Chứng từ của: Một Tu Sĩ PHẬT GIÁO (Nguyễn Huệ Nhật)

 

 

Tôi vào Chùa tu học

   Từ khi c̣n bé tôi đă thắc mắc tại sao linh hồn người chết có thể về ăn đồ cúng? Tại sao khi sống th́ người ta bất lực nhưng sau khi chết th́ linh thiêng và có thể phù hộ hoặc gieo họa cho bà con thân quyến? Những thắc mắc này thúc đẩy tôi vào Chùa tu học. Trong Chùa có bàn thờ một vị Bồ Tát có nét mặt dữ tợn, cái lưỡi của ông dài hơn lưỡi rắn. Tên ông là Tiêu Diện Đại Sĩ. Theo giáo lư nhà Chùa th́ đây là vị thần cai trị các linh hồn vất vưởng đói rách không được ai cúng thức ăn. Mỗi buổi chiều nhà Chùa cúng một bát cháo lỏng đặt ngay bàn thờ ông Tiêu Diện và tụng bài kinh Thí Thực. Niềm tin này rất thích hợp với người b́nh dân Việt Nam.

   Tôi đă học giáo lư Đạo Phật để t́m giải đáp, nhưng càng học càng có thêm những thắc mắc khó giải thích hơn. Ví dụ có Chùa chuyên làm bùa Quang Minh và bùa Hải Hội, để giải oan cho những linh hồn "nghiệp nặng", chết nhầm vào "ngày xấu". Ngày nay nhiều Chùa bói toán xin quẻ. Là một tu sĩ tôi phải học nhiều giới cấm. Càng nhiều giới cấm người ta càng dễ phạm giới, v́ thế có một giới cấm đặc biệt là tu sĩ cấp dưới không được ṭ ṃ giới luật của tu sĩ cấp trên. Mỗi sáng thức dậy, ai quên đọc câu thần chú trước khi đặt chân xuống đất là mắc tội sát sanh, v́ vô ư đạp chết côn trùng trong ngày đó. Hoặc quên đọc câu thần chú uống nước, là mắc tội ăn thịt 8 vạn bốn ngàn con vi khuẩn trong một ly nước. Cạo đầu mà không đọc thần chú cũng có tội. Ở Chùa ăn nhiều rau, lắm lần tôi thấy sâu chết trong rau muống luộc. Luộc những nồi rau to tướng như thế là giết rất nhiều sinh vật, thế nhưng không ai học câu thần chú luộc rau cả. Ngày xưa Đức Phật cấm nam tu sĩ đứng tiển tiện, nhưng sau đó dân chúng tưởng rằng tất cả đệ tử của Phật là phụ nữ, Đức Phật phải hủy giới cấm ấy để tránh hiểu lầm.

   V́ giới luật nhà tu quá chi li, nên không ai giữ được trọn vẹn một giới luật nào cả. Chẳng ai muốn tiếc lộ sự phạm giới của ḿnh. Đáng tiếc là đạo Phật không nh́n nhận một cách minh bạch về vấn đề tội lỗi. Để phá chập người tu sĩ cấp cao, học về ư nghĩa của sự phi giới và cao hơn nữa là vô phi giới.  Mỗi khi ăn cơm, người tu hành đọc ba câu thề nguyện mà không một ai tin ḿnh làm được. Thậm chí người ta đọc quen đến nỗi không cần một ư niệm tha thiết chân thành.

   *Một là từ bỏ tất cả việc ác (nguyện đoạn nhất thiết ác)

   *Hai là làm trọn tất cả việc lành (nguyện tu nhất thiết thiện)

   *Ba là hóa độ tất cả chúng sanh (thế độ nhất thiết chúng sanh)

   Khi học đến giáo lư cao siêu, tôi được dậy rằng không có tội lỗi, không ai tha tội cho ai, không có Hỏa Ngục, không có Niết Bàn, không ai dựng nên vũ trụ vạn vật mà chỉ do tâm con người tạo ra. Giáo lư Nhà Phật không tin vào Đấng Tạo Hóa, không tin nguyên nhân khởi đầu, mà chỉ tin vào lư nhân duyên điệp trùng tiếp nối, khiến vạn vật lưu chuyển như là đang hiện hữu. Vạn vật vốn là vô thủy vô chung, không có cái ǵ vĩnh cửu (vô thường). Tâm con người chập vào đâu th́ có vào đó, chứ thật ra chẳng có cái ǵ hiện hữu thật sự. Ngay cả tôi đây cũng không phải là tôi. Phần đông tín đồ Phật Giáo không hiểu giáo lư của Phật, mà chỉ nghe theo các vị tu sĩ.

