới này Maria có một vị trí
mới quan trọng.
Nhưng cả trong Ca-na, câu nói xem ra thô lỗ và mang
vẻ từ chối kia cũng rất nhiều nghĩa.
Với lời đó, đức Giê-su muốn nói là Ngài
bị trói buộc bởi giờ của Ngài. Có thể nói,
Ngài không thể ưu tiên thoả măn những nhu cầu
gia đ́nh được. Nhưng dù vậy, Ngài đă làm
phép lạ và có thể nói đă hé lộ ra trước
giờ của Ngài v́ lời yêu cầu của Mẹ.
Thoạt tiên bị từ chối, có nghĩa là Maria
chỉ được trả lại chỗ cũ của ḿnh
– và rồi lúc này đây, Mẹ đồng thời
lại xuất hiện như một phụ nữ
đơn thuần, như là nguyên ảnh của Giáo
hội khẩn cầu, và rồi Giáo hội, cũng như
chính Maria, có thể xin tham dự trước giờ
của đức Ki-tô. Như vậy, đây là một
bản văn rất sâu xa, người ta có thể c̣n suy
nghĩ và nói nhiều về nó.
Hăy
tạm rời tầng thần học cao sâu trở về
với thực tại, tôi muốn nhắc lại một
kinh nghiệm gặp được qua h́nh ảnh Maria. Có
lần tôi tới thăm điểm hành hương Altötting
ở Bayern. Trời lạnh, rảo qua công trường
rộng, tôi bước vào căn Nhà Nguyện Ơn Lành
nổi tiếng. Căn pḥng chật cứng. Tứ phía
đều có nến cháy, khung cảnh hơi âm u. Trong nhà
nguyện toàn chỉ các bà. Họ cầu chung với nhau,
và dĩ nhiên hát với nhau những bài ngọt ngào
về đức Mẹ, như Ave Maria, Mater misericordiae, Ôi
nữ vương thiên đàng, Mẹ nhân ái.
Thoạt
tiên tôi cảm thấy hơi xa lạ và giữ khoảng
cách, nhưng những bài hát dễ thương quá: “Chúng
con khóc lóc kêu cầu danh Mẹ từ thung lũng nước
mắt”. Và lạ lùng thay, bổng nhiên tôi cảm thông
được với các bà. Có một cái ǵ rất
thật, rất đẹp, tôi như bắt gặp
được một ch́a khoá mở tung tim ḿnh ra để
cảm giác hạnh phúc tràn vào. Có một cái ǵ như
sức mạnh cứu độ toát ra từ những
lời kinh cầu cổ xưa. Những cảm giác đẹp
đó nói cho tôi hay là tôi không cô đơn, có ai đó
đang ở bên tôi, người đó biết tôi, người
đó mến tôi, người đó hiểu tôi. Và trong
mọi t́nh huống khó khăn, người đó luôn
ở bên tôi.
Tóm
lại, tôi có cảm giác đó là một thứ ngôn
ngữ không những trực tiếp đánh đúng vào
chỗ yếu của ḿnh, mà đồng thời, như người
ta nói, có sức cứu độ. Và có lẽ việc tôn
kính Maria cũng là một phản ứng chống lại cái
tiến tŕnh tục hoá trong Giáo hội, với khuynh hướng
muốn vứt hay đă vứt đi rồi một
phần lớn khía cạnh linh thánh và thần bí của
đức tin. Phải chăng đây là thái độ và
hành động của những con người đơn sơ
chống lại thứ tôn giáo của các vị giáo sư?
Tôi tin ḿnh có thể nói được như thế.
H́nh ảnh Maria đă làm trái tim con người xúc động
một cách đặc biệt. Không những đánh động
trái tim phụ nữ, là những người hiểu và
gần gũi Mẹ hơn, mà c̣n cả trái tim của
những ông c̣n giữ cho ḿnh h́nh ảnh về Mẹ và
đức Trinh nữ. Môn thánh mẫu học đă
tạo nên tiếng nói con tim của thế giới ki-tô giáo.
Ở đây, con người có thể cảm nghiệm
một cách trực tiếp Ki-tô giáo như là một tôn
giáo của ḷng tin, ḷng cậy. Và những lời kinh
cổ, đơn giản kia, những lời lớn lên
từ ḷng sùng kính dân gian và không bao giờ mất tính
chất tươi mát và lỗi thời, đă giữ con
người ở lại trong niềm tin của họ,
bởi v́ nhờ những lời kinh gắn bó với
đức Mẹ mà họ cảm thấy gần gũi
với Chúa, họ cảm thấy đạo không phải
là một gánh nặng, nhưng đạo là tin cậy và
đỡ nâng giúp họ vượt qua mọi chông gai
cuộc sống. Và ta cũng hăy nghĩ tới những
lời kinh khác, chẳng hạn “Mẹ rất nhân ái, hăy
nâng đỡ con”, nó gợi lên bao nhiêu là tín thác.
Thật
ra, mặt khác, cũng có một thứ chủ nghĩa tinh
lọc Ki-tô giáo, một thứ hữu lí hoá đă làm cho
đạo bị đôi chút đông lạnh. Dĩ nhiên t́nh
cảm luôn cần phải được kiểm soát và
thanh lọc - ở đây ta cần phải công nhận vai
tṛ của các giáo sư. Không được để cho
mọi chuyện biến thành chỉ c̣n là t́nh cảm sướt
mướt, khiến ta mất nền thực tế, làm
cho ta không c̣n nhận ra được cái cao cả
của Chúa nữa. Nhưng từ thời Ánh sáng trở
đi – ngày nay ta cũng lại đang ở trong một
thời Ánh sáng mới - ta chứng kiến một tiến
tŕnh hữu lí hoá và tinh lọc rất mạnh, khiến
cho tâm con người phải chống lại nó và bám
chặt vào thánh mẫu học.
Vị
hồng i lớn người Anh John Henry Newman*
viết: “Người không công giáo có thói quen coi việc
tôn kính Maria có hại cho đức Giê-su”. Và ngày nay
những người hoài nghi cũng xem việc tôn sùng
Maria một cách quá đà khiến cho tâm điểm
nền tảng của đạo, nghĩa là chính sứ
điệp của đức Ki-tô, bị lu mờ.
Ta không được phép quên điều này: Trong quá
tŕnh truyền giáo, Mẹ là khuôn mặt đánh động
con người nhất và giúp họ hiểu được
Chúa Ki-tô. Điều này đặc biệt đúng cho Nam
Mĩ. Nơi đây Ki-tô giáo đă tới bằng gươm
giáo của người Tây-ban-nha và có lúc vô cùng
nghiệt ngă. Ở Mễ-tây-cơ, thoạt tiên Ki-tô giáo
đă chẳng làm được ǵ – cho tới khi
xẩy ra biến cố Guadeloupe, và qua Mẹ mà bỗng
chốc người ta tới gần được
với Chúa Con.
Biến
cố đó là việc gặp được tượng
đức Mẹ một cách lạ lùng. Người ta có
thể nói, biến cố đó đă tạo nên một
trang sử tuyệt đối mới, nếu không có nó th́
việc truyền bá Ki-tô giáo trên lục địa này
đă không thể xẩy ra.
Đúng, và bỗng chốc đạo Chúa không c̣n
mang khuôn mặt hung ác của những tay thực dân
nữa, mà là khuôn mặt dịu dàng của Mẹ.
Cho
tới ngày hôm nay, ở Nam Mĩ có hai điểm sùng
mộ: Yêu đức Mẹ và việc đồng hoá
với Chúa Ki-tô chịu đau khổ. Đức tin
của họ biểu tỏ qua hai khuôn dạng đó, và
nhờ đó họ không c̣n xem Thiên Chúa là Chúa của
những kẻ xâm lăng, nhưng là Thiên Chúa thật và
cũng là đấng cứu độ. V́ thế đặc
biệt dân công giáo ở châu Mĩ la-tinh rất trân quư
đức Mẹ. Và ta không nên đứng từ quan điểm
thuần lí của ta mà chê bai họ đă làm sai lệch
Ki-tô giáo. Chính chỗ này họ đă nhận ra đúng
đắn: Thiên Chúa là đấng muốn cứu độ
ta, chứ không phải là Chúa của những người
chiếm đóng. Nhờ vậy, họ đă có thể
trở thành ki-tô hữu qua quá tŕnh thấy và hiểu
của chính họ, chứ không phải là phải chấp
nhận chịu đựng đạo của kẻ xâm lăng.
Người
tin lành xem ra từ lâu đă đẩy được
đức Mẹ ra khỏi niềm tin của họ.
Mẹ không c̣n quê hương nơi họ nữa, cho dù
chính Luther trước đây chưa bao gị bỏ ḷng tôn
sùng đức Mẹ của ông. Đối với Giáo
hội công giáo, huyền thoại Maria chẳng phải là
tṛ ảo thuật mà cũng chẳng phải là chuyện
bên lề. Chính ngài đă thuộc vào cốt lơi của
đức tin. Các bí mật của ngài c̣n được
đóng ấn tín điều như là những sự
thật không hề sai.
Phải nói thêm về chữ huyền thoại.
Nếu nó muốn ám chỉ một chuyện vượt trên
sự kiện thực tế, th́ ta có thể dùng từ
đó. Vấn đề quan trọng ở đây là ta
đang có một câu chuyện thật, chứ chẳng
phải là chuyện bịa đặt nào cả.
Một ghi chú về người tin lành: Đúng là
đă có một khuynh hướng tinh lọc nơi họ.
Ban đầu, người ta sợ rằng đức
Mẹ có thể lấy mất đi một chút ǵ đó
nơi đức Giê-su. Và trong quá tŕnh thanh lọc đó
quan điểm “duy Ki-tô” đă dần trở nên quá khích
đến nỗi người ta tin là có một tương
quan cạnh tranh giữa hai vị, thay v́ nhận ra rằng,
qua khuôn mặt Mẹ, chính khuôn mặt của đức
Ki-tô hiện ra và lời đích thực của Ngài
được sáng tỏ, như ta đă thấy qua thí
dụ ở Nam Mĩ.