   Đạo Phật cho rằng đời là bể khổ. Có tám nguyên nhân chính gây ra đau khổ. Sinh khổ. Lăo khổ. Bịnh khổ. Tử khổ. Thương yêu mà không được gần nhau là khổ (ái biệt ly khổ). Ghét nhau mà phải gần nhau là khổ (oán tăng hội khổ). Ước muốn không thành là khổ (cầu bất đắc khổ). Thân thể và tâm hồn mất thăng bằng là khổ (ngủ ấm thạnh khổ). Giáo lư quan trọng đầu tiên của Đạo Phật là Chân Lư Của Sự Đau Khổ. Muốn diệt đau khổ th́ phải diệt sanh sản (diệt dục), diệt ǵa nua (diệt lăo), diệt bịnh tật, diệt sự chết. Nhưng chưa đủ, c̣n phải diệt thương yêu (ái nghiệp), diệt ham muốn (tham), diệt giận hờn (sân si). Muốn diệt khổ tuyệt đối th́ phải diệt luôn cả ư muốn thành Phật (v́ ai muốn thành Phật là c̣n tham). Đạo Phật tin vào luật quả báo, thiện ác, nhưng không chấp nhận ai là Đấng tạo ra luật quả báo, thiện ác, công minh, cũng không giải thích luật nhân quả công minh này từ đâu mà ra.

   Tôi cần mẫn học từng bậc, đến khi tốt nghiệp trường đào tạo tăng tài Phật Học Viện Nha Trang và Đại Học Vạn Hạnh, tôi tự cảm thấy ḿnh đi tu như thế vẫn không tiêu diệt bớt tội lỗi trong tôi. Chưa kịp tiêu diệt tội cũ, tội mới ló mặt ra trong tôi. Nếu có Hỏa Ngục, chắc tôi phải vào trước nhất. Làm một ông thầy tu phải biết che dấu tội lỗi để được các đệ tử thờ lạy khi ḿnh c̣n sống. Người tu hành sau khi đă lên đến bực Đại Đức, th́ khó hoàn tục v́ được sự kính trọng quá cao và hưởng nhiều ưu đăi quá lớn.

 

Tôi cởi áo nhà tu

   Tự xét ḿnh, tôi đă từng thất vọng trong con đường tu. Đă có khi tôi cảm thấy cần t́m một cái chết tự thiêu, để giảỉ quyết ngơ bí trong tâm hồn ḿnh. Sau khi đọc hai quyển sách của nhà văn Hermann Hesse: Narsiz and Goldmund và Siddhata, tôi liều lĩnh cởi bỏ chiếc áo thầy tu, để ra đời t́m hiểu những ư nghĩa mà tôi thắc mắc.

   Nhưng sau 15 năm quen sống trong chiếc áo tu hành, tôi trở thành người thanh niên khờ khạo, vụng về, không thăng bằng và thất bại. Năm 1973, sau khi thôi tu chừng một năm, tôi cưới vợ, nhưng gia đ́nh tôi bị đổ vỡ rất sớm. Tôi trở lại tu theo Pháp Môn Thiền Định. Pháp môn này, đă giúp tôi có bản lĩnh để nh́n biết một số phản ứng nội tâm, khi thân thể ḿnh ngồi tĩnh lặng. Hơn hai năm Tu Thiền trước 30 tháng 4 năm 1975, tôi tiếp tục ngồi thiền chăm chỉ trong nhà tù cộng sản. Pháp Môn Thiền Định đă giúp tôi gặp Phật, gặp Chúa, gặp ông Ghandi, và gặp vô số loài vật cũng như bà con thân thuộc của ḿnh trong quá khứ mù mờ. Hồi đó tôi nghĩ: h́nh như họ là kiếp trước của tôi. Phái Thiền Pháp Hoa Hội Thượng gọi đó là mật pháp. Nhiều bạn thiền của tôi cũng đạt đến kết quả như thế. Cũng có người cho đó là hư tưởng trong trạng thức của ḿnh. Càng ngồi thiền siêng năng tôi càng muốn rời bỏ thế gian để t́m hiểu cái ǵ sẽ xẩy ra sau khi ḿnh chết. Ư nghĩ tự tử càng dễ xuất hiện trong tôi. Nhưng trên thực tế, lắm khi tôi sống buông thả tệ hại.

   Sau khi ra khỏi nhà tù cộng sản, tôi lại lập gia đ́nh, nhưng không ngờ gặp nhiều điều ngang trái khác. Thế là gia đ́nh tôi lại đổ vỡ lần nữa. (Xin quư vị đọc hai quyển sách: “Ai Chết Cho Ai? Ai Sống Cho Ai?” và “Từ Áo Cà Sa Đến Thập Tự Gía” để thấy rơ những chi tiết này hơn.)

 

Tôi đọc Thánh Kinh

   Tôi đă đi tu, đă t́nh nguyện tự thiêu, đă ra đời lấy vợ, tu thiền và thất bại... Một cuộc đời rắc rối đầy rủi ro và thất bại như thế th́ chẳng có ǵ đáng sống nếu theo con mắt phàm tục. Nhưng trong hoàn cảnh bi đát ấy, tôi đă được nhà thơ Bùi Giáng khuyên nên đọc Thánh Kinh.

   Lúc đầu tôi không có thiện cảm với Thánh Kinh, nhưng lạ thay, càng đọc Thánh Kinh, tôi càng thấy lời dậy của Thiên Chúa rơ ràng và thực tế hơn giáo lư Nhà Phật. Thánh Kinh nói về sự sáng tạo vũ trụ và Đấng Sáng Tạo, trong khi Đạo Phật dậy rằng không ai dựng nên vũ trụ mênh mông vô lượng này cả, mà chỉ do tâm con người chấp có nên mới có. Thánh Kinh dậy rằng Thiên Chúa là T́nh Yêu, trong khi Đạo Phật dậy rằng yêu là một sự cảm thọ, là ái nghiệp. Thiên Chúa dậy về tội lỗi, nguồn gốc của tội lỗi, quyền năng tha tội và cách giải quyết vấn đề tội lỗi tận gốc để chiến thắng điều ác. Nhưng Đạo Phật dậy rằng tội bổn tánh không (tội lỗi vốn là không), không ai tha tội cho ai, con người phải tự ḿnh thắp đuốc lên mà đi. Thiên Chúa dậy phải hiếu kính cha mẹ khi họ c̣n sống với ḿnh, c̣n Đạo Phật dậy cắt ái từ sở thân (ĺa bỏ t́nh thương cha mẹ) như Đức Thích Ca đă ĺa bỏ cha mẹ, vợ con; nhưng lại thờ cúng cha mẹ sau khi họ đă qua đời. Thiên Chúa dậy chúng ta lấy thân thể ḿnh làm đền thờ Ngài, nhưng Phật Giáo dậy sự thờ phượng h́nh tượng trên bàn thờ gỗ, đá, xi măng. Thiên Chúa dậy con người dâng lời cầu nguyện để mở ḷng tương giao với Thiên Chúa, nhưng Phật Giáo dậy dâng nhan đèn, trầm hương lễ vật lên h́nh tượng, để bày tỏ ḷng thành. Thiên Chúa mặc khải Ơn Cứu Rỗi để giải phóng con người ra khỏi bản tính tội lỗi trước, rồi sẽ học làm điều lành sau; nhưng Phật Giáo dậy rằng con người phải giữ giới cấm, để tự làm cho ḿnh trở nên toàn thiện, không cần Ơn Thiên Thượng.