Ngày nay, có những nỗ lực dè dặt t́m về
lại với mẹ Maria nơi người tin lành. Họ
nhận ra việc xoá yếu tố nữ ra khỏi sứ
điệp ki-tô cũng là một thiếu sót về
mặt nhân chủng. Một người nữ hiện
diện nơi tâm điểm Ki-tô giáo, xét về mặt
thần học và nhân chủng học, là điều quan
trọng. Qua Maria và các thánh nữ khác, yếu tố
nữ đă đi vào tâm của đạo Ki-tô. Chẳng
có chuyện cạnh tranh giữa hai khuôn mặt mẹ con,
v́ hai vị khác nhau trên nền tàng. Đức Giê-su đă
trao Mẹ cho tất cả chúng ta qua Gio-an. Không phải
cạnh tranh, nhưng là một thứ gần gũi sâu xa
hơn. Đức Mẹ và đức Trinh nữ có
chỗ đứng quan trọng trong nhân sinh quan ki-tô giáo.
Tín
Điều
Liên
quan tới Maria, nhiều người tỏ ra chống
đối và sợ hăi, cái sợ hăi nhiều khi khoác áo
diễu cợt. Hăy nh́n lại vài tín điều để
hiểu thêm Maria. Ta bắt đầu với tín điều
khó hiểu, khiêu khích nhất, đó là tín điều
đồng trinh, h́nh thành năm 553. Đó là một câu
chuyện sinh học? Hay phải hiểu nó như thế nào?
Về chuyện anh chị em của đức Giê-su,
Tin Mừng cho biết đức Ki-tô không có anh chị em
ruột nào cả, và mẹ Maria cũng chẳng sinh ai thêm.
Trái lại, Ngài có một tương quan đặc thù và
duy nhất với mẹ Maria quá rơ, đến nỗi người
ta chỉ có thể hiểu là anh chị em họ mà thôi,
chứ không phải anh chị em ruột. Maria là của Giê-su
mà thôi chứ không là của ai khác nữa.
Tại
sao không?
Là bởi việc sinh ra này không do liên hệ với
một người đàn ông, mà do chính sự can
thiệp của Chúa. Ngày nay có người bảo: không,
việc Chúa sinh ra không thể dính dáng tới sinh học
được, v́ đó là chuyện bất xứng đối
với Thiên Chúa, và rồi gạt nó qua một bên. Quan
niệm như thế là họ đang ngă theo thuyết Ma-ni-kê,
chối bỏ nhân tính của đức Ki-tô.
Con người cũng là sinh học. Và khi ta không nh́n
nhận mặt thân xác, mặt sinh học nơi con người,
th́ một cách nào đó, vật chất sẽ bị khinh
miệt và bị đẩy ra ngoài, và rồi như
thế rốt cuộc ta cũng sẽ coi việc nhập
thể là chuyện giả tạo. V́ vậy tôi chống
lại lối lập luận trên. Đây là một con người
thật, toàn diện - Câu trả lời cho vấn nạn
trên là đó. Thiên Chúa cũng đă nắm lấy sự
sống – cả sự sống thể lí, sinh lí lẫn
vật chất – và đặt để vào đó
một dấu chỉ.
Về sự kiện này, tôi cho rằng các giáo
phụ đă t́m ra được một h́nh ảnh đẹp.
Tiên tri Ê-sê-ki-en, chương 40, viễn kiến về
một đền thờ mới, trong đó có một “cánh
cửa phía đông” chỉ dành cho nhà vua bước vào
mà thôi. Các giáo phụ coi đó là một biểu tượng.
Trước hết các ngài xem đó là một đền
thờ sống động: Giáo hội sống động.
Cánh cửa, qua đó không ai ngoài đức Giê-su đi vào,
nếu không phải là mẹ Maria th́ c̣n ai hay cái ǵ vào
đó? V́ thế, không thể kéo Mẹ, người sinh
ra Thiên Chúa, xuống hạng tầm thường được.
Ngài là cánh cửa dành riêng cho nhà vua. Và như vậy chính
ngài trở thành cánh cửa thật của lịch sử,
qua đó vị mà cả nhân loại trông đợi bước
vào.
Nghĩa
là trước sau vẫn là: Sinh con mà vẫn đồng
trinh? Vâng.
Tín
điều vô nhiễm nguyên tội năm 1854 muốn nói
lên điều ǵ ?
Hậu cảnh của tín điều đó là giáo
huấn về tội tổ tông. Giáo huấn này dạy
rằng, mỗi chúng ta thoạt tiên sinh ra từ một liên
hệ tội lỗi – chúng ta gọi đó là “rối
loạn tương quan” -, và do rối loạn này mà ngay
từ đầu tương quan giữa ta với Chúa
đă bị sứt mẻ. Trong quá tŕnh phát triển giáo
huấn đó dần dần đă nẩy ra một suy nghĩ
trong thế giới ki-tô giáo, là Maria không thể rơi vào
tương quan sứt mẻ đó được, v́ ngay
từ đầu ngài là cánh cửa của Thiên Chúa, cánh
cửa đă được đặc biệt tạo ra
để Chúa bước vào.