   Trên thực tế, con người dễ làm điều ác - khó làm điều lành. Có những tu sĩ thật tâm tu niệm, họ tự cấm khẩu hàng tháng trời, cũng có vị tự nhập thất giam ḿnh hàng tháng trong pḥng kín để ngồi thiền hoặc tụng kinh. Nhưng bản chất của tội lỗi trong con người không thể xóa sạch bằng hành vi hăm ḿnh khổ hạnh. Lắm khi v́ hăm ḿnh khổ hạnh, người tu sĩ vấp phải những tội "kỳ cục" hơn người ngoài. Trong giới tu sĩ Phật Giáo có nhiều người tốt, nhưng người tốt chưa hẳn là người chiến thắng tội lỗi của ḿnh. Thậm chí có người biết ḿnh tu không được, đă từng đốt từng ngón tay để thề nguyện, quyết tâm tu; hoặc tự chặt đứt bộ phận kín của ḿnh, nhưng sau đó vẫn phạm giới rất thê thảm. Chỉ có người quyết chí đi tu mới phải đau ḷng khi thấy ḿnh không làm sao tu được. Nhưng đa số tu sĩ khó rời chiếc áo tu, v́ quyền lợi của một bậc tu hành trong Phật Giáo quá lớn. Người Phật Tử phải thờ ba ngôi Tam Bảo: Phật Bảo (tất cả các Đức Phật), Pháp Bảo (tất cả giáo lư nhà Phật), Tăng Bảo (hàng ngũ tu sĩ). Hồi đó tôi sợ nhất là ḿnh được xếp vào Hàng Ngũ Đáng Tôn Thờ, v́ tôi nghĩ đây là lư do khiến tôi dễ vào hỏa ngục nhất. Khi ngồi trên cao cho hằng trăm người khác lạy, làm sao người ta thể hiện đức khiêm nhường và vô ngă trong thâm tâm?

 

Cầu nguyện Thiên Chúa có kết quả, tôi phải tin

   Khi đọc Thánh Kinh, tôi thấy lời Thiên Chúa dậy rơ ràng và đơn giản. Nếu ḿnh thật ḷng thực hành là có thể thấy kết quả đúng hay sai. Lúc đầu tôi chỉ làm thử; nếu đúng tôi tin, nếu sai tôi bỏ Thánh Kinh. Sau khi tôi đă thử cầu nguyện âm thầm một ḿnh, theo lời dậy của Thiên Chúa trong Sách John: 13:13,14. Thiên Chúa đă ban cho tôi những phép lạ thật kỳ diệu và thật là cụ thể. Bước đầu tiên tôi không dám tin lắm, nhưng nhiều lần cầu nguyện có kết quả tôi phải tin. (Xem thêm hai quyển sách nói trên). Ngày nay tôi sống trong Đức Tin của Thiên Chúa, sự cầu nguyện và kết quả của sự cầu nguyện chẳng khác ǵ ḿnh thụ hưởng thức ăn điều độ và hít thở khí trời trong lành, ắt phải có sức khẻo tốt cho ḿnh mà thôi. Sau khi trở về với Thiên Chúa, tôi được Thiên Chúa thay đổi bản tính tội lỗi, để được mặc vào bản tính mới: tự do, nhẹ nhàng, khoan khoái thật là tuyệt vời. Thiên Chúa cho tôi đắc thắng tội lỗi mà không kiêu ngạo và Thiên Chúa cũng cho tôi thấy cái vực thẳm giữa sự thánh khiết và tội lỗi là rất mong manh, nhưng hai thế giới ấy cách xa nhau lắm.

   Mỗi ngày sống trong T́nh Yêu Thiên Chúa quả thật là quư báu. Dù bị thế gian bắt bớ hiểu lầm, bị xuyên tạc, tôi vẫn là một người hạnh phúc và yêu quư mọi người. Không thất vọng, không nghi ngờ, tôi vui thỏa từng giờ, từng ngày. Đó là sự B́nh An, sự yên nghỉ mà Thiên Chúa hứa ban cho bất cứ ai muốn đi theo Ngài. Tôi tiếp tục sống với Lời Chúa và nhận được những kết quả vô cùng lớn lao. Khi cầu nguyện linh hồn tôi b́nh tĩnh, tỉnh táo, nhẹ nhàng, khiêm hạ và thực tế chứ không mù mờ như khi Ngồi Thiền trước đây. Bổn tánh nhân từ thánh khiết của Thiên Chúa, được bồi đắp thêm trong con người mới của tôi mỗi ngày rất cụ thể. Đây là những kết quả quư báu, để làm bằng chứng về nước Thiên Đàng mai sau như lời Thiên Chúa hứa.

 

Đối chiếu Phật Học và Thánh Kinh

   Đối chiếu Phật Học và Thánh Kinh, nhất là kinh nghiệm tu hành theo Đạo Phật với kết quả kỳ diệu trong Đức Tin Thiên Chúa ban cho tôi, tôi nhận thấy rằng Thái Tử Tất Đạt Đa là một người thiết tha t́m con đường Giải Thoát, sau bốn lần ra khỏi Cung Vua để nh́n thấy cuộc đời toàn là đau khổ. Với bản tính một người Ấn Độ, Thái Tử đă suy niệm sâu xa về sự huân tập đức tánh xấu trong con người, nhưng Thái Tử chưa thấu đạt nguyên nhân của sự huân tập ấy, là tội lỗi của con người như Thánh Kinh đă nói rơ. V́ thế Thái Tử cho là Nghiệp Lực thay v́ là Tội Lỗi.

   Tiếc thay thời đó "Thánh Kinh Cựu Ước" chưa được truyền qua Ấn Độ, mặc dù Thái Tử đă học nhiều tôn giáo khác nhau. Là một người thông minh vượt bực, lại có lương tâm nhạy bén, Thái Tử Tất Đạt Đa không thỏa măn với những luồng tư tưởng và tôn giáo nặng thần bí theo văn hóa Ấn Độ. Sáu năm đầu sau khi từ bỏ Hoàng Cung để quyết chí tu học, Thái Tử đă thất bại với Pháp Môn Khổ Hạnh Đầu Đà. Rốt cuộc Thái Tử Tất Đạt Đa cương quyết Ngồi Thiền bên bờ sông Ni Liên. Ngài thề rằng: "Nếu Ta không t́m ra chân lư thà chết chứ không đứng dậy khỏi chỗ này". Khi ngồi thiền, Thái Tử đă thấy những hiện tượng nội tại như ngày nay nhiều người ngồi thiền cũng đă thấy. Từ đó Ngài nghĩ rằng ḿnh đă thành Phật. (Ngày nay nhiều người ngồi thiền cũng đă tự xưng ḿnh đă thành Phật). Giáo lư của Ngài đă bị các thế hệ sau thêm thắt quá nhiều, khiến cho mâu thuẫn và bị mê tín hóa. Ví dụ Phật Giáo Việt Nam có nhiều điều không bà con ǵ (giống) với Phật Giáo Ấn độ. Các bộ kinh của Phật chỉ được truyền khẩu qua nhiều thế kỷ, trước khi được ghi lại bằng trí nhớ của môn đệ. Đó là lư do khiến Kinh Phật bị thất bản và bị thêm thắt thành "thiên kinh vạn quyển" khiến nhiều người học đạo đă lạc đường rồi mà vẫn chưa hay biết ǵ cả, hoặc có biết phần nào cũng cam chịu nhắm măt đưa chân. Phần đông người ta không đủ can đảm để tự hỏi đâu là Chân Lư ngoài các nghi thức cố chấp và triết lư mơ hồ. V́ không có Chân Lư, những mâu thuẫn sờ sờ cũng không ai màng che đậy. Ví dụ Nghi Thức Quy Y th́ có ba câu thề nguyện, câu đầu là "Quy Y Phật, tôi thề sẽ không Quy Y, Trời, Thần, Quỷ Vật, nhưng câu nói đầu tiên ở cửa miệng người ta là "Cầu Trời... Khẩn Phật." Nghĩa là Cầu Trời trước, Khẩn Phật sau. C̣n thờ lạy th́ thờ lạy đủ các loại thần mà họ không biết, kể cả thần Quan Công, thần Hộ Pháp, thần Chú, thần Hoàng Thổ Địa, thần Cô Hồn Các Đảng.

 

Kinh nghiệm theo Thiên Chúa của tôi

   Sau hơn hai mươi năm theo Thiên Chúa, mọi thắc mắc của tôi đă được Thánh Kinh giải đáp cả ba mặt: thân thể, tâm trí và tâm linh. Tôi đă nhận được nhiều phép lạ lớn lao. Bản thân tôi được Thiên Chúa chữa lành bịnh đau bao tử, bịnh trầm uất. Con trai tôi đă bị sốt xuất huyết tắt thở, được Thiên Chúa chữa lành đang khi cầu nguyện. Những thói hư tật xấu của tôi được loại bỏ, để được thay thế vào những đức tánh mới mẻ, nhân từ, thánh khiết từ Đức Chúa Trời mà tôi không cần phải khổ công tu luyện như trước đây.