Về
điểm này, đă có một cuộc tranh căi lớn
trong thời trung cổ. Một bên là các tu sĩ đa-minh.
Họ bảo rằng Maria là một con người b́nh thường
như những người khác, nghĩa là ngài cũng
mắc tội tổ tông. Phía bên kia là các tu sĩ phan-sinh,
lí luận ngược lại. Tóm lại, qua cuộc tranh
căi dai dẳng đó, lần hồi một quan điểm
đă kết tinh, bảo rằng sự lệ thuộc
của Maria vào đức Ki-tô mạnh hơn sự lệ
thuộc của ngài vào Adam. Và quan điểm đó cũng
bảo rằng Maria đă được Thiên Chúa
chuẩn bị cho đức Ki-tô từ trước
rồi, và chính đó là đặc điểm của
đời ngài. V́ Maria là nguồn của một khởi
đầu mới, nên ngài không thể thuộc vào tương
quan tội lỗi kia được: Tương quan
giữa ngài và Chúa không bị sứt mẻ, ngay từ
đầu ngài đă được Chúa bảo bọc
một cách đặc biệt, Chúa đă “đoái xem”
ngài (Magnificat) và đă để ngài hướng lên
với Chúa.
Hơn nữa, v́ Maria thuộc về đức
Ki-tô một cách đặc biệt, nên tương quan này
đă đặt ngài hoàn toàn trong t́nh trạng đầy
ơn phúc Thiên Chúa. Lời chào thoạt tiên xem ra
đơn giản của thiên thần “Cô đầy
ơn phước” như vậy có thể hiểu là
ơn phước đó bao trùm cả cuộc đời
của Maria. Đây rốt cuộc không hẳn đơn
giản chỉ là một đặc ân của Maria, mà c̣n
là một hi vọng cho tất cả chúng ta.
Vấn
đề càng khiêu khích hơn: Mẹ hồn xác lên
trời. Tín điều này muốn nói ǵ? Nó được
h́nh thành khá trễ, vào năm 1950. Chuyện quái lạ, là
ngay từ đầu, chúng ta chẳng thấy một
vết tích ǵ về Maria được để lại,
chẳng có mồ mà cũng chẳng c̣n hạnh tích nào.
Hẳn nhiên t́n điều này thật khó hiểu
đối với tất cả chúng ta, bởi v́ ta không mường
tượng được trời là ǵ. Lại càng khó
hiểu khi mường tượng cả một thân xác
được đưa lên. Xem thế, tín điều này
đặt ra cho trí óc ta một bài toán lớn, đó là
phải hiểu trời và xác như thế nào, phải
hiểu về chính con người và tương lai
của nó ra sao…
Và
cá nhân ngài đă giải bài toán đó như thế nào?
Tôi đă nhờ thần học về phép rửa
của thánh Phao-lô để hiểu, khi thánh nhân nói:
“Thiên Chúa đă cho ta sống lại với đức Giê-su
và cho ta cùng ngồi trên nước trời trong đức
Ki-tô Giê-su” (Ê-phê-sô 2,6). Có nghĩa là, khi lănh phép
rửa, tương lai của chúng ta đă được
báo trước rồi.
Như
vậy, tín điều chỉ nói lên điều này, là
hệ quả của phép rửa : - được
ở (“ngồi”) bên Chúa (Chúa là nước trời!)-
đă ứng nghiệm đầy đủ nơi Maria. Phép
rửa (cùng ngồi với đức Ki-tô) đă đạt
được đầy đủ hiệu năng cuả
nó. Nơi chúng ta, việc cùng ngồi với đức
Ki-tô, việc được sống lại với Ngài c̣n
bất cập, c̣n rất mong manh. Nhưng nơi Maria th́ khác.
Ngài không thiếu ǵ nữa. Ngài đă bước vào
cộng đoàn toàn đầy với đức Ki-tô. Và
một khi ở trong cộng đoàn này th́ ngài cũng có
một cuộc sống thân xác mới, mà chúng ta không
thể mường tượng được nó như
thế nào.
Tóm lại, căn bản của tín điều là
Maria đă hoàn toàn ở bên Chúa, hoàn toàn bên đức
Ki-tô, hoàn toàn là một “tín hữu ki-tô”.
Hơn
một triệu tín hữu đ̣i Giáo hội công giáo nâng
Maria lên thành “đấng cùng cứu độ”. Yêu
cầu đó sẽ được thoả măn – hay đó
là một lạc tín?
Không phải một, mà hiện có nhiều triệu
người yêu cầu điều đó. Nhưng tôi tin
đ̣i hỏi này sẽ không được đáp
ứng trong tương lai gần. Câu trả lời
của Bộ giáo lí đức tin: vai tṛ cùng cứu độ
đó đă thể hiện khá rơ ràng trong các tước
hiệu khác của mẹ Maria rồi, c̣n danh hiệu “đấng
cùng cứu độ” đi quá xa Kinh Thánh và các giáo
phụ, nên sẽ gây ra hiểu lầm.