   Giải đáp lớn nhất đối với tôi là sự hiện diện của Chúa Thánh Linh trong con người vốn tầm thường yếu đuối của tôi, để làm cho tôi nên mạnh mẽ. Thiên Chúa đă cho tôi thấy nhiều giấc mơ tuyệt diệu, nhưng riêng tư và thực tế đến nỗi khó tả cho ai biết. Tôi giữ chứng cớ Ngài trong ḷng một cách kín nhiệm và hạnh phúc hân hoan. Thiên Chúa cho tôi chứng cớ của Ngài một cách thực tế đến nỗi ai phịa ra lời chứng dối là khó che dấu được với Ngài trong tôi, giống như ai đă biết ba tôi và nói với tôi rằng đă gặp, đă quen, đă sống với ông cụ là tôi biết ngay người đó nói thật đến mức độ nào. Thiên Chúa đă cho tôi kinh nghiệm sống để biết Thánh Kinh là Lời Hằng Sống trong năng quyền của Chúa Thánh Linh chứ không phải là lư thuyết suông. Để mặc khải Ơn Tha Thứ, trước hết Ngài đă tha tội cho tôi. Để mặc khải T́nh Yêu thiêng liêng, trước hết Ngài đă yêu thương tôi và gánh chịu tội lỗi cho tôi trên thập gía.

   T́nh Yêu của Thiên Chúa là một bản tính thực tế đầy hiệu năng trong cuộc sống thường nhật, chứ không chỉ là một sự diễn tả bằng lời nói hay chữ viết. Với những bằng chứng thực tế này, tôi quả quyết tiếp tục vui mừng và tin cậy Thiên Chúa như những ǵ Ngài dậy trong Thánh Kinh, dù hôm nay tôi chưa nh́n thấy hết. Chúa Giêsu nói: "V́ ngươi thấy Ta nên ngươi tin; phước cho kẻ chẳng thấy mà tin". Ôi Lời Chúa thật là tuyệt vời! Cảm tạ Thiên Chúa.

   Thánh Kinh nói: "Tiền công của Tội Lỗi là Sự Chết; nhưng sự ban cho của Đức Chúa Trời là sự sống đời đời trong Đức Chúa Jesus Christ, Chúa chúng ta (Roma 6:23). Thiên Chúa dậy rằng tội lỗi di truyền trong ḍng dơi loài người sau khi tổ tiên của chúng ta đă phạm tội. Chúng ta có thể tu và sửa cái phong cách bề ngoài cho tốt đẹp, nhưng bản tính tội lỗi bên trong th́ không thể nào tự sửa chữa được. V́ thế Thiên Chúa ban Con Một của Ngài đến thế gian để gánh cái Ách Tội Lỗi cho chúng ta.

   Điều đáng tiếc là c̣n nhiều người đang khước từ Ơn Cứu Rỗi của Thiên Chúa. Ai muốn giải quyết nguồn gốc tội lỗi th́ phải quay về với Thiên Chúa, Đấng dựng nên chúng ta. Ngài có quyền xét đoán chúng ta và cũng có quyền tha thứ cho chúng ta. Thiên Chúa ban cho chúng ta H́nh Ảnh của Ngài, nhưng chúng ta phạm tội nên đă đánh mất H́nh Ảnh thiêng liêng của Ngài trong chúng ta. Thánh Kinh nói: "V́ mọi người đều đă phạm tội, nên đă thiếu mất sự vinh hiển của Đức Chúa Trời (Roma 3:23)

   Đức Chúa Trời yêu con người dù con người đă phạm tội. Nhưng Đức Chúa Trời không chấp nhận tội lỗi, nên Ngài đă lập Kế Hoạch Giải Cứu con người ra khỏi tội lỗi. Giải pháp của Ngài có hai phần chính: tha thứ tất cả các vi phạm đă qua từ trong bản chất đến hành vi, và dẫn dắt chúng ta vào sự sống mới để thắng tội lỗi. Tất cả giải pháp của Ngài đều đặt trong Con Một của Ngài là Chúa Cứu Thế Jesus Christ. Chúa Jesus Christ xác nhận rằng: "V́ Đức Chúa Trời yêu thương thế gian, đến nỗi đă ban Con Một của Ngài, hầu hễ ai tin vào Con Người ấy, th́ không bị hư mất mà được sự sống đời đời" (John 3:16)

   Chúa Jesus Christ đă xuống thế gian 2000 năm trước. Ngài đă chết trên thập tự giá để sự chết cứu chuộc của Ngài là nơi mà chúng ta đem tội lỗi ḿnh đến để đặt vào bằng tấm ḷng ăn năn và tin cậy. Ai tin vào Ơn Cứu Chuộc của Ngài, th́ tội lỗi người ấy bị đóng đinh để đồng chết với Chúa Jesus Christ trên thập tự giá. Nhưng Ngài là Đấng đến từ Đức Chúa Trời, nên Đức Chúa Trời đă cho Ngài từ kẻ chết sống lại. Quyền năng sống lại của Ngài đem đến cho kẻ tin Ngài sức sống Phục Sinh mới mẻ. Nhờ sức sống Phục Sinh mới mẻ này, con người chúng ta biết được H́nh Ảnh của Đức Chúa Cha trong chúng ta vốn bị tội lỗi che lấp. H́nh Ảnh của Thiên Chúa được tái dựng trong chúng ta, để chúng ta tái sở hữu bằng chứng của địa vị làm Con Đức Chúa Trời.

   Nếu chúng ta không trở về với Thiên Chúa, nghĩa là chúng ta vẫn để tội lỗi cai trị chúng ta và tội lỗi ngăn cách t́nh Cha Con của Đức Chúa Trời và chúng ta. Nếu khước từ Ơn Tha Tội của Thiên Chúa, chúng ta sẽ vào hỏa ngục sau khi chết phần xác. Ví dụ một đứa con từ bỏ cha mẹ, dù nó ăn chay trọn đời vẫn mang tội bất hiếu. Một người từ chối Thiên Chúa, Đấng tạo nên ḿnh, dù có tự đặt ra cho ḿnh bao nhiêu giới tu, bao nhiêu giới luật, vẫn là một người có tội với Đấng Tạo Hóa. Trước hết phải quay ḷng về với Thiên Chúa, sau đó mới nói tới chữ "tu thân - tích đức" theo sự dắt dẫn của Chúa Thánh Linh.

 

   Kính thưa quư vị,

   Khả năng con người có giới hạn, đặc biệt khả năng làm điều lành của con người th́ quá ít ỏi và rất chủ quan. Chúng ta chỉ học theo ư tưởng của loài người để làm lành, nhưng chúng ta vô t́nh vẫn làm những điều ác mà ḿnh không biết. Vậy điều lành đúng nhất là điều lành trong Thiên Chúa. Đức Chúa Trời là Đấng Tạo Dựng ra vũ trụ và loài người. Các vĩ nhân như Khổng Tử, Lăo Tử, Trang Tử, Phù Đổng Thiên Vương, Đức Thánh Trần, Đức Thích Ca đều là người như chúng ta, v́ thế những tư tưởng và đạo lư của họ vẫn có giới hạn nhất định, điều đó không có ǵ đáng ngạc nhiên cả. Thánh Kinh ghi rằng ư tưởng của Đức Chúa Trời là vô cùng cao siêu không giống như ư tưởng của loài người. Và chỉ có Một Đức Chúa Trời, là Thượng Đế, là Thiên Chúa, là Đấng dựng nên tất cả, là Đấng tha tội cho ai ăn năn, là Đấng xét đoán bất cứ ai cứng ḷng và vô tín. Dù chúng ta chấp nhận có hay không, Thiên Chúa Hiện Hữu cũng đă dựng nên tất cả rồi.

   Hơn 20 năm trở về trong Đức Chúa Trời, tôi được Ngài giải đáp tất cả những thắc mắc nội tâm, được Ngài tái sinh thành con người mới trong tâm linh, được sống hạnh phúc thỏa ḷng trong T́nh Yêu siêu thoát của Ngài. Tôi kinh nghiệm được quyền năng và sức sống Phục Sinh của Chúa Jesus Christ. Bất cứ ai quay ḷng về với Chúa Jesus Christ đều được Ngài tái lập làm Con Đức Chúa Trời, được nếm trải T́nh Yêu thiêng liêng của Thiên Chúa và được sống hạnh phúc thỏa ḷng. Kinh nghiệm sống hạnh phúc và đắc thắng tội lỗi là vô cùng tuyệt vời.