Đâu là cái đúng trong đó? Đúng, là đức
Ki-tô không đứng ngoài hay bên cạnh chúng ta, mà Ngài cùng
với chúng ta xây dựng một cộng đoàn mới và
thiết thân. Những ǵ của Ngài là của ta và
những ǵ của ta Ngài đều nhận vào ḿnh, để
trở thành của Ngài: Sự trao đổi lớn lao
đó là nội dung của cứu độ, là sự
mở toang cái tôi và bước vào cộng đoàn
với Chúa. V́ Maria đă thể hiện Giáo hội đích
thực nơi ḿnh, có thể nói ngài là Giáo hội
bằng xương thịt, nên sự “đồng
cứu độ” đó đă được thể
hiện một cách mẫu mực. Nhưng trên cái “đồng”
đó ta không được quên cái “trước tiên”
của đức Ki-tô: Mọi sự đều đến
từ Ngài, như đă được đề cập
một cách đặc biệt trong thư gởi giáo đoàn
Ê-phê-sô và Kô-lô-xê; và tất cả những ǵ nơi
Maria đều cũng đến từ đức Ki-tô.
Chữ
“đấng cùng cứu độ” có thể sẽ làm
lu mờ cái nguồn cội đó. Một í hướng
đúng được diễn tả bằng một
từ ngữ sai. Chính trong vấn đề đức tin
ta không được đứt đoạn với ngôn
ngữ Kinh Thánh và của các giáo phụ; không được
chế biến ngôn ngữ đó một cách tuỳ
hứng.
Các
Phép Lạ
Không
ai trong Giáo hội được tôn kính như Mẹ Thiên
Chúa, với vô số nhà thờ, bàn thánh, với bao nhiêu
bài hát, kinh cầu, lễ kính và cuộc hành hương.
Hàng ngàn địa điểm hành hương đức
Mẹ trở thành như một mạng lưới tế
bào thần kinh toả khắp thế giới.
Và
xem ra không ai làm nhiều phép lạ như Mẹ. Những
nơi hiện ra treo đầy chứng tích và tài liệu
về những biến cố không giải thích được.
Bernard ở Clairveaux*,
chẳng hạn, gán cho đức Mẹ một năng
lực khó tin: “Cứ cầu Mẹ, và anh / chị
chẳng bao giờ mất hi vọng”. Thưa hồng i,
tất cả đều là phép lạ thật?
Không thể kiểm chứng được hết
mọi biến cố. Thường đó là những
chuyện xẩy ra lạ lùng, nhưng có lẽ không nên
coi tất cả là phép lạ theo nghĩa hẹp. Tuy nhiên,
tất cả những cái đó nói lên ḷng tín thác đặc
biệt của con người nơi Maria. Qua Mẹ, họ
nh́n ra khuôn mặt của Chúa và đức Ki-tô, và
nhờ đó mà họ có thể hiểu được
Thiên Chúa. Những dữ kiện mà anh vừa kể,
một lần nữa cho thấy là qua Mẹ, con người
hiểu được một cách đặc biệt
những bí ẩn của Con Chúa và của Thiên Chúa. Đó
là lí do nói lên ḷng tin sâu xa của con người đối
với Mẹ.
Maria là cánh cửa mở đưa tới Thiên Chúa. Người
ta có thể nói với Mẹ một cách thoải mái, có
thể cầu khẩn ngài với ngôn ngữ và ḷng tin con
trẻ, những chuyện mà ta thường ngại làm trước
mặt đức Ki-tô. Đó là ngôn ngữ của trái
tim. Ngôn ngữ đó, hiện diện ở khắp các
địa điểm hành hương, càng cho thấy
việc Mẹ đă đánh động sâu xa trái tim con người
như thế nào. Đó là thứ đức tin mà đức
Ki-tô bảo là có thể dời non chuyển núi.
Phải chăng các phép lạ thật đă xẩy ra?
đó lại là một chuyện khác. Quan trọng là người
ta có ḷng tín thác sâu xa, và ḷng tín thác đó cũng đă
được đáp trả. Qua sự tín thác đó
đức tin trở nên thật sống động, đến
nỗi nó có thể thấm vào được trong cái
vật lí, vào được trong cái hàng ngày, và qua đó
ta nhận ra được bàn tay nhân lành của Chúa qua
sức mạnh từ ái của Mẹ.
Lấy thí dụ Fatima: Ngày 13.05.2000 giáo chủ Gio-an
Phao-lô II phong ba trẻ đă nh́n thấy Mẹ lên hàng chân
phước. Chính ngài bảo, ngài thoát chết trong
cuộc ám sát ngày 13.05.1981 là do ơn lạ của Mẹ.
Và ngài c̣n nói, biến cố phép lạ đó đă
ấn dấu sâu đậm lên toàn bộ nhiệm ḱ giáo
chủ của ngài.
Việc
ǵ đă xẩy ra? Gần giữa trưa ngày 13.05.1917 ba em
chăn thú tại một miền quê hẻo lánh Bồ-đào-nha
là Lucia (10) cùng hai anh em Jacinta (7) và Francisco (9) đă có
một thị kiến lạ lùng. Các em kể, một
lằn sáng chói chang xuất hiện trên gốc sồi
đá chiếu toả vào “một bà tuyệt đẹp”.
Bà ấy bảo “Các con đừng sợ”, và bà nói
rằng, bà mang đến một sứ điệp hoà b́nh
cho con người. Thoạt tiên câu chuyện đă là tṛ
cười và diễu cợt cho mọi người. Nhưng
vào ngày 13.10 năm đó có khoảng 70 ngàn người
đă tuôn về để được chứng
kiến tận mắt cảnh tượng.
Người
ta kể, sự lạ xuất hiện vào khoảng
giữa trưa. Trời bỗng dưng ngừng hẳn mưa.
Màn mây xé ra và mặt trời bắt đầu xoay tít
quanh nó như một bánh xe quay. Cây cối và con người
bổng như ch́m vào trong ánh sáng huyền diệu đó.
Đám đông la thét, v́ tưởng như sắp bị
mặt trời sa xuống đè bẹp.
Chuyện ǵ thuần khoa học tự nhiên đă
xẩy ra hoặc không xẩy ra ngày 13 tháng 10, ta không
thể kiểm chứng. Quan trọng là con người
đă bị đánh động bởi biến cố có
một không hai lúc đó. Họ đă có thể cảm
nhận có một chuyện ǵ xẩy ra. Và một cách nào
đó, mặt trời đối với họ đă
trở thành dấu chỉ ẩn chứa một bí mật
nào đó.
Sách
Khải-huyền nói về một bà bận áo mặt
trời chân đạp mặt trăng. Thoạt tiên, điều
đó muốn ám chỉ dân Thiên Chúa trong toàn bộ giao
ước cũ và mới, nhưng nó cũng ám chỉ
đặc biệt Maria. Áo mặt trời của bà ám
chỉ đức Ki-tô là ánh sáng thật cho thế gian. H́nh
ảnh đó như vậy nói lên sự gắn bó cội
rễ với đức Ki-tô. Mặt trăng – h́nh
ảnh của sự chóng qua – bị bà dẫm dưới
chân. H́nh ảnh dẫm đạp đó một mặt nói
lên chiều kích lớn lao có thể làm ta khiếp sợ,
nhưng mặt khác cũng cho thấy đó là một
sức mạnh ủi an. Và những ai tới Fatima, Lộ-đức
hay Guadeloupe đều cảm thấy cái lớn lao cũng
như lực ủi an và cứu độ đó.
Nói tới Fatima tất phải nói tới những
“bí mật Fatima”. Đó là những sứ điệp mà
ba em đă nhận được vào năm 1917. “Bí
mật” thứ nhất cho thấy hoả ngục (Các con
đă thấy hoả ngục, nơi những người
tội lỗi đáng thương đang sa chân vào). Bí
mật thứ hai tiên báo việc chấm dứt thế
chiến thứ nhất, nhưng (“Nếu người ta
cứ tiếp tục thoá mạ Thiên Chúa”) một
cuộc chiến “khốc liệt hơn nữa” sẽ
xẩy ra. Bí mật đó cũng báo trước về
cuộc trở lại của Nga-sô. Nhưng chuyện này
chỉ xẩy ra sau khi Gio-an Phao-lô II dâng nước Nga cho
đức Mẹ; và một năm sau ngày dâng đó,
Gorbachow đă mở ra chương tŕnh tái tổ chức
và bức màn sắt đă sập đổ sau đó mười
năm.
Về
bí mật thứ ba, đă có nhiều phỏng đoán
từ nhiều chục năm nay, đặc biệt
phỏng đoán về cuộc tận thế hay ít ra là
một cuộc sụp đổ của Giáo hội. Người
ta bảo, bí mật này chỉ liên quan tới cá nhân giáo
chủ Rô-ma mà thôi, nên không được công bố.
Trong ḱ viếng Fatima lần thứ ba, chính Giáo chủ
đă hé lộ cho thiên hạ biết về bí mật
đó. Hồng i Sodano đă được uỷ thác thông
báo tóm tắt nội dung sứ điệp, ngài cho hay ba
trẻ đă có thị kiến về “một giám
mục mặc áo trắng” đă bị trúng đạn và
ngă chết dưới đất”, và theo hồng i,
sứ điệp này là một tiên đoán về vụ mưu
sát giáo chủ Gio-an Phao-lô II.
Về
cơ bản, sứ điệp Fatima không phức tạp
lắm, mà trái lại. Ba trẻ đă diễn tả
sứ điệp đó như vầy: “Ta là bà dịu
hiền của chuỗi mân côi. Ta đến để con
người được tốt hơn. Con người hăy
chấm dứt việc thoá mạ Thiên Chúa”.
Trên thực tế, sứ điệp rất
đơn giản. Và chị Lucia, người duy nhất c̣n
sống (năm 2000), vẫn luôn coi trọng sự giản
đơn đó, và chị nói, đừng để í
đến những chuyện ǵ khác mà người ta đă
tường thuật, tất cả chung quy lại chỉ là
đức tin, hi vọng và t́nh yêu. Tôi cũng đă
được nói chuyện vắn tắt với chị.
Chị nhấn mạnh với tôi là hăy kể tiếp
chuyện này cho mọi người nghe.