   Mặc dù hơn 20 năm qua bị thử thách, bị bắt bớ, bị hiểu lầm trong xă hội Việt Nam, nhưng tôi vẫn là một người hạnh phúc, không thất vọng, không oán than như ngày trước. Những thất bại, những thiệt tḥi của tôi ngày trước đều được Thiên Chúa ban lại những thành công thiêng liêng đầy hạnh phúc hôm nay. Khi ở trong T́nh Yêu của Thiên Chúa, cuộc đời chúng ta thật là đáng quư, đáng được hưởng những phước hạnh trần gian và phước hạnh thiêng liêng. Đạo Phật nói đời là bể khổ. Giáo lư này chỉ đúng trên mặt tiêu cực của những người không tiếp nhận đức tin Con Đức Chúa Trời trong Chúa Jesus Christ mà thôi. Thật ra đời c̣n nhiều điều đáng hưởng, v́ thế ai cũng thích sống lâu. Trong Chúa Jesus Christ cuộc đời rất đẹp quư vị ạ. Có thể một vài anh em trong hàng ngũ Phật Giáo cực đoan, cảm thấy khó chịu khi đọc bài làm chứng này. Nhưng đó là bản tính con người b́nh thường, vừa tốt vừa xấu, vừa đúng vừa sai trong mỗi chúng ta. Tội lỗi rất tinh vi, nó khiến chúng ta ưa phân rẽ, ưa hận thù v́ những khác biệt về tôn giáo, văn hóa, dân tộc... Mọi tôn giáo, văn hóa và dân tộc giữa thế gian này đều tạm bợ. V́ thế gian là cơi tạm. Thế gian có quá nhiều tín ngưỡng. Tín ngưỡng này thờ Khỉ, tín ngưỡng kia thờ Ḅ, tín ngưỡng nọ thờ Chuột, tín ngưỡng ấy thờ H́nh Tượng, lại có tín ngưỡng thờ Vĩ Nhân, thờ B́nh Vôi, thờ Ông Táo, thờ Cây Đa... nhưng thảy đều thờ những tạo vật hữu hạn hoặc vô tri. Thánh Kinh dậy chúng ta phải hết ḷng, hết trí khôn thờ phượng Đức Chúa Trời là Đấng dựng nên chúng ta. Chúa Jesus Christ đến từ Thiên Chúa Cha để mặc khải Đức Chúa Trời cho chúng ta.

 

   Tôi thành tâm tha thiết kêu gọi anh chị em từ mọi tôn giáo, văn hóa và dân tộc nên mạnh dạn trở về với Thiên Chúa trong Chúa Jesus Christ để nhận Ơn Tha Tội, để được Tái Sinh, để được sống đời đời và được nhận lại bản tính nhân lành của Cha Thiên Thượng. Bất cứ ngày nào c̣n sống, tôi muốn nói lên chân lư này, và bất cứ lúc nào ĺa khỏi xác thân để về với Thiên Chúa là tôi được hưởng nước trời vĩnh cửu.

   Biết Thiên Chúa và gặp được Ngài là vô cùng hạnh phúc, không ai có thể ngậm miệng, không ai nỡ mặc nhiên chấp nhận những ư kiến chung chung cho rằng "đạo nào cũng tốt, đạo nào cũng dậy làm lành lánh dữ". Thế gian có nhiều tôn giáo mê tín sai lầm, cũng có tôn giáo dậy điều sai lạc, nếu không dứt khoát trở về với Thiên Chúa, con người chúng ta không thể giải quyết được vấn đề tội lỗi của ḿnh và chỉ tiếp tục sống trong mù mờ tăm tối cho đến khi linh hồn hư mất trong tối tăm.

 

   Kính mong quí anh chị em sớm t́m hiểu và trở về với Thiên Chúa trong Chúa Jesus Christ để được hưởng hương vị Thiên Đàng ngay ngày hôm nay. 

   Muốn thật hết ḷng.

 

   Nguyễn Huệ Nhật

 

 

Đáp lời: Ông Bần Tăng Ăn Mày Thế Kỷ (Huệ Nhật)

 

 

   

 

 

 Diễn Đàn Giáo Dân xin quí vị thêm lời cầu nguyện cho Việt Nam:

có công lư và hoà b́nh, có dân chủ và tự do,

không c̣n bất công và gian dối.