Chị nói : Thoạt tiên thiên thần hiện ra
với chúng con, các ngài dạy cho chúng con tin, cậy,
mến; và nội dung của toàn bộ sứ điệp
kia là chúng ta hăy học lấy những nhân đức
đó. Đó là những ǵ Mẹ Thiên Chúa tập cho ta, và
nhờ đó giúp ta tinh luyện và trở về với Chúa.
Sám hối chính là sự thay đổi cuộc sống, là
việc bước ra khỏi khuynh hướng thời thượng,
một khuynh hướng đẩy ta rời xa Thiên Chúa và
chỉ biết nghĩ tới ḿnh mà thôi. Sám hối là
quay về, là đi ra khỏi ḿnh, là cho ḿnh đi; cho ḿnh
đi tức là t́nh yêu, và rồi t́nh yêu đ̣i buộc
phải có đức tin như là điều kiện, và t́nh
yêu làm nẩy mầm hi vọng.
Tôi tin rằng, tất cả những cuộc hiện
ra đó, nếu quả có thật, không phải là một
cái ǵ bên lề Tin Mừng.
Đó không phải là những thoả măn cho tính hiếu
ḱ và thích chuyện giật gân của ta, nhưng chúng
đưa ta trở về với cái giản đơn và
cơ bản, mà ta thường rất ít để í
đến. Chính ngày hôm nay, với bao phức tạp
của cuộc sống, đạo của chúng ta lại thường
trở nên quá rắc rối, khiến ta nhiều khi
chỉ thấy cây mà chẳng c̣n nhận ra rừng.
Vấn đề lúc này là quay trở về cái tâm điểm
đơn giản, chẳng phải đi đâu khác, mà là
trở về với tin, cậy và mến.
Bộ giáo lí đức tin đă tổ chức một
cuộc họp báo ngày 26.06.2000 để tŕnh bày với báo
giới toàn bộ bản văn liên quan tới cái gọi
là bí mật thứ ba của Fatima. Song song Bộ cũng ra
một tài liệu bằng nhiều thứ tiếng, trong
đó có chụp lại bản văn viết tay của
chị Lucia về bí mật trên, để người ta
hết phải bàn tán về sự trung thực và đầy
đủ của bản văn. Tài liệu tŕnh bày
cẩn thận diễn tiến các thị kiến, các tŕnh
thuật bằng văn bản của chị Lucia cũng như
biên bản về bí mật thứ ba. Cả cái thông báo
của hồng i Sodano cũng được in lại trong
đó; chính tôi trong đó cũng có viết một bài
thử phân tích các bản văn. V́ cuốn sách được
phổ biến rộng răi, nên tôi xin được tóm
tắt đôi ḍng về nội dung.
Thị kiến cho thấy con đường gian nan
của một giám mục bận áo trắng (mà chính ba
trẻ nhận ra là giáo chủ Rô-ma) đang khó nhọc
leo lên một ngọn núi có dựng một cây thánh giá;
con đường dẫn xuyên qua một thành phố
nửa đổ nát. Các giám mục, linh mục, giáo dân và
cuối cùng cả giáo chủ cũng bị giết. Nhưng
máu của những nạn nhân đă được thiên
thần hứng lấy, và máu đó đă làm cho thế
giới sinh hoa kết quả. Ta có thể xem đó là h́nh
ảnh biểu trưng cho Giáo hội tử đạo
trong thế kỉ 20; giáo sư Riccardo (chủ tịch
cộng đoàn Thánh Egidio) mới đây vừa cho ra
một cuốn sách về các vị tử đạo dưới
các chế độ độc tài trong thế kỉ chúng
ta, cuốn sách đă cụ thể hoá một cách hùng
hồn những h́nh ảnh thị kiến. Đọc qua
ba phần của bí mật, ta thấy rơ tâm điểm
của sứ điệp là lời kêu gọi sám hối,
đồng thời sứ điệp c̣n nói lên tính
tự do của lịch sử, nghĩa là lịch sử không
hoàn toàn bất biến theo tiền định, mà có
thể thay đổi đường đi nhờ vào
việc sám hối.
Toàn bộ bí mật là lời thảm thiết kêu
gọi tự do con người hăy sửa ḿnh, và nhờ
đó sửa lại vận hội thế giới; nội
dung bản văn cũng giống như sách
Khải-huyền. Sự kiện Giáo chủ thoát chết có
thể được hiểu như là một dấu
chỉ cho thấy lịch sử có thể diễn tiến
khác đi nhờ lời cầu nguyện.
Giờ
hăy ghé viếng Lộ-đức. Điểm hành hương
lớn nhất thế giới, c̣n lớn hơn cả Mec-ca
nữa, nằm ẩn khuất trong dăy Pyrenée nước Pháp.
Người ta bảo nơi đây từ tháng hai tới
tháng bảy năm 1858 Mẹ đă hiện ra tất
cả 18 lần với Bernadette, và càng ngày càng có đông
người hơn được cùng cô gái xay bột chiêm
ngưỡng sự biến h́nh của Mẹ. Bernadette
thuật lại: “Bà bận áo trắng, đội khăn
trắng, thắt giải khăn xanh và dưới chân có
một bông hồng vàng”. Và theo lệnh Bà, Bernadette đă
lấy tay moi đất và một mạch nước thiêng
từ đó phun lên, hiện nay mỗi ngày phun tới 122
ngàn lít nước.
Nhà văn Do-thái Franz Werfel, khi c̣n nằm trong tù
Quốc-xă, đă hứa nếu sống sót, sẽ
viết về Bernadette, và ông đă thực hiện điều
đó. Lúc này đây người ta chẳng c̣n nhắc ǵ
tới Bernadette nữa. Trước khi mất, chị nói:
“Hẳn quư vị cũng thấy là lịch sử
của tôi rất đơn giản. Đức trinh nữ
đă dùng đời tôi cho ngài. Xong việc th́ người
ta đẩy tôi vào một góc. Đó là chỗ của tôi,
nơi tôi trú ngụ đầy hạnh phúc”.
Câu chuyện Lộ-đức, đối với cá
nhân tôi, quả thật cảm động. Và cũng như
nhiều người khác, nhờ cuốn sách của Werfel
mà tôi hiểu được thêm sự kiện. Qua
cuốn sách, tôi thấy tâm ông Werfel rất gần gũi
với Bernadette. V́ muốn liên đới với dân
tộc do-thái, ông đă không vào công giáo, nhưng dù
vậy tâm ông đă cùng với Bernadette nh́n thấy đức
Mẹ thật, đă tin và đă tín thác vào ngài.
Có lẽ ta chẳng phải dài ḍng luận bàn
về câu chuyện. Cô gái đơn sơ kia, chẳng có
ǵ ngoài một tâm hồn tinh khiết lớn lao, đă có
thể mang bộ mặt Mẹ Chúa Trời – cho dù ngay bước
đầu đă gặp phải sự ngờ vực
hữu lí của giáo quyền - vào một thế giới
lạnh lùng và có xu hướng đông lạnh tinh
thần trong thế kỉ của chủ nghĩa duy lí này,
một thứ duy lí thô lỗ và cả nhuốm màu
chống giáo sĩ. Và với mạch nước ban sự
sống và cứu độ ở Lộ-đức,
Bernadette đồng thời đă minh chứng nơi
Mẹ có lực cứu độ của tạo dựng,
tạo dựng được Mẹ cho sống lại
một cách mới.
Quả là một dấu chỉ đầy í nghĩa,
khi chính trong khung cảnh duy lí này mà một tâm hồn
đơn sơ –đơn sơ nên mới có thể nh́n
thấy - đă giúp con người tái nhận ra được
Ki-tô giáo là một tôn giáo của tâm hồn và là một
thực tại có lực cứu rỗi. Và v́ vậy
ở Lộ-đức con người thường dễ
dàng nh́n ra được nét bí ẩn nơi đức
Ki-tô. Và đấy là một điểm khá tích cực.
Mạch nước cứu độ ở Lộ-đức
nhắc nhở con người về nước rửa
tội, đây mới thật là nguồn nước
mới đức Ki-tô đă ban tặng cho ta.
THIÊN CHÚA
và TRẦN THẾ,
Peter Seewald
Ghi lại trao đổi
với ĐHY Joseph Ratzinger (Đức Giáo Hoàng
đương kim Bênêđictô XVI)
* Nestorius ( ? – 451): Chủ trương đức Giê-su chỉ là một người đă được tiền định mang thiên tính (Ngôi Lời) trong ḿnh (nghĩa là Ngôi Lời và Giê-su là hai thực thể riêng). Như vậy đức Maria chỉ là mẹ của con người Giê-su Ki-tô, chứ không phải là mẹ Thiên Chúa.
* Wolfgang Amadeus Mozart (1756 – 1791): Nhạc sĩ sáng tác thiên tài người Áo, bắt đầu học chơi vĩ cầm và dương cầm, cũng như bắt đầu tập sáng tác lúc 6 tuổi.
* Gioachino Rossini (1792 – 1868): Sáng tác gia nhạc kịch người Í.
* John Henry Newmann (1801 – 1890): Nhà thần học tin lành, người Anh, sau trở lại công giáo làm linh mục và hồng i. Đề tài nghiên cứu chính của ngài là lương tâm. Quan điểm đại kết của ngài ảnh hưởng trên công đồng Vatican II.
* Bernard ở Clairvaux (1091 – 1153): Thánh, người Pháp, tu viện trưởng và thầy (tiến sĩ) Giáo hội. Sáng lập nhánh Xi-tô ở Clairvaux và đă đưa ḍng này lên đỉnh cao phát triển. Người vận động chính cho cuộc thánh chiến thứ hai (1147/49). Có ảnh hưởng lớn trên thần học và cuộc sống tinh thần đương thời.

![]()
![]()
![]()
![]()
![]()
![]()
![]()
![]()
![]()
![]()
![]()
![]()
Diễn Đàn Giáo Dân xin quí vị thêm lời cầu nguyện cho Việt Nam:
có công lư và hoà b́nh, có dân chủ và tự do,
không c̣n bất công và gian dối